Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011
Kinh nghiệm sự chết của cha Jose Maniyangat
Tôi sinh ngày 16 tháng 7 năm 1949 tại Kerala, Ấn Độ. Cha mẹ của tôi là Joseph và Theresa Maniyangat. Tôi là người con lớn nhất trong 7 anh chị em: Jose, Mary, Theresa, Lissama, Zachariah, Valsa và Tom.
Vào năm 14 tuổi, tôi gia nhập tu viện St. Mary ở Thiruvalla. Bốn năm sau đó, tôi đổi sang tu viện St. Joseph ở Alwaye, Kerala để tiếp tục đời tu. Sau 7 năm triết học và thần học, tôi được thụ phong linh mục vào ngày 1 tháng 1 năm 1975. Sau đó, tôi làm công tác truyền giáo ở Giáo Phận Thiruvalla.
Vào năm 1978, trong thời gian tôi đang dạy ở tu viện St. Thomas ở Bathery, tôi là một thành viên hoạt động trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Kerala và bắt đầu tổ chức các cuộc tĩnh tâm, đại hội của phong trào Canh Tân Đặc Sủng ở Kerala.
Vào Chúa Nhật Lễ Kính Lòng Thương Xót ngày 14 tháng 4 năm 1985, khi trên đường đi dâng lễ cho một nhà thờ phía bắc ở Kerala, tôi đã bị tai nạn thật khủng khiếp. Tôi đang lái xe gắn máy bị một người say rượu lái chiếc xe jeep đụng vào đầu xe. Sau đó người ta chuyển tôi tới bệnh viện cách xa khoảng 35 dặm. Trên đường tới bệnh viện, linh hồn tôi đã lìa khỏi xác, và tôi đã cảm nghiệm được sự chết. Ngay lúc đó, tôi gặp Thiên Thần bản mệnh. Tôi được nhìn thấy thân xác của tôi và những người đưa tôi đến bệnh viện. Tôi nghe tiếng họ đang khóc và cầu nguyện cho tôi. Lúc đó Thiên Thần bản mệnh nói với tôi rằng: “Tôi sẽ đưa cha lên Thiên Đàng; Thiên Chúa muốn gặp và nói chuyện với cha.” Thiên Thần bản mệnh cũng nói với tôi trên đường đi sẽ cho tôi thấy Hỏa Ngục và Luyện Ngục.
Trước tiên, Thiên Thần dẫn tôi tới Hỏa Ngục. Thật là một cảnh rất khủng khiếp! Tôi đã nhìn thấy Satan và các quỷ dữ với độ nóng phừng phực khoảng 2000 độ F, giòi bọ bò lúc nhúc, người ta la hét và chửi bới, một số khác đang bị tra tấn bởi quỷ dữ. Thiên Thần bảo tôi những người này đã mắc tội trọng mà không ăn năn hối cải khi còn sống. Tôi đã hiểu ở đó có 7 mức độ đau đớn của hình phạt khác nhau tuỳ theo tội trọng mà họ đã phạm khi còn sống, linh hồn họ rất xấu xí, độc ác và kinh khiếp. Đó là một kinh nghiệm đáng sợ. Tôi có nhìn thấy một số người quen nhưng tôi không được phép nêu tên của họ. Những tội bị rơi vào Hỏa Ngục chính yếu là các tội: phá thai, dâm dục, trợ tử, ghen ghét, không tha thứ và phạm thánh. Thiên Thần bảo tôi rằng, nếu những người này thống hối trước giờ chết thì họ có thể tránh được Hỏa Ngục, chỉ phải đền bù ở Luyện Ngục. Tôi còn hiểu rằng một số người hối cải chịu đau khổ để đền tội ở đời này. Bằng cách đó, họ sẽ tránh được luyện ngục và được lên thẳng Thiên Đàng.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy có cả các linh mục và giám mục ở Hỏa Ngục. Trong số những người đó, một số người tôi không bao giờ dám nghĩ họ sẽ bị sa Hỏa Ngục. Những giám mục và linh mục này bị sa Hỏa Ngục vì đã giảng dạy sai lầm và làm gương xấu.
Sau khi thăm Hỏa Ngục, Thiên Thần đưa tôi đến Luyện Ngục. Ở đây cũng vậy, có 7 mức độ hình phạt và lửa cháy phừng phực khác nhau. Nhưng ở Luyện Ngục thì không khủng khiếp như ở Hỏa Ngục. Người ta không tranh giành và chửi bới. Nỗi đau khổ chính của họ là không được chiêm ngắm Thiên Chúa. Một số người trong Luyện Ngục họ mắc tội trọng nhưng họ đã ăn năn thống hối với Chúa trước khi chết. Mặc dù những linh hồn này đang chịu hình phạt, họ vẫn cảm nhận sự bình an và họ biết rằng ngày nào đó họ sẽ được hưởng thánh nhan Chúa. Tôi đã được phép nói chuyện với linh hồn ở Luyện Ngục. Họ xin tôi và mọi người cầu nguyện cho họ để họ sớm được về Thiên Đàng. Khi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục, họ sẽ nhớ ơn và cầu nguyện lại cho chúng ta khi họ về Thiên Đàng.
Thật rất khó mà diễn tả Thiên Thần của tôi đẹp như thế nào. Thiên Thần sáng như ánh hào quang. Thiên Thần luôn đồng hành với tôi trong công việc mục vụ, đặc biệt là mục vụ chữa lành. Thiên Thần luôn đi với tôi bất cứ nơi nào và tôi rất biết ơn về sựbảo vệ của thiên thần cho đời sống của tôi.
Kế tiếp, Thiên Thần đưa tôi lên Thiên Đàng. Chúng tôi băng qua con đường hầm sáng láng. Tôi chưa bao giờ cảm nghiệm được sự bình an và hoan hỉ bằng lúc này. Ngay tức khắc, tôi nghe thấy điệu nhạc du dương những Thiên Thần đang ca hát và tôn thờ Chúa. Tôi nhìn thấy những vị Thánh đặc biệt là Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, nhiều giám mục và linh mục thánh thiện. Những vị này sáng láng như các vì sao. Khi tôi đến trước mặt Chúa, Chúa Giêsu bảo tôi “Cha muốn con trở lại trần gian, trong cuộc sống thứ hai của con, con sẽ trở nên dụng cụ hòa bình và chữa lành cho mọi người, con sẽ đến một nơi đất lạ và con sẽ nói tiếng nước ngoài, mọi sự sẽ được Cha chúc phúc.” Sau những lời đó, Đức Mẹ Maria bảo tôi “Con hãy làm những gì Chúa bảo con, Mẹ sẽ giúp con trong công việc mục vụ của con.”
Không một ngôn từ nào có thể diễn tả được sự đẹp đẽ của Thiên Đàng. Nơi đó chúng ta đầy tràn bình an và hạnh phúc vượt quá hằng triệu lần sự tưởng tượng của chúng ta. Thiên Chúa rất là tốt đẹp hơn bất cứ sự tưởng tượng nào. Mặt của Ngài thì sáng láng và rực rỡ hơn ngàn lần ánh sáng của mặt trời. Những bức tranh mà chúng ta nhìn thấy ở thế giới này chỉ là những bóng mờ so với sự lộng lẫy của Ngài. Bên cạnh Chúa Giêsu là Mẹ Maria, Mẹ rất đẹp và sáng láng. Không có một hình ảnh nào trên thế giới có thể so sánh với vẻ đẹp thật sự của Mẹ. Thiên Đàng là quê thật của mỗi người chúng ta. Chúng ta cố gắng trở về Thiên Đàng và hưởng hạnh phúc nhan thánh Chúa mãi mãi. Sau đó tôi cùng Thiên Thần trở lại trần gian.
Lúc xác tôi còn nằm ở bệnh viện, bác sĩ đã kiểm tra toàn bộ và xác nhận tôi đã chết. Nguyên nhân của sự tử vong là do mất quá nhiều máu. Gia đình tôi đã được thông báo khi họ còn ở xa. Nhân viện bệnh viện quyết định đưa xác tôi xuống nhà xác. Bởi vì bệnh viện không có máy lạnh, nên họ lo ngại xác sẽ có mùi hôi.
Ngay lúc họ chuyển xác tôi tới nhà xác, linh hồn tôi trở lại thân xác. Tôi cảm thấy rất đau đớn bởi vì những vết thương và nhiều xương bị gẫy. Tôi bắt đầu rên la, những người xung quanh tôi chạy tán loạn la hoảng lên vì sợ hãi. Một trong những người đó đã đi gọi bác sĩ và nói “Xác chết đang rên la.” Bác sĩ đến kiểm tra lại thân thể tôi và phát hiện tôi vẫn còn sống. Bác sĩ ấy nói rằng “Cha Jose vẫn còn sống, đây là phép lạ, hãy đem cha trở lại bệnh viện.”
Khi họ đưa tôi đến phòng để truyền máu, đồng thời họ mổ và sửa lại những xương đã bị gẫy. Họ sửa lại xương quai hàm, xương sườn, xương chậu, xương cổ tay và xương chân phải của tôi.
Sau hai tháng điều trị tại bệnh viện, bác sĩ về xương đã cho tôi biết là tôi không bao giờ có thể đi lại được nữa. Nhưng tôi đã nói với bác sĩ: “Thiên Chúa đã cho tôi sống lại, gửi tôi về trần gian thì cũng sẽ chữa lành tôi.” Sau một tháng cắt băng bột, tôi vẫn không thể đi lại được. Trong lúc chúng tôi đang cầu nguyện tại nhà, tôi cảm thấy rất đau đớn ở nơi xương chậu. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, sự đau đớn đã hoàn toàn biến mất và tôi nghe thấy có tiếng nói với tôi: “Con đã được chữa lành, đứng dậy và đi.” Tôi cảm thấy an bình và được chữa lành hoàn toàn trong con người của tôi. Tôi đứng dậy và bước đi. Tôi ngợi khen và tạ ơn Chúa cho phép lạ này.
Tôi báo cho bác sĩ về cái tin mà tôi đã được chữa lành, ông ta rất ngạc nhiên. Ông ta nói với tôi rằng: “Thiên Chúa của ông là Chúa thật. Tôi phải theo Thiên Chúa của ông.” Bác sĩ này là người theo đạo Hindu, ông ta đã hỏi tôi về đạo thánh. Sau đó, ông ta học đạo và chính tôi là người đã rửa tội cho ông để gia nhập đạo Công Giáo.
Theo sứ điệp của Thiên Thần, tôi đã đến Hoa Kỳ vào ngày 10 tháng 11 năm 1986, với công tác là linh mục truyền giáo. Lúc đầu, tôi làm việc cho Giáo Phận Boise ở Idaho từ năm 1987 tới 1989, kế đến tôi làm tuyên úy cho một nhà tù trong Giáo Phận Orlando, Florida từ năm 1989 tới 1992.
Năm 1992, tôi thuyên chuyển đến Giáo Phận Thánh Augustinô và làm việc tại nhà thờ Thánh Máthêu ở thành phố Jacksonville trong hai năm. Sau đó tôi được chỉ định làm chính xứ của nhà thờ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời từ năm 1994 đến 1999. Vào năm 1997, tôi được chính thức công nhận là linh mục trong giáo phận. Từ tháng 6 năm 1999 đến nay, tôi là cha quản nhiệm nhà thờ Đức Mẹ của Lòng Thương Xót ở thành phố MacClenny, Florida. Đồng thời tôi cũng phục vụ cho trại tù Starke, trung tâm cải huấn Raiford và trong bệnh viện MacClenny. Hơn nữa, tôi cũng là cha linh hướng của Hội Lêgiô Marie của địa phận.
Trong mỗi ngày thứ bảy đầu tháng, giáo xứ tôi có giờ chầu Thánh Thể và Thánh Lễ chữa lành. Mọi người đến từ nhiều nơi trong tiểu bang Florida và các tiểu bang khác. Tôi đã được mời đến cho mục vụ chữa lành ở nhiều thành phố lớn trong nước như New York, Philadelphia, Washington DC, San Jose, Dallas, Chicago, Birmingham, Denver, Boise, Idaho Falls, Ontario, Miami, Ft. Lauderdale, Poolsville và nhiều nước trên thế giới như Ireland, Spain, Czech Republic, India, France, Portugal, Yugoslavia, Italy, Canada, Mexico, Cayman Island và Hawaiian Islands.
Xuyên qua công tác mục vụ chữa lành qua phép Thánh Thể, tôi đã thấy nhiều người được chữa lành về thể xác, linh hồn, tâm hồn cũng như cảm xúc. Nhiều bệnh khác nhau như ung thư, si đa, tim, mắt, xuyễn, đau lưng, lãng tai và nhiều bệnh khác đã được chữa lành hoàn toàn. Thêm vào đó, nhiều lần trong năm có những cuộc chữa lành đặc biệt về giòng tộc mà đã ảnh hưởng bởi tội lỗi của cha ông cũng đã được chữa lành hoàn toàn.
Vì thế chúng ta cần sự chữa lành về gia tộc. Các bác sĩ và nhiều thuốc men không thể giúp chúng ta chữa lành về các loại bệnh tật này.
Trong mục vụ chữa lành, đã có nhiều người được nghỉ ngơi trong ơn Chúa Thánh Thần trước Thánh Thể Chúa và nhiều người được đổi mới tâm linh cũng như chữa lành về thân xác.
Tường thuật của Linh Mục Jose Maniyangat
Chuyển dịch: Anna Liên Nguyễn
Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011
Đường sống thật
Trải qua bao thời, con người kiếm tìm con đường dẫn đến chân lý và sự sống thật. Đã có biết bao nhiêu suy tư siêu hình học, triết học, thần học, tôn giáo, chiêm niệm, thần bí và khoa học… tìm kiếm sự thật về vũ trụ chung quanh và về cuộc sống con người. Bao nhiều chất xám đã đầu tư để đi tìm nguồn sự sống và cùng đích của cuộc sống. Dù đã cố gắng hết mình con người vẫn còn bế tắc trong nhiều lãnh vực của sự thật và sự sống.
Cách đây trên hai ngàn năm, Chúa Giêsu đã xuất hiện mặc khải cho con người đường đi đến chân, thiện, mỹ. Đức Giêsu đã mở ra con đường:”Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy (Ga. 14,6). Chúa Giêsu đã ra rao giảng Tin Vui Cứu Độ nhưng con người cứ cậy dựa vào sự khôn ngoan độc lập của mình để chối từ Tin Mừng mặc khải. Chúng ta cùng suy gẫm lời Chúa truyền dạy:
1. Thầy là Đường
Thánh Gioan Tiền Hô là người đã loan báo ơn cứu độ. Gioan kêu gọi mọi người hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng. Để đón nhận Đấng Cứu Thế, mọi người phải chuẩn bị sám hối, cải đổi đời sống và mở rộng tâm hồn. Đây là một lời kêu gọi thẳm sâu từ đáy lòng. Thường khi đón chào một vị Vua, Hoàng Đế hay Nữ Hoàng, người ta chỉ cần sửa sang lối đi, quét dọn nhà cửa sạch sẽ và đón chào trong tiếng kèn, tiếng trống ồ ạt và hân hoan vui vẻ. Đón nhận Đức Chúa hoàn toàn khác biệt, Gioan gióng lên lời mời gọi: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi (Mc. 1,3). Chúa cần đi lối thẳng thắn nơi tâm hồn. Con đường Chúa đi là con đường dẫn tới đời sống nội tâm bên trong. Con đường Chúa đi là con đường khiêm tốn và yêu thương.
Chúa là con đường dẫn tới sự sống. Chúa Giêsu giới thiệu cho các môn đệ con đường dẫn tới Nhà Cha. Chúa nói: Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi (Ga. 14,4). Con đường Chúa đi không phải là con đường thênh thang rộng mở và không phải là con đường trần thế cai trị. Con đường Chúa đi là con đường phục vụ, Chúa đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Anh em biết đường rồi, con đường Chúa đi là con đường hy sinh và thánh giá. Con đường Chúa đi là con đường lên dốc đồi Calvariô để chịu nạn và chịu chết.
Chúa Giêsu là con đường tiến lên. Các môn đệ còn nhiều thắc mắc về đường đi nước bước của Chúa. Tâm tư các tông đồ còn đang mong mỏi một con đường vinh hoa phú quý. Ông Tôma nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? (Ga. 14,5). Đúng vậy, các tông đồ không biết con đường nào Chúa sẽ đi. Không ai mong muốn con đường thập giá, con đường khổ đau và con đường chết chóc. Chúa đã từng bước dẫn dắt các tông đồ qua con đường chết để vào con đường sống. Qua con đường hẹp để bước vào cõi sống hạnh phúc trường sinh. Thầy chính là con đường.
2. Thầy là Sự Thật
Chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều ảnh hưởng của mê lầm và dối trá. Các nhà lãnh đạo quốc gia không dám nói hết sự thật. Các cấp lãnh đạo tôn giáo đôi khi cũng sợ nói sự thật. Các nhà giáo dục cũng không muốn đặt vấn đề sự thật trong các ngành nghề. Các bậc bề trên, phụ huynh và người hướng dẫn cũng che dấu sự thật. Vì nói sự thật thì có khi mất lòng, mất danh dự, mất uy tín, mất địa vị, mất công ăn việc làm và mất chính mình. Chúng ta sợ sự thật của gia đình, của con cái, của cha mẹ, của nhân viên, của các cộng tác viên và của chính mình bị phơi bầy và tỏ lộ. Có khi vì sự thật liên quan đến miếng cơm manh áo và tiếng tăm địa vị. Mấy ai can đảm nói hết sự thật.
Chúa Giêsu là Sự Thật. Chúa thấu tỏ lòng người. Chúa hiểu thấu được lòng con người nghĩ gì và muốn gì. Nhiều người nghe Chúa giảng đã phải thốt lên: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy nói và dạy một cách thẳng thắn, không thiên vị ai, nhưng theo sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa (Lc. 20,21). Chúa Giêsu thẳng thắn phê bình những lầm lỗi và cách hành xử của các nhà lãnh đạo tôn giáo. Họ chỉ thích được ưa chuộng những hình thức xuất hiện bên ngoài, giả dạng và khoe khoang. Họ ngại bước vào đời sống nội tâm vì sợ nhìn thấy mặt trái của đời sống mình. Vì sống theo sự thật là sống trong ánh sáng: Nhưng kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ: các việc của người ấy đã được thực hiện trong Thiên Chúa (Ga. 3,21).
Chúa Giêsu là con đường dẫn tới sự thật. Nghĩ thật, nói thật và rao giảng sự thật. Con người Chúa Giêsu là con người trong sáng và chân thật tuyệt đối. Chúa ra giảng dậy công khai và minh chứng cụ thể qua các việc làm. Chúa Giêsu giảng dậy chân lý và áp dụng lời giảng trong cuộc sống mình. Còn chúng ta đôi khi nói một đàng, làm một nẻo. Ngôn hành bất nhất. Chúng ta muốn có sự thật nhưng không thực hành sự thật. Sự dối trá cứ len lỏi ràng buộc chúng ta vào những mê lạc tự vệ, cố chấp, ương ngạnh và sống giả hình.
Chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta. Chúa Giêsu nói với những người Do-thái rằng: Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông (Ga. 8,32). Sự thật thì đơn sơ chân thành ví như tâm hồn trong trắng của trẻ thơ. Tâm hồn chân thật thì thanh thoát và không lệ thuộc vào những tranh đua hơn thua ở đời. Khi so sánh hơn thiệt và đua đòi cuộc sống dễ dẫn chúng ta đến những sự dấu diếm, giả trá, lừa lọc và dối gian. Người đời thường nói rằng: Sông sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng. Chúa Giêsu thì hiểu thấu lòng con người hơn ai hết. Chúa biết những ý nghĩ thầm kín của người đời. Chúa thường yêu và cầu nguyện cho các môn đệ được thành tín chân thật: Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật (Ga. 17,17).
3. Thầy là Sự Sống
Chúa Giêsu là nguồn sự sống và là bánh trường sinh. Chúa phán: Tôi là bánh trường sinh (Ga. 6,48). Chính nhờ Người, với Người và trong Người, Thiên Chúa Cha đã tác tạo muôn loài. Chúa Giêsu là đầu và là cùng đích của các loài thụ tạo. Ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại (Ga. 1,4). Chúa Giêsu là sự sống và là ánh sáng đến trong trần gian. Người đến để mọi người được sống và sống dồi dào. Người là bánh ban sự sống, dưỡng nuôi và dẫn chúng ta đến sự sống đời đời. Thánh Gioan, người tông đồ được Chúa yêu mến đã xác tín rằng: Vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian.” (Ga. 6,33). Chúa Giêsu là chủ thể có quyền trên vũ trụ vạn vật và uy quyền trên sự sống và sự chết.
Sự sống mà Chúa sẽ ban là sự sống thật. Con đường dẫn vào sự sống là chu toàn lề luật và các giới răn. Đức Giêsu đáp: “Sao anh hỏi tôi về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn.”(Mt. 19,17). Chúa Giêsu căn dặn chúng ta rằng đừng qúa lo lắng cho cuộc sống tạm bợ này. Ngày tháng sẽ trôi qua, tuổi đời sẽ chồng chất và sự chết sẽ đến. Tiên vàn chúng ta hãy tìm kiếm nước trời, mọi sự khác Người sẽ ban thêm cho. Vì sự sống hay chết đều nằm trong sự quan phòng của Chúa. Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Vì vậy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc; vì mạng sống thì hơn của ăn, và thân thể thì hơn áo mặc (Lc. 12, 22-23).
Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã đi vào sự sống vĩnh cửu. Đức Giêsu liền phán: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống (Ga. 11, 25). Chúng ta cần đặt niềm tin tưởng vào Chúa Kitô Phục Sinh. Nơi Người, chúng ta sẽ tìm được câu giải đáp cho thân phận con người. Thiên Chúa tạo dựng loài người là muốn cho tất cả mọi người được chung hưởng niềm hạnh phúc viên mãn.
Chúa Giêsu là đường dẫn đến sự sống thật. Người là sự thật đưa dẫn đến sự sống đời đời và sự sống thật là con đường kết hợp mật thiết với Đấng Tạo Thành. Chúa Giêsu trở thành trung tâm cốt lõi cho tất cả mọi suy tư tìm kiếm nguồn chân lý, sự thánh thiện và sự hoàn hảo tuyệt mỹ. Lạy Chúa, Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Xin Chúa dẫn dắt chúng con theo đường chân lý của Chúa để chúng con được hưởng niềm vui sự sống muôn đời.
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York
Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011
Đức tin của tôi
Tôi là một giáo viên dạy môn vật lý và là một tân tòng. Từ khi được rửa tội đến nay đã hơn 25 năm tôi luôn cố gắng tuân giữ mười điều răn Đức Chúa Trời và sáu luật điều Hội Thánh. Có nhiều lúc bạn bè đồng nghiệp thắc mắc là tại sao tôi không dám bỏ lễ ngày Chúa nhật, rằng tôi là “đạo theo” mà. Vì thế tôi viết bài này để nói về đức tin của mình.
Tôi còn nhớ hồi nghỉ hè năm lớp bảy, anh tôi dạy tôi học đàn Gui- ta.Vì tay còn nhỏ xíu, yếu ớt nên tôi gặp khó khăn trong một số hợp âm như bấm E7, C trong hợp âm Am. Nhiều lúc ngồi ôm đàn tự tập, đau tay quá mà cũng không bấm được, tôi bất chợt nhìn lên bàn thờ như tìm một sự trợ giúp. Bỗng tôi sực nghĩ: “Tại sao ba má tôi thờ Ông (Ông Quan Công) mà không thờ một Đấng nào đó cao siêu hơn?”, “Tại sao khi gặp khó khăn người ta hay kêu Trời?”. Người ta còn nói là mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. “Vậy Trời là ai?”. Trong đầu tôi tự nhiên vang lên những câu như thế. Nhưng vì còn nhỏ và lại tiếp tục tập trung vào việc tập đàn nên tôi đã quên đi không chú ý đến nữa. Có ngờ đâu đó chính là nền tảng đức tin của tôi sau này.
Năm học lớp 12, phòng tôi có một nhánh cây Sầu Chiều vươn ngang tầm cửa sổ để lộ những bông hoa màu hồng phấn trông thật dễ thương. Những bông hoa như mỉm cười chào đón tôi mỗi ngày dẫn tôi đến với những suy nghĩ là: “Tại sao có nhiều loại bông hoa với những màu sắc khác nhau, bông hoa nào cũng đẹp cũng dễ thương?”. “Tại sao cây cỏ, hoa quả có thể cho con người chất dinh dưỡng hay các loại vitamin?”. “Phải chăng có một sự sắp đặt cho con người từ trước và ai đã làm nên điều đó?”. Lúc bấy giờ tôi chỉ biết tin vào thượng đế mà tôi chưa được biết. Theo thuyết ĐăcUyn mà tôi được học thì con người được tiến hóa từ loài vượn nhưng tôi nghĩ dù có tiến hóa từ bao nhiêu loài đi nữa thì cũng phải có nguồn gốc ban đầu của nó. Tôi còn nghĩ Trái đất, mặt trăng cùng các hành tinh khác là những vật vô tri, vô giác mà từ bao đời nay nó vẫn chuyển động nhưng không đụng vào nhau. Chúng vẫn quay theo một quy luật nhất định. Ai đã tạo ra quy luật ấy?
Một ngày kia khi đọc: “Truyện kể về các nhà bác học” tôi như tìm được chân lý khi đọc về nhà bác học Newton. Đó là người đã tìm ra được một định luật quan trọng nhất trong vũ trụ: Định luật vạn vật hấp dẫn. Nhưng về cuối đời Newton đã viết; “ Tôi đã tìm ra quy luật của vũ trụ nhưng nguồn gốc của nó thì tôi chỉ biết tin vào Chúa. Nếu xem vũ trụ như một bộ máy đồng hồ thì Chúa đã ban tặng cho nó cái hích ban đầu”. Đến nay vẫn không ai tìm được gì hơn về nguồn gốc của vũ trụ. Trên mộ Newton ngày nay vẫn còn khắc câu: “Bậc thiên tài vượt lên trên tất cả các thiên tài”. Trước đây người giúp việc cho Newton có kể rằng nhiều lúc ông ở trong phòng nghiên cứu suốt mấy ngày liền không ăn, không ngủ mà vẫn khỏe mạnh như thường. Điều này làm tôi nghĩ rằng có lẽ Chúa đã cho chúng ta những bậc thiên tài để tìm ra những điều Ngài đã tạo cho chúng ta vì Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài.
Trong Phúc âm Thánh Mathêô kể lại việc Chúa Jesu đã làm xưa kia là Chúa có thể hóa phép ra nhiều bánh và cá nhưng Chúa không làm thế mà lại cần đến 5 chiếc bánh, 2 con cá có sẵn. Đó cũng là điều mà Chúa Jesu đã mạc khải cho chúng ta là chúng ta phải biết vận dụng đến khối óc và con tim đặc biệt mà Chúa đã ban cho con người. Tôi tin Thiên Chúa ba ngôi vì khi đã tin Chúa quyền năng thì điều đó trở thành đơn giản và dễ hiểu.Tôi tin Chúa vì quá yêu thương loài người nên đã muốn chính thân mình xuống thế làm người để cứu chuộc con người. Ngài xuống thế không phải ngồi trên ngai dùng quyền năng để đi vào lịch sử nhân loại mà là trong máng cỏ Bê lem và trên thập giá ở Giêrusalem vì Ngài cho rằng cách thế duy nhất để giải phóng nô lệ là nhân danh nô lệ cho người khác. Có lẽ vì thế Ngài đã làm con của bác thợ mộc Juse. Tôi tin Đức mẹ đồng trinh vì Chúa quyền năng. Tôi biết tình yêu của Chúa cao vời hơn cả tình mẹ yêu con mà ta thường thấy trên đời. Liên hệ với câu chuyện sau tôi càng thấy rõ tình yêu đó hơn: Có một em bé ba tuổi chơi bóng ở bên vệ đường. Mẹ em ở gần đó. Trái bóng lăn ra lòng đường và em bé liền chạy theo. Bỗng một chiếc xe tải chạy với tốc độ cao xuất hiện. Người mẹ thét lên xin con mình chạy thoát thân nhưng em bé vẫn ở giữa lòng đường. Rồi không kịp suy nghĩ gì nữa người mẹ bèn hiến dâng mạng sống mình để cứu con nhỏ. Bà lao ra trước bánh xe tải đẩy kịp đứa con ra lề đường trước khi bánh xe cán lên bà. Quyền hành cuối cùng của bà là hiến dâng hy tế đời mình để con mình được sống.
Để đáp lại tình yêu “cao vời khôn ví” của Chúa tôi nghĩ chúng ta hãy vác thập giá mà theo Ngài như Đức Ki- tô đã dạy: “ Anh em hãy bước vào cửa hẹp vì cửa rộng thênh thang sẽ dẫn đến hư hỏng”. Chúng ta hãy phấn đấu bằng sự bỏ ý riêng của mình để tuân phục thánh ý Chúa. Hãy phấn đấu bỏ cái tôi hẹp hòi, ích kỷ và cứng cỏi của mình để nhận lấy những cái tốt mà Chúa đã trao tặng. Có một thầy giáo dạy trường Trung cấp xây dựng. Vào thời bao cấp lương bổng còn thấp nên nghỉ hè thầy phải đi làm phụ hồ. Một hôm gặp học trò cũ đi kiểm tra công trình. Gặp thầy, học trò hỏi: “Thầy có buồn không?”. Thầy trả lời: “Tôi không buồn mà trái lại thấy vui. Chúa đã ban cho mỗi người một cây thập giá để vác đến gặp Ngài. Nếu ta cảm thấy nặng mà cưa bớt đi coi chừng không tới được. Nhờ cảm nhận tình yêu của Chúa người thầy giáo ấy không than thân trách phận mà còn cảm thấy vui như đang được bước đến với Chúa.
Tôi sống và làm việc giữa những người “dân ngoại”. Đôi khi người ta xầm xì bàn tán, bạn bè cũng bất bình về việc tôi theo đạo. Mặc dù ba má tôi tôn trọng việc tự do tín ngưỡng của con cái nhưng có người lại nói rằng tôi đã bỏ đạo của cha mẹ mà theo Chúa. Tôi còn mất một số quyền lợi ở đời nhưng tôi tin “Đức tin của tôi” luôn bền vững vì nhờ ơn Chúa nó được hình thành trên cơ sở khoa học. Tôi không nao núng vì luôn nhớ đến mấy câu hát trong bài “Niềm phó thác”:
“ … Con không cô đơn khi người đời xa tránh cười chê con.
Con không bơ vơ giữa trần gian mây mù phủ ngập hồn.
Con luôn an tâm vì biết rằng Cha sẽ ở bên con………..”
Têrêxa Lê Quy
Lời cầu nguyện của một thanh niên bị sida
Một thanh niên 28 tuổi, mắc bệnh SIDA, sống trong tuyệt vọng. Từ ánh mắt cảm thông thương yêu của một người bạn, chàng trai bất hạnh ấy đã biến đổi. Xin mọi người đừng nghĩ SIDA là “Chiếc roi trừng phạt” của Thiên Chúa, nên cũng thôi, đừng “trừng phạt” nhau bằng sự khinh miệt và thái độ xa lánh ghê tởm... Dưới đây là lời tự bạch, cũng là một lời cầu nguyện chân thành của anh với Thiên Chúa...
“Hôm nay, ngày 11 tháng 8, tôi cảm thấy trong người tương đối khỏe. Bỗng nhiên tôi quên rằng mình đã mắc căn bệnh SIDA quái ác. Ngồi trên sân thượng, tôi cảm nhận giây phút này, trong ánh mặt trời ấm áp. Chắc không phải vì đời tôi sắp đến kỳ hạn kết thúc mà tôi mới thấm thía thế nào là một cuộc sống bình thường đơn sơ. Tôi vẫn tỉnh táo, hiểu ra những con người đáng yêu và cuộc sống đời thường dung dị. Tôi chợt nghĩ, phải chi mọi người biết được giây phút kết thúc đời mình, chắc thế giới này sẽ sống trong tình huynh đệ thắm thiết... Số phận tôi đã bị SIDA kết án, nhưng tôi không cho rằng Thiên Chúa đã trừng phạt tôi. Tôi tin Thiên Chúa là Tình Yêu, và Người không hề muốn những nỗi khổ đau bất hạnh lan tràn trên mặt đất này. Nếu có ai đó lớn tiếng bảo rằng SIDA là chiếc roi Thiên Chúa dùng để trừng phạt những kẻ hư đốn, thì họ đã lầm to ! Chẳng lẽ họ lại có thể quên rằng Đức Giê-su đã từng được rao giảng là một vị Thiên Chúa Tình Yêu, Người không thể lại đi ủng hộ mọi sự khổ đau đang xẩy đến cho loài người. Những kiểu diễn tả sự đau khổ là chiếc roi trừng phạt chỉ có thể đánh lừa những ai kém lòng tin vào Thiên Chúa ! Xin hãy rao giảng về một Đức Giê-su, Đấng yêu thương, an ủi, vỗ về... Tôi vốn không phải là một Ki-tô hữu, nên tôi chưa từng bao giờ tin Thiên Chúa. Thế rồi, nhờ một người bạn, tôi đã gặp được Chúa. Bắt đầu từ một ánh mắt nhìn tôi, và tôi đã tin vào Chúa. Không phải vì sợ chết mà tôi đã tiến lại gần Chúa đâu. Tôi không biết Người có chữa lành bệnh tật cho tôi hay không, tôi không xin điều đó. Tôi chỉ xin Người hãy cứ làm cho tôi biết cảm nhận những ngày sống đơn sơ bình thường như hôm nay. Và tôi cũng xin Người đồng hành với tôi trong những nỗi đau đớn tột cùng tôi đã và đang gánh chịu, cho tôi nhận ra sự hiện diện của Người...
“Lạy Chúa, con tin Chúa cũng đau khổ
Khi thấy những gì đang diễn ra trong thế giới này,
Một thế giới mà Chúa đã tạo dựng với biết bao yêu thương.
Phần con, không biết Chúa có thể tha thứ
Cho cuộc đời xấu xa của con,
Một cuộc đời trộm cắp và nghiện ngập ma túy hay không ?!?
Nhưng con tin, tin rằng: Chúa là Tình Yêu, là sự tha thứ khoan dung...”
(Trích từ SOUFFRIR: LA FOI AU PIED DU MUR, báo CGDT số 792)
Tình yêu tha thứ
Làm sao định nghĩa được tình yêu, bởi vì không chừng chúng ta chưa biết yêu...”. Lạy Chúa, xin cho chúng con biết tìm niềm vui trong cuộc sống bằng cách cho đi nhiều hơn nhận lãnh, biết sống quảng đại và không tính toán... xin cho chúng con biết dốc cạn mọi toan tính ích kỷ để được lấp đầy bằng tình yêu đối với Chúa và tha nhân.
Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên chúng con với trái tim biết rung động và yêu thương, xin đừng để cho trái tim chúng con chết cứng trong dửng dưng, ích kỷ trước khổ đau của những người xung quanh chúng con, xin cho chúng con có những nhịp đập cảm thông và chia sẻ... hầu những ai tiếp cận với chúng con như được thêm phần yên ủi.
Con đường Chúa đã đi là “sống yêu thương”. Yêu thương thật sự, yêu thương đúng nghĩa là yêu tha nhân như yêu chính bản thân mình, sẵn sàng bỏ qua và tha thứ lỗi lầm của người khác... vì chỉ có sự tha thứ mới là trọn nghĩa của yêu thương. Xin Chúa hãy ban cho chúng con dồi dào lòng từ bi của Chúa để chúng con luôn biết đón nhận tha nhân như những người thân yêu ruột thịt của mình.
Lạy Chúa xin cho chúng con biết lấy niềm vui của người khác làm niềm vui của chúng con và luôn biết xây dựng hòa khí với mọi người. Và lạy Chúa, xin hãy ban cho chúng con đôi mắt trong suốt để chỉ nhìn thấy hình ảnh của Chúa nơi người anh em của chúng con, xin ban cho chúng con cái nhìn lạc qua của Chúa để chỉ nhìn thấy vẻ đẹp thanh cao của lòng người... xin mãi mãi đốt lên trong đôi mắt chúng con ánh lửa của tin tưởng, cảm thông, tha thứ, yêu thương nơi chính cái nhìn của Chúa. Amen.
Khánh Chi
Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011
Nương tựa vào Chúa
Chúa là nơi con nương tựa
Dù với công thức dài như ở Tin Mừng Matthêu hay ngắn gọn nơi Tin Mừng Luca, Kinh Lạy Cha được kết thúc bằng câu: "Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ". Nhắc nhở các môn đệ cầu xin cho khỏi sa chước cám dỗ, Chúa Giêsu cũng muốn nói đến một thực tại luôn có mặt trong thế giới này để làm hại con người, đó là sự dữ hay ma quỉ. Ở bên cạnh con người, nhưng ma quỷ không hiện nguyên hình, mà lại mượn chính hình dạng con người để quyến rũ và lôi kéo con người đến điều ác.
Ðó cũng là sự kiện đã xảy ra như được ghi lại trong đoạn Tin Mừng của thánh Luca (Lc 11, 15-26): sau khi Chúa Giêsu chữa cho một người bị quỉ ám được khỏi, trong đám đông có mấy người nói rằng Ngài đã nhờ thế của quỉ vương Beelzebul mà trừ quỉ. Chúa Giêsu đã nhân cơ hội này để mạc khải về Nước Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa đã đến và trong đó có bóng dáng của ma quỉ. Một Phêrô vừa được khen thưởng vì đã tuyên xưng đúng tước hiện của Chúa Kitô, thì lập tức đã bị khiển trách là Satan khi ông căn ngăn Chúa Giêsu lên Yêrusalem để chịu khổ nạn.
Chúa Giêsu đã đến để chiến thắng ma quỉ và tội lỗi, đồng thời Ngài cũng đòi hỏi những kẻ theo Ngài phải có một thái độ dứt khoát: "Ai không theo tôi, là chống tôi, và ai không cùng tôi thu góp, là phân tán". Hình ảnh người võ trang canh giữ nhà của mình là một lời mời gọi những kẻ theo Chúa biết hoàn toàn đặt tin tưởng, phó thác vào Ngài. Tìm một người hùng mạnh để canh giữ cho mình được an toàn thì có ai bằng Thiên Chúa; kiếm một nơi ẩn náu trước những tấn công của kẻ thù, thì có đâu vững chắc cho bằng núp bóng dưới cánh tay Ngài.
Chúng ta phải tìm nơi nương tựa mạnh mẽ, vững chắc, vì ma quỉ như sư tử luôn gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé, làm hại chúng ta. Một lần thất bại, nó không nản lòng, nó sẽ trở lại với một lực lượng hùng mạnh hơn. Bởi đó, chúng ta phải kiên trì trong lời cầu nguyện: "Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ". Cám dỗ là vũ khí ma quỉ dùng để đánh bại chúng ta, nhưng chúng ta vẫn không nao núng, nếu biết đứng vững trong đức tin để chống cự và biết ẩn núp dưới sự che chở của Chúa.
Nguyện xin Chúa gìn giữ chúng ta luôn kiên vững trong niềm xác tín đó.
Lạy Cha, Chúa Giêsu Con Cha, đã dạy chúng con phải cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ. Giữa cuộc sống đầy hấp dẫn và lôi kéo của thế trần. Xin cho chúng con cũng biết noi gương Ngài: Luôn gắn bó với Cha, cầu nguyện cùng Cha. Ðể chúng con được sức mạnh chiến thắng trong cuộc chiến với ma quỷ. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Amen.
(Đài Chân Lý Á Châu)
Hiệu lực của lời cầu nguyện
Hãy cầu nguyện với tâm tình của trẻ thơ: chân thành, khiêm tốn, đơn sơ và kiên nhẫn.
Một tác giả kể lại câu truyện như sau: Một hôm ông theo đoàn đánh cá ra khơi, trời thật đẹp, nhưng đến trưa, gió thổi mạnh và cơn bão rất lớn ập tới. Ðoàn người chống chọi quyết liệt nhưng vô ích, nước đã tràn vào đầy tàu. Lúc ấy, viên thuyền trưởng ra lệnh: "Các bạn hãy cầu nguyện". Người phụ tá bảo: "Sao lại cầu nguyện? Mây che kín cả bầu trời rồi, Chúa chẳng nghe thấy đâu". Nhưng viên thuyền trưởng dứt khoát: "Chúng ta cứ cầu nguyện".
Tất cả đều sốt sắng cầu nguyện, bỗng từ đám mây đen nghịt ấy lóe ra một tia sáng xanh trong vắt. Viên thuyền trưởng la lên: "Cửa trời đã mở, Chúa đã nghe lời của chúng ta, và tia sáng đó là ánh mắt nhân từ Ngài nhìn xuống chúng ta. Hãy tiếp tục cầu nguyện". Và rồi sau đó, sóng gió im lặng và trời càng sáng rõ, các thủy thủ tạ ơn Chúa và đã cập bến an toàn.
Trong Tin Mừng thánh sử Luca (Lc 11,5-13), Chúa Giêsu dạy chúng ta: "Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho". Ngài đưa ra hai dụ ngôn để nhắc nhở chúng ta kiên tâm trong lời cầu nguyện và siêng năng cầu nguyện cùng Chúa. Ngài đoan hứa Thiên Chúa là người Cha tốt lành sẽ ban cho chúng ta những gì chúng ta cầu xin, đặc biệt Ngài sẽ ban cho chúng ta món quà tuyệt hảo là Thánh Thần, nhờ đó chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực.
Trong thực tế, có lẽ chúng ta đã cầu xin rất nhiều, thế mà nhiều khi chúng ta chẳng nhận được. Tại sao thế? Thánh Giacôbê trả lời: "Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc". Do đó, khi cầu nguyện, chúng ta hãy ý thức điều chính yếu chúng ta phải nhắm tới trước hết, đó là "Xin cho Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời". Thiên Chúa là Cha, Ngài khôn ngoan thấu suốt những nhu cầu của chúng ta và sẽ ban cho những gì lợi ích cho phần rỗi chúng ta. Ðiều cần thiết là phải kiên trì trong niềm tin và xác tín Thiên Chúa yêu thương và ban cho những điều vượt quá sự mong ước của chúng ta.
Nguyện xin Chúa củng cố chúng ta trong đời sống và tâm tình cầu nguyện, cho chúng ta biết xin những gì đẹp lòng Chúa và phó thác tất cả cho tình yêu thương quan phòng của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy chúng con biết cách thức cũng như giá trị của việc cầu nguyện. Thế nhưng trong cuộc sống, chúng con lại rất dễ chán nản khi cầu nguyện. Bởi vì với cái nhìn thiển cận, chúng con chỉ biết xin những điều chúng con tưởng là tốt hoặc chỉ vì tư lợi. Và khi không được như ý muốn, chúng con bất mãn, bỏ cầu nguyện.
Xin Chúa ban Thánh Thần cho chúng con, để Ngài dạy cho chúng con biết phải cầu nguyện thế nào cho phải. Vì tự sức mình, chúng con không thể làm đẹp lòng Chúa được. Amen.
(Đài Chân Lý Á Châu)