Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Thông điệp Đức Mẹ ngày 25/4/2012







 

Thông điệp Mẹ Mễ Du ngày 25/4/2012 qua thị nhân Marija


 

"Các con yêu dấu,

Hôm nay nữa Mẹ kêu gọi các con cầu nguyện và ước mong tâm hồn các con, hỡi các con nhỏ, mở rộng cho Thiên Chúa như một đóa hoa tươi nở trong hơi ấm của mặt trời. Mẹ ở với các con và cầu bầu cho tất cả các con. Cám ơn các con đã đáp lại lời kêu gọi của Mẹ".

Message to Marija on April 25, 2012

“Dear children!

Also today I am calling you to prayer, and may your heart, little children, open towards God as a flower opens towards the warmth of the sun. I am with you and I intercede for all of you. Thank you for having responded to my call”.

Kính Mừng MARIA

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Biển Đức 16 nhân Ngày Thế Giới cầu cho ơn gọi

"Ơn gọi, hồng ân tình thương của Thiên Chúa”




Anh chị em thân mến,
Ngày Thế giới cầu cho ơn gọi lần thứ 49, sẽ được cử hành vào ngày 29/4/2012, Chúa nhật thứ tư Phục Sinh, mời gọi chúng ta suy tư về đề tài: "Ơn gọi, hồng ân tình thương của Thiên Chúa”.

Nguồn mạch của mỗi hồng ân hoàn hảo là Thiên Chúa Tình Thương - Deus caritas es -: "ai ở trong tình thương thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1 Ga 4,16). Kinh Thánh kể lại lịch sử liên hệ nguyên thủy giữa Thiên Chúa và nhân loại, đi trước cả công trình tạo dựng. Thánh Phaolô, khi viết cho các tín hữu Kitô ở thành Ephêsô, đã dâng lên bài ca tạ ơn và chúc tụng Chúa Cha, Đấng đã thực hiện ý định cứu độ phổ quát của Ngài qua dòng thời gian, theo lượng từ nhân vô biên của Ngài, ý định ấy chính là một ý định thương yêu. Thánh Tông Đồ quả quyết: trong Đức Giêsu Con của Ngài, Thiên Chúa "đã chọn chúng ta trước khi tạo thành vũ trụ để chúng ta được nên thánh thiện và không tỳ ố trước mặt Ngài trong đức ái” (Ep 1,4). Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương ”trước” khi chúng ta sinh ra! Hoàn toàn do tình thương vô điều kiện thúc đẩy, Chúa đã “tạo dựng chúng ta từ hư vô” (Xc 2 Mac 7,28) để dẫn đưa chúng ta đến sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài.



Kinh ngạc trước công trình quan phòng của Thiên Chúa, tác giả Thánh vịnh đã thốt lên: "Khi thấy các tầng trời, trong công trình tay Chúa dựng nên, mặt trăng và các tinh tú Chúa đã tạo thành, thì con người có là chi mà Chúa nhớ đến, phàm nhân có là gì mà Chúa phải quan tâm?” (Tv 8,4-5). Vì thế, chân lý sâu xa về cuộc sống chúng ta được gồm tóm trong mầu nhiệm lạ lùng này là: mỗi thụ tạo, đặc biệt là con người, đều là kết quả một ý nghĩ và một hành vi yêu thương của Thiên Chúa, tình yêu vô biên, trung tín, vĩnh cửu (Xc Gr 31,3). Sự khám phá thực tại này thay đổi thực sự cuộc sống của chúng ta một cách sâu đậm. Trong một trang nổi danh của cuốn “Tự Thú”, Thánh Augustinô diễn tả một cách nồng nhiệt khám phá của ngài về Thiên Chúa vẻ đẹp tột đỉnh và là tình thương tột độ, một vị Thiên Chúa luôn gần gũi với thánh nhân, Đấng mà sau cùng thánh nhân đã cởi mở tâm trí để được biến đổi: "Lạy Chúa là vẻ đẹp rất cổ kính và rất mới mẻ, con yêu Chúa quá chậm! Đúng vậy, Chúa đã ở trong con và con ở ngoài. Con đã tìm Chúa ở ngoài. Bất hạnh thay, con đã lao mình vào những thụ tạo kiều diễm của Chúa. Chúa ở trong con, nhưng con lại không ở với Chúa. Các thụ tạo ấy đã giữ con xa Chúa, chúng chẳng hiện hữu nếu không ở trong Chúa. Chúa gọi con, Chúa kêu con và phá vỡ sự điếc của con; Chúa chiếu sáng, và ánh quang huy hoàng của Chúa phá tan sự mù quáng của con; Chúa tỏa hương thơm, và con thở hít, khao khát Chúa, nếm hưởng Chúa và con đói khát; Chúa chạm đến con, và con nồng cháy mong ước an bình của Chúa” (X, 27.38). Với những hình ảnh đó, Thánh Giám Mục thành Hippone tìm cách mô tả mầu nhiệm khôn tả về cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, với Tình Thương của Chúa biến đổi toàn thể cuộc sống.

Đó là một tình yêu không chút dè dặt đi trước chúng ta, nâng đỡ chúng ta và kêu gọi chúng ta suốt trong hành trình cuộc sống và có căn cội trong sự nhưng không tuyệt đối của Thiên Chúa.

Khi nói về sứ vụ Linh Mục, vị tiền nhiệm của tôi, Đức Chân Phước Gioan Phaolô 2, khẳng định rằng "Mỗi hành vi thừa tác dẫn đến sự yêu mến và phục vụ Giáo Hội, thì đồng thời cũng giúp tăng trưởng ngày càng sâu rộng hơn sự yêu mến và phụng sự Chúa Giêsu Kitô là Đầu, là Mục Tử và là Hôn Phu của Giáo Hội; tình yêu này luôn được coi như lời đáp trả tình yêu ân cần, tự nguyện và nhưng không của Thiên Chúa trong Chúa Kitô” (Tông Huấn Pastores dabo vobis, 25). Thực vậy, mỗi ơn gọi đặc thù đều nảy sinh từ sáng kiến của Thiên Chúa, là hồng ân tình thương của Chúa! Chính Chúa đi ”bước đầu” chứ không phải vì sự tốt lành đặc thù nào nơi chúng ta, đúng hơn đó là do sự hiện diện của chính tình thương Chúa được "đổ xuống trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Linh” (Rm 5,5).

Trong mọi thời đại, nơi nguồn cội ơn gọi của Chúa, đều có sáng kiến tình thương vô biên của Thiên Chúa, Đấng tỏ mình trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô. Như tôi đã viết trong Thông điệp đầu tiên của tôi "Deus caritas est - Thiên Chúa là Tình Thương”, ”trong thực tế Thiên Chúa trở nên hữu hình bằng nhiều cách. Trong lịch sử tình thương mà Kinh Thánh thuật lại cho chúng ta, Chúa đến gặp chúng ta, Ngài tìm cách chinh phục chúng ta, cho đến Bữa Tiệc Ly, cho đến khi Con Tim của Ngài bị đâm thâu qua trên thập giá, cho đến những cuộc hiện ra của Đấng Phục Sinh và những công trình to lớn nhờ đó, Ngài hướng dẫn hành trình của Giáo Hội sơ khai, qua những hoạt động của các Tông Đồ. Cũng vậy, trong lịch sử sau đó của Giáo Hội, Chúa không hề vắng mặt: Ngài luôn luôn đến gặp gỡ chúng ta - qua những người phản ánh Chúa; qua Lời của Ngài, trong các Bí tích, nhất là trong Thánh Thể” (n.17).
Tình yêu của Thiên Chúa tồn tại mãi mãi, trung tín với chính mình, với ”lời Ngài hứa qua muôn thế hệ” (Tv 105,8). Vì thế, cần tái loan báo, nhất là cho các thế hệ trẻ, vẻ đẹp có sức mời gọi của tình yêu Chúa, đi trước và tháp tùng: chính Chúa là mùa xuân bí mật, là động lực không hề thiếu, cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Anh chị em thân mến, chúng ta phải cởi mở cuộc sống đối với tình yêu Chúa, và đối với tình yêu hoàn hảo của Chúa Cha (Xc Mt 5,48) mà Chúa Giêsu Kitô hằng ngày nhắc nhở cho chúng ta! Mẫu mực cao cả nhất của đời sống Kitô hệ tại yêu mến ”như” Thiên Chúa; đây là một tình thương được biểu lộ qua sự hiến thân trọn vẹn một cách trung thành và phong phú”. Với nữ tu bề trên Đan viện ở Segovia, đau buồn vì thánh nhân bị treo chức trong những năm ấy, Thánh Gioan Thánh Giá trả lời và mời gọi chị nữ tu ấy hãy hành động theo ý định Thiên Chúa: "Chị đừng nghĩ đến những gì khác ngoài điều này là tất cả đều do Thiên Chúa an bài, và nơi nào không có tình yêu, thì chị hãy mang tình yêu vào và chị sẽ nhận được tình yêu” (Epistolario, 26).

Trên thửa đất hiến dâng ấy, mọi ơn gọi nảy sinh và tăng trưởng, trong sự cởi mở yêu mến Thiên Chúa và như hoa trái của tình yêu ấy. Và chính khi kín múc từ nguồn mạch đó trong kinh nguyện, siêng năng gặp gỡ Lời Chúa và các bí tích, đặc biệt là phép Thánh Thể, ta có thể sống tình yêu thương đối với tha nhân, nơi họ ta học cách nhận ra tôn nhan Chúa Kitô (Xc 25,31-46). Để diễn tả mối liên hệ không thể tách rời giữa ”hai tình yêu ấy” - mến Chúa và yêu người - nảy sinh từ cùng nguồn mạch thần linh và qui hướng về nguồn mạch ấy, Thánh Gregorio Cả Giáo Hoàng dùng thí dụ cây nhỏ bé: ”Trong thửa đất tâm hồn chúng ta (Thiên Chúa) đã trồng trước tiên là gốc rễ tình yêu đối với Ngài và sau đó tình yêu huynh đệ phát triển như những cành lá” (Moralium Libri, sive expositio in Librum B. Job, Lib. VII, cap. 24, 28; PL 75, 780D)
Hai kiểu diễn tả cùng một tình yêu duy nhất của Chúa như thế phải được những người quyết định bắt đầu hành trình phân định ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến sống một cách đặc biệt khẩn trương và với con tim tinh tuyền. Sống mến Chúa yêu người như thế là yếu tố quan trọng. Thực vậy, tình yêu đối với Thiên Chúa, Đấng mà các linh mục và tu sĩ trở thành những hình ảnh hữu hình, tuy là luôn luôn bất toàn - chính là động lực thúc đẩy đáp lại lời mời gọi thánh hiến một cách đặc biệt cho Chúa qua sự thụ phong linh mục hoặc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm. Câu trả lời hăng hái của thánh Phêrô với Chúa: "Thầy biết rõ là con yêu mến Thầy” (Ga 21,15) chính là bí quyết sống hiến dâng và sống trọn vẹn, nhờ đó được đầy tràn đầy vui mừng sâu xa.

Một sự biểu lộ cụ thể khác về tình yêu, lòng yêu người, nhất là đối với những người túng thiếu và đau khổ nhất, là sự thúc đẩy quyết liệt biến LM và người thánh hiến thành một người khơi dậy tình hiệp thông giữa dân chúng và là người gieo vãi hy vọng. Quan hệ giữa những người thánh hiến, nhất là Linh Mục, với cộng đoàn Kitô thật là điều sinh tử và cũng trở điều cơ bản đối với chân trời tình cảm của họ. Về điểm này, Thánh Cha Sở họ Ars thường lập lại: "Làm Linh Mục không phải là cho bản thân mình; nhưng là cho anh chị em” (Le curé d'Ars. Sa pensée - Son coeur, Foi Vivante, 1966, p.100).

Anh chị em thân mến trong hàng Giám Mục, Linh Mục, Phó tế, những người nam nữ thánh hiến, các giáo lý viên và nhân viên mục vụ, và tất cả anh chị em là những người dấn thân trong lãnh vực giáo dục các thế hệ trẻ, tôi tha thiết nhắn nhủ anh chị em hãy chăm chú lắng nghe những người ở trong cộng đoàn giáo xứ, các hội đoàn và phong trào khi họ nhận thấy có những dấu hiệu về ơn gọi linh mục hoặc đời sống thánh hiến đặc biệt. Điều quan trọng là tạo nên trong Giáo Hội những điều kiện thuận lợi để họ có thể đi tới chỗ thưa "xin vâng” quảng đại đáp lại tiếng gọi yêu thương của Thiên Chúa.

Một nghĩa vụ trong việc mục vụ ơn gọi là cống hiến những điểm định hướng để hành trình được kết quả. Yếu tố chủ yếu là yêu mến Lời Chúa, vun trồng một sự quen thuộc ngày càng gia tăng với Kinh Thánh và chăm chú và kiên trì cầu nguyện riêng và chung, để có thể nghe thấy tiếng Chúa gọi giữa bao nhiêu tiếng nói làm đầy đời sống thường nhật. Nhưng nhất là Thánh Thể là ”trung tâm sinh tử” của mỗi hành trình ơn gọi: chính trong Thánh Thể mà tình yêu Thiên Chúa đánh động chúng ta trong hy tế của Chúa Kitô, biểu lộ hoàn hảo tình yêu và chính trong Thánh Thể chúng ta luôn luôn tái học hỏi cách sống tình yêu Chúa "ở mức độ cao”. Lời Chúa, kinh nguyện và Thánh Thể là kho tàng quí giá để hiểu vẻ đẹp của một cuộc sống hoàn toàn tận hiến vì Nước Trời.

Tôi cầu mong rằng các Giáo Hội địa phương, qua các thành phần khác nhau, trở thành ”nơi” chăm chú phân định và kiểm chứng sâu xa về ơn gọi, mang lại cho người trẻ nam nữ một sự đồng hành khôn ngoan và vững chắc về tinh thần. Qua cách thức ấy, cộng đồng Kitô trở thành một sự biểu lộ Tình Yêu của Thiên Chúa Đấng giữ gìn nơi mình mọi ơn gọi. Năng động ấy đáp ứng những đòi hỏi của giới răn mới của Chúa Giêsu. Nó có thể diễn ra một cách hùng hồn và đặc biệt trong các gia đình gia đình Kitô, tình yêu gia đình vốn là sự diễn tả tình yêu của Chúa Kitô, Đấng đã hiến mình vì Giáo Hội (Xc Ep 5,32). Trong các gia đình, "là những cộng đoàn sống động và yêu thương” (GS 48), người trẻ có thể cảm nghiệm tuyệt vời về tình yêu dâng hiến ấy. Thực vậy các gia đình không những là nơi ưu tiên để huấn luyện về nhân bản và Kitô, nhưng có thể là ”chủng viện đầu tiên và tốt đẹp về ơn gọi sống đời thánh hiến cho Nước Chúa” (Gioan Phaolô 2, Tông Huấn Familiaris consortio, 53), giúp tái khám phá trong gia đình vẻ đẹp và tầm quan trọng của chức linh mnục và đời sống thánh hiến. Các vị Mục Tử và tất cả các tín hữu giáo dân hãy luôn biết cộng tác để trong Giáo Hội có thêm nhiều ”nhà và trường hiệp thông” theo kiểu mẫu Thánh Gia thất Nazareth, phản ánh một cách hài hòa trên trái đất cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Với những mong ước ấy, tôi thành tâm ban Phép Lành Tòa Thánh cho anh em đáng kính trong hàng Giám Mục, cho các Linh Mục, Phó tế, tu sĩ nam nữ và toàn thể giáo dân, đặc biệt là những người trẻ nam nữ, với tâm hồn ngoan ngoãn đang lắng nghe tiếng Chúa, sẵn sàng đón nhận tiếng gọi với lòng gắn bó và trung thành.
Vatican ngày 18 tháng 10 năm 2011

Biển Đức 16, Giáo Hoàng
G. Trần Đức Anh OP chuyển ý

Nguồn: VietVatican.net

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Tiếng gọi yêu thương


Một vị mục sư trung thành, đạo đức, đang đau nặng. Anh em tín đồ quỳ cạnh giường bệnh, cầu xin Chúa cứu chữa ông. Họ nhắc với Chúa rằng ông coi sóc bầy chiên của Người rất tận tâm và họ lập đi lập lại câu này:

- Chúa biết không! mục sư yêu mến Ngài biết bao!

Nghe vậy vị mục sư bèn xoay qua phía họ mà nói:

- Xin anh em đừng cầu nguyện như thế. Khi Maria và Marta sai người đi mời Đức Giêsu, thì họ không nói “Lạy Chúa, này kẻ yêu Chúa", nhưng nói: "Lạy Chúa, này kẻ Chúa yêu đang bị đau nặng”. Tôi được yên ủi chẳng phải vì tôi yêu Chúa cách bất toàn, nhưng vì Chúa yêu tôi cách trọn vẹn.

***


Nhiều khi chúng ta tưởng mình yêu Chúa nhưng chính Chúa mới là người yêu chúng ta trước, yêu vô điều kiện, và yêu không bến bờ. Đức Giêsu chính là mục tử tốt lành, Người luôn yêu thương đàn chiên, và yêu từng con chiên một. Chính Người yêu thương chăm sóc đàn chiên nên các con chiên mới được ăn trên đồng cỏ xanh, uống bên dòng suối mát. Chính Người lưu tâm bảo vệ đàn chiên, nên các con chiên mới an toàn khỏi kẻ bắt trộm, khỏi nanh sói dữ.



Người đã nói: ”Tôi biết các con chiên tôi”, thì phải hiểu là Người biết rõ chúng ta cần những gì cho linh hồn và thể xác, nên đừng băn khoăn xao xuyến. Hãy tin tưởng ở nơi Người. Nếu Người đã nói: ”Chiên tôi thì nghe tiếng tôi”, là Người muốn chúng ta chỉ lắng nghe duy nhất tiếng gọi yêu thương của Người. Đừng nghe theo một tiếng gọi nào khác. Nó có tên là ma qủy, thế gian và xác thịt. Nếu Người đã nói: "Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào", là Người muốn chúng ta được sống tràn trề bên dòng suối Lời Chúa và sung mãn với lương thực Thánh Thể của Người.

Chúa Nhật này là ngày cầu nguyện cho ơn gọi Linh Mục và tu sĩ. Chúng ta cần cầu nguyện cho có nhiều tâm hồn quảng đại, biết dấn thân vô điều kiện, và phục vụ vô vị lợi cho đàn chiên Chúa. Vì đàn chiên không thể thiếu chủ chiên. Chúng ta cần cổ vũ cho ơn gọi Linh Mục và tu sĩ bằng cách khích lệ tinh thần và hỗ trợ tài chính cho các mầm non ơn thiên triệu trong giáo phận và giáo xứ của mình. Chúng ta cần tích cực dạy cho con cháu biết lắng nghe Lời Chúa, chuyên tâm cầu nguyện, hăng say làm việc tông đồ, và quan tâm phục vụ người nghèo. Nhờ vùng đất màu mỡ này mà ơn gọi Linh Mục và tu sĩ sẽ nảy sinh.

***


Lạy Chúa, Chúa là mục tử tốt lành, xin dẫn dắt chúng con đi trên nẻo đường của Chúa, để chúng con được no thỏa ân tình của Ngài.

Xin ban cho chúng con những chủ chiên nhân lành, chỉ biết say mê Chúa, yêu thương, phục vụ, và chăm lo cho đàn chiên Chúa, để chia sẻ với Chúa nỗi bận tâm về một đàn chiên "được sống và sống dồi dào". Amen.

Nguồn: MeMaria.org

Cầu nguyện cho các Linh Mục và tôn trọng các ngài



Thị nhân Mirjana bên Mễdu nói: “Nếu bạn có thể thấy được những giòng nước mắt của Đức Mẹ tràn trề trên mặt …” khi Người hiện ra với cô ngày 02/10/2003. Mặc dù Mẹ khóc cho những người con vô tín thật nhưng Mẹ cũng khóc cho các “LINH MỤC CON CƯNG CỦA MẸ” nữa. Cô đã phát biểu những lời này trong buổi nói chuyện vào mùa Thu ở Mễdu. Cô nói, nếu những người con được Mẹ yêu thương cách riêng vẫn là những linh mục của Mẹ, bởi vì: “Các ngài là những người đại diện cho Con của Mẹ.”

Mirjana nói về cách đối xử của giáo dân bên Mễdu khác hẳn với cách đối xử của dân Tây Phương và dân Mỹ.

Tại Mễdu, khi một Linh Mục bước vô nhà, không một người nào dám ngồi trước khi vị Linh Mục ấy chưa ngồi xuống. Và không ai dám mở lời khi vị Linh Mục chưa mở lời. Cô nói: “Chúng tôi hiểu rằng cácLinh Mục đại diện cho Chúa nên khi các ngài bước vô nhà cũng giống như chính Chúa Giêsu bước vô nhà vậy. Thật sự chúng ta không có quyền phê phán các Linh Mục là những người đại diện của Chúa Giêsu vì đó là việc của Chúa chứ không phải chúng ta. Nhưng Thiên Chúa sẽ là người phán xét chúng ta khi đối xử tệ với Linh Mục”.

Đức Mẹ nói: “Các con không được phê bình hay xét đoán các Linh Mục. Các ngài rất cần những lời cầu nguyện, yêu thương và sự giúp đỡ của các con. Hãy cầu nguyện cho các ngài hơn là bình phẩm chỉ trích”.



Trong câu chuyện với sơ Emmanuel, thị nhân Vicka tái xác nhận những lời nói của Mirjana: “Nếu tôi nghe được một lời nói là Giám Mục này bị lên án vì tội này tội nọ…Tôi phải hỏi lại mình: ‘Tôi là ai mà dám lên án hành động của ngài? Không! Tôi không dám phê phán hay xét đoán ai cả. Và tôi sẽ xét lại bản thân và cật vấn mình. Trong nhiều năm nay Đức Mẹ luôn luôn kêu gọi chúng ta cầu nguyện cho các Linh Mục, Giám Mục và Đức Thánh Cha. Tôi phải làm sao để giúp các ngài? Tôi có cầu nguyện cho các ngài với trọn con tim tôi không? Đó là câu hỏi. Và phần còn lại để Chúa xét xử, vì ngài là Đấng xét xử chứ không phải tôi. Phần của tôi là phải giúp các ngài, phải làm hết sức mình để giúp họ. Tôi không muốn phí phạm thời giờ lên án kẻ này người nọ. Trong khi bình phẩm, chỉ trích thì nhiều mà lời cầu nguyện thì quá ít”.

Trong một buổi nói chuyện trong giáo xứ của Siroki Brieg, cha Jozo nói: “Một thiên chức Linh Mục không thể so sánh với bất cứ một nghề nghiệp nào. Thiên chức Linh Mục là một bí tích được chọn bởi Thiên Chúa, được sức dầu, được thánh hiến, và họ thuộc về Giáo Hội. Giáo Hội có trách nhiệm bảo vệ các Linh Mục. Các bạn không thể nhìn một Linh Mục như một người lãnh tiền lương bổng được, các ngài không giống như các nghề nghiệp khác như bác sĩ, luật sư”.

Ngài khuyên chúng ta việc quan trọng là hỗ trợ các Linh Mục với lời cầu nguyện và yêu thương bởi vì: “Không có các Linh Mục thì không có bí tích hòa giải, không có Linh Mục thì không có Thánh Lễ. Hãy giúp đỡ các ngài nhất là trong những lúc khó khăn, bởi vì các ngài cũng chỉ là con người. Các ngài cũng mệt mỏi, cũng vấp vã, nhưng các ngài cần sự giúp đỡ để vượt qua...”

Ngài tiếp trong sự tiếc thương: “Có những tin đồn khiếm nhã giật gân đã xảy ra trong thời đại chúng ta. Tất cả đều tới từ thù địch, từ Satan, từ những người muốn tiêu diệt Giáo Hội. Chúng ta cần Linh Mục vì chúng ta cần sự tha thứ, chúng ta cần yêu thương, chúng ta cần ơn sủng và sự cứu độ”.

Cha van xin: “Hãy cầu nguyện cho các Linh Mục. Yêu thương các ngài. Ước chi những tư tưởng xấu xa, ngờ vực đừng bao giờ nảy sinh trong tim các bạn, trong linh hồn các bạn về sự chống đối các Linh Mục. Ước mong rằng các bạn không bao giờ nên ngờ vực cácLinh Mục.. .Hãy cầu nguyện cho các ngài được ơn kiên trì trong ơn thánh…”

Ngài van xin: “Hãy yêu thương cá Linh Mục, bảo vệ các ngài, và nâng đỡ các ngài”.

Trong buổi cầu nguyện, cha Jozo nói giáo dân trong giáo xứ của ngài luôn luôn cầu nguyện cho các Linh Mục. Ngài nói: “Trong 16 năm nay họ thực hiện một việc tông đồ được gọi là ‘Margarita’. Đây là tên của một loài hoa có 7 cánh. Mỗi cánh là biểu tượng của một ngày trong tuần. Ngay chính giữa nhụy hoa họ viết tên một Linh Mục được cầu nguyện cho trong tuần đó. Và trong 7 cánh hoa đó, giáo dân viết 7 tên người trên mỗi cánh hoa, và 7 người đó mỗi ngày có nhiệm vụ cầu nguyện cho Linh Mục tuần đó. Và khi tới ngày ‘Sinh nhật’ của Linh Mục nào đó, Phục Sinh, Noel, v.v. hay một ngày lễ đặc biệt, họ đem tới cho vị Linh Mục đó một dấu chỉ yêu thương và nói với ngài: “Cha ơi! Đừng sợ, chúng con bảo vệ cha bằng hai đầu gối của chúng con, (nghĩa là quì cầu nguyện cho ngài). Khi cha tuyên xưng Lời Chúa thì chúng con quỳ thế cho cha để cha có thể bước đi ngay ngắn (thánh thiện). Tay chúng con nâng cao trong tư thế van xin trong khi cha cầu nguyện, ban phép lành, giảng Phúc Âm, và khi cha ban ơn sủng cho chúng con. Ca luôn luôn được nhớ trong những lời cầu nguyện của chúng con”.

(Thật là một việc làm đáng ca ngợi).

Ở trong nước Mỹ cũng có nơi đã nỗ lực thực hành tích cực giống vậy. Một người trong một nhóm cầu nguyện đã đứng lên kêu gọi mọi người trong giáo xứ của bà tham gia cầu nguyện mỗi ngày cho các Giám Mục, các Linh Mục và các thày Phó tế.

Trong giáo xứ của tôi, mỗi sáng trước Thánh Lễ chúng tôi đều giơ về phía trước để cầu nguyện cho cha quản nhiệm và xin Chúa chúc lành cho ngài trước khi ngài khởi sự Thánh Lễ.

Trong nhóm cầu nguyện của chúng tôi cũng có một danh sách ghi tên các Linh Mục mà chúng tôi quen biết hầu mọi người đều có thể cầu nguyện cho các ngài.

Đức Mẹ luôn kêu gọi mọi người cầu nguyện cho các Linh Mục. Các Linh Mục và Giáo Hội rất cần lời cầu nguyện của chúng ta.

Trong Mt :32-38, Chúa Giêsu nói: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt. Các con hãy xin Cha của các con ban cho thêm nhiều thợ gặt…” Đào tạo được một Linh Mục không phải dễ, bởi vậy chúng ta nên cầu nguyện nhiều cho các ngài được ơn bền đỗ để các ngài dẫn dắt con chiên của Chúa. Thời buổi nhiễu nhương Linh Mục quá thiếu chúng ta cần cầu nguyện xin Chúa ban cho thêm nhiều tông đồ cho Chúa vì KHÔNG CÓ LINH MỤC SẼ KHÔNG CÓ GÌ CẢ. ĐÓ LÀ ĐIỀU NÊN SUY NGHĨ.

Hiện tại nhiều nơi trên đất Mỹ không có Thánh Lễ hằng ngày, ngay cả Thánh Lễ Chúa Nhật vì thiếu Linh Mục. Bởi vậy hãy cám ơn Chúa đã cho chúng ta ngày ngày có Thánh Lễ, ngày ngày được viếng Chúa, ngày ngày được tới lãnh ân sủng từ đôi tay các Linh Mục và đừng phê phán các ngài.

Mẹ Têrêsa nói sở dĩ ngày nay chúng ta không đủ các Linh Mục là vì chúng ta không chịu cầu nguyện cho họ. Phải cầu nguyện xin thêm nhiều Linh Mục vì đó là bổn phận của chúng ta.

Còn một cách khác cầu nguyện cho các Linh Mục là nhận một Linh Mục nào đó rồi cầu nguyện cho họ mỗi ngày. Chính các sơ bên New Mexicô, dòng tôi tá Máu Châu Báu Chúa đã làm chuyện này.

Tháng 07 năm 1992, Đức Mẹ kêu gọi mọi người cầu nguyện đặc biệt cho các Linh Mục và Đức Thánh Cha.

Chúng Ta Hãy Cầu Nguyện Cho Các Linh Mục Và Cổ Động Mọi Người Cầu Nguyện Cho Các Ngài. Vấn Đề Là Sống Hay Chết. Không Linh Mục - Sẽ Không Có Bánh Hằng Sống. Xin Chúa Thương Xót Và Nâng Đỡ Các Linh Mục. Hãy Làm Đi Các Bạn.

June Klines
Thuận Hà chuyển ngữ

Cầu nguyện thay đổi mọi chuyện


Người ta cứ tưởng rằng giữa thời đại văn minh, tiên tiến hiện nay, khoa học và kỹ thuật có thể giải quyết được mọi chuyện lo toan của của con người, từ bệnh tật, đói khổ, gian lao, thiên tai, chết chóc, nhưng trái lại, thời đại mới này càng đem đến cho con người nhiều nỗi lo toan và bao cơn khủng hoảng thất vọng hơn: gia đình đổ vỡ, bệnh AIDS tràn ngập thế giới, thất nghiệp gia tăng, khủng bố hoành hành thế giới... Và từ chính những thung lũng trần gian này, con người nhận biết mình bất lực và từ đó, con người thời đại hôm nay vẫn tin vào một Đấng Chí Tôn và cầu nguyện với Ngài. Cả thế giới vẫn đi vào cầu nguyện. Cầu nguyện trở thành nhu cầu trong cuộc sống con người.



* Cầu nguyện thế nào đem lại hiệu năng nhất?

Bà Stomie Omartian định nghĩa cầu nguyện thật giản dị chỉ là tâm tình với Chúa, nối kết với Chúa, tận hiệp với Chúa. Đó là nối kết mối giây liên hệ yêu thương với Chúa. Cầu nguyện chính là khuả trống chính tâm hồn mình với Đấng đã yêu thương mình trước khi mình biết về Ngài và để Ngài nói chuyện với mình, tương tự như câu chuyện Chúa gặp nàng thiếu phụ Samari bên bờ giếng Giacóp.

Có nhiều thể thức cầu nguyện với Chúa, ở đây chúng ta sẽ cùng với bà Omartian đề cập tới thể thức nối kết với Chúa nhanh chóng nhất, hiệu năng nhất, đó là tôn thờ và ca ngợi Ngài. Tôn thờ (worship) là biểu lộ thái độ và ca ngợi (praise) là bầy tỏ tâm tình, tuy diễn đạt như hai cách thức khác nhau nhưng thực sự nối kết với nhau mật thiết như một, do đó khi chúng ta dùng danh từ ca ngợi đã kể như hàm chứa ý nghĩa tôn thờ trong đó. Tôn thờ và ca ngợi là hình thức cầu nguyện cao quang nhất vì chúng ta tập trung hết trí khôn và hết tâm hồn khỏi chúng ta để hoàn toàn quy hướng lên Chúa. Những gì chúng ta thông đạt lên Ngài chỉ là tình yêu thuần khiết, tôn kính, chúc tụng, ca khen và tạ ơn Ngài. Chúng ta dâng lên Ngài những lời chúc tụng, những tiếng hát tán dương vì Ngài rất xứng đáng như thế. Chúng ta dâng lên Ngài niềm ao ước chúng ta muốn thuộc trọn về Ngài. Chúng ta muốn tiến đến gần Ngài để được gần kề Ngài hơn. Và như vậy, khi chúng ta thờ phượng Chúa, chúng ta được gần kề Ngài nhất hơn bao giờ hết, chỉ vì lời ca ngợi của chúng ta đang đón mừng Ngài đến hiện diện giữa chúng ta.

Phải, một trong những điều kỳ diệu nhất của Thiên Chúa chính là Ngài sống ở giữa những lời ca ngợi của chúng ta. Thánh Vịnh 22:4 đã diễn tả Ngài sống ở giữa những lời ca ngợi của Dân Ngài: "Còn Người, Người là Thánh, Người hiển ngự giữa lời ca của Israel." Và như vậy, khi chúng ta ca ngợi Ngài, không phải chúng ta tôn thờ một vị thần minh xa xăm, lạnh lùng, nhưng Ngài là vị Thiên Chúa muốn đến ở giữa chúng ta. Và khi chúng ta ca ngợi Ngài, thực sự Ngài đang đến ở giữa chúng ta.

Còn gì tuyệt diệu hơn được. Đó là quà tặng tuyệt vời Ngài ban cho chúng ta. Mỗi lần chúng ta tôn thờ và ca ngợi Ngài là một lần Ngài đến hiện diện và ở giữa chúng ta.  Và còn tuyệt vời hơn thế nữa, mỗi khi chúng ta ca ngợi Ngài, nhiều chuyện thay đổi xảy ra. Các trái tim thay đổi, các hoàn cảnh thay đổi, các cuộc sống thay đổi, các trí khôn thay đổi, các thái độ thay đổi.

Chúng ta có dám tin thế không? Mỗi lần chúng ta ca ngợi Ngài, có một điều gì đó thay đổi trong chúng ta, hoặc trong hoàn cảnh sống của chúng ta, hoặc nơi những người sống chung quanh chúng ta và hoàn cảnh sống của họ? Có thể chúng ta chưa nhận ra những tác động ấy, nhưng chúng ta tin rằng chuyện ấy xẩy ra vì không thể khi đụng chạm đến sự hiện diện của Chúa mà không có chuyện gì thay đổi. Lý do ở đây chính là khi chúng ta đến đụng chạm tới Thiên Chúa, Ngài cũng sẽ đụng chạm đến chúng ta, như trong câu chuyện người đàn bà bị băng huyết đụng đến gấu áo Chúa Giêsu.

Và như vậy, giờ đây chúng ta hiểu được ca ngợi chính là lời cầu nguyện thay đổi được mọi chuyện.

Ca ngợi trở thành một loại thờ phượng biến đổi đời sống chúng ta. Chính khi chúng ta ca ngợi Thiên Chúa là một lần chúng ta được Ngài chúc phúc, được Ngài tăng cường sức mạnh, được Ngài ban cho sang giầu hơn, tràn đầy hơn, và thay đổi tốt hơn. Chúng ta hãy mạnh dạn đi vào thử nghiệm loại cầu nguyện bằng ca ngợi Chúa, chúng ta sẽ nhận ra tiến trình Chúa thay đổi chúng ta. Từ đó chúng ta sẽ ý thức được mỗi lần chúng ta chúc tụng, ca ngợi Ngài, chúng ta sẽ cảm nghiệm được đây là một việc thờ phượng đem lại thay đổi đời sống: thay đổi tầm nhìn, thay đổi trí óc, thay đổi hoàn cảnh, thay đổi tâm tư, thay đổi lối sống...

* Tại sao lại cần phải ca ngợi Chúa? Một kho tàng ẩn giấu.

Nếu chúng ta nhìn thấu đáo vào cuộc sống từng người, chúng ta sẽ nhận ra mỗi người đều có những gì họ tôn sùng và việc tôn sùng đó tác động trên lối sống của họ. Có những người tôn sùng những bậc thượng trí. Người khác tôn sùng tiền bạc và những sở hữu vật chất. Người khác lại tôn sùng địa vị và công việc bề thế. Nhiều người khác lại tôn sùng những chuyện như sắc đẹp, ăn uống, sắc dục, âm nhạc, giải trí, bạn bè... Nói tóm lại những gì chúng ta tôn sùng đều tác động trên chính cuộc sống chúng ta.

Sự thật là chúng ta sẽ trở nên giống điều hay là người mà chúng ta tôn sùng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa chúng ta tôn sùng một giọng danh ca như Elvis và chúng ta có thể trở nên giọng ca tuyệt vời như anh. Điều đó có nghĩa là khi chúng ta tôn sùng một điều gi đó, hay ai đó, chúng sẽ chẳng có năng lực cứu vãn được chuyện gì. Khi chúng ta tôn thờ hoặc đi tìm kiếm những thần tượng khác, chúng sẽ chẳng thay đổi được chúng ta, biến hoá chúng ta, giúp chúng ta tìm thấy vận mệnh của chúng ta. Trái lại khi chúng ta tôn thờ Thiên Chúa, Ngài có thể làm được tất cả những chuyện đó và còn hơn thế nữa.

Chúng ta càng tôn thờ Chúa, chúng ta càng trở nên giống Ngài. Khi chúng ta đi tìm kiếm Chúa và tôn thờ Ngài, chúng ta sẽ trở thành tất cả những gì chúng ta đã được tạo dựng. Ngài tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài.

Lý do tại sao từ trước tới nay chúng ta cũng như nhiều tín hữu khác không ca ngợi Chúa đủ, chính vì chúng ta không hiểu biết về Thiên Chúa là ai. Chúng ta cũng chẳng hiểu tại sao lại phải tôn thờ Ngài, ca ngợi Ngài. Hơn thế nữa chúng ta cũng chẳng biết ảnh hưởng thần lực của việc ca ngợi Chúa tác động trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta đã không nhận ra quà tặng nơi việc ca ngợi Chúa đem đến cho chúng ta, do đó chúng ta hoàn toàn không hiểu được thần lực ẩn giấu chứa đựng trong đó.

Nếu chúng ta thực sự hiểu biết Thiên Chúa là ai, lời ca ngợi của chúng ta sẽ không bao giờ ngừng, lời ca ngợi của chúng ta sẽ không thể nén lại được. Chúng ta thực sự sẽ chẳng tôn thờ Chúa cho đến khi chúng ta tìm đến hiểu biết Ngài. Chúng ta càng đến chúc tụng tôn thờ Ngài, chúng ta càng cảm nhận những mạc khải mới mẻ về đặc tính của Thiên Chúa. Chúng ta càng hiểu biết nhiều hơn về Ngài là ai. Và chúng ta càng hiểu biết Ngài là Đấng như thế nào, chúng ta càng muốn biểu lộ tình yêu thương và tôn thờ của chúng ta lên Ngài.

Thiên Chúa tạo dựng chúng ta cho Ngài và tôn thờ Ngài. Nhưng Ngài không muốn tạo dựng chúng ta như những con người máy để ca ngợi Ngài. Trái lại Ngài muốn tạo dựng chúng ta để chúng ta đi vào hiệp thông với Ngài, dự phần với Ngài trong cuộc sống. Do đó mỗi lần chúng ta ca ngợi Ngài là ai và những gì Ngài đã làm, thần lực thay đổi cuộc sống của Ngài tác động trên cuộc sống chúng ta. Sự hiện diện của Ngài đến làm mềm trái tim chúng ta để Ngài uốn nắn theo hình thái Ngài mong muốn. Ca ngợi chính là phương thế Chúa dùng để biến đổi cuộc sống chúng ta và giúp chúng ta thực hiện ý muốn của Ngài và làm tôn vinh Ngài.

Đây là điều kỳ diệu nhất khi chúng ta ca ngợi Chúa. Đây là một quà tặng được tìm thấy giấu kín  khi chúng ta ca ngợi và tôn thờ Ngài. Dĩ nhiên Chúa là Đấng cao cả, hoàn thiện và quyền năng, nhưng con người chúng ta không hiểu biết đủ cũng như chúc tụng đủ, do đó khi chúng ta ca ngợi Ngài, chúng ta bộc lộ tất cả những đặc tính ấy, vinh quang ấy lên Ngài.

Thờ phượng Chúa là cách thức Ngài có thể nhìn thấy chúng ta quên đi chính mình và ngừng bám vào thế giới bên ngoài và bắt đầu quy hướng về Ngài. Và như vậy Chúa muốn dùng việc thờ phượng, ca ngợi để phục hồi, để đổ đầy, để tác động, để chúc phúc, để ban ơn theo cách thức chúng ta không ngờ. Như vậy mỗi lần chúng ta ca ngợi Ngài là một lần Ngài thi ân cho chúng ta.

Bà Omartian kể lại ý nghĩa của niềm vui khôn tả khi trong một lần bà đến ca ngợi Chúa. Đó là ngày đặc biệt  khi nhiều người cùng tụ họp nhau ca ngợi Chúa và mọi người đều cảm nhận được thần lực của Thánh Thần Chúa tràn ngập căn phòng. Bỗng dưng Chúa làm bùng nổ trái tim khô khan của bà. Tâm hồn bà bừng cháy và bà cảm nhận được tình yêu thương kỳ diệu và niềm hoan lạc của Chúa tràn ngập tâm hồn bà mà từ trước tới nay bà chưa bao giờ cảm nhận được như thế. Bà nhìn ra sự hiện diện tràn đầy của Chúa trong tâm hồn bà. Ngày đó là ngày hạnh phúc nhất của bà. Niềm vui và hạnh phúc ở đây không tùy thuộc một chuyện gì khác hơn là sự hiện diện tràn đầy của Chúa và sự hiện diện này chảy tràn trong bà bằng tình yêu thương của Ngài. Bà đã nhận được tất cả những ân huệ cao cả ấy khi đến ca ngợi Ngài.

Những chúc phúc cao cả nhất sẽ đến với chúng ta khi chúng ta ngừng tập trung vào mình và hoàn toàn tập trung vào Chúa khi tôn thờ và ca ngợi Ngài. Phải chăng Thiên Chúa tuyệt diệu không ban cho chúng ta những gì tốt đẹp của Ngài như những chúc phúc khi chúng ta đến ca ngợi Ngài?

Ca ngợi trở thành phương thế tuyệt hảo để Thiên Chúa đổ đầy chính Ngài nơi cuộc sống chúng ta. Ca ngợi không phải là cách thức chúng ta vận dụng để Ngài thi ân. Ca ngợi chính là quà tặng Ngài ban cho những ai thực lòng yêu mến Ngài và tôn thờ Ngài. Chỉ có những ai đặt Ngài lên trên hết, họ mới khám phá ra được sức mạnh ẩn giấu của việc ca ngợi.

(Hoàng Quý)

Tôi đã xin... và Chúa đã ban


Tôi xin Sức Mạnh...


Và Chúa ban những Khó Khăn để tôi được mạnh mẽ.


Tôi xin Khôn Ngoan...


Và Chúa ban các Vấn Đề để cho tôi giải quyết


Tôi xin Sung Túc...


Và Chúa ban Trí Tuệ để cho tôi làm việc


Tôi xin Can Đảm...


Và Chúa ban Hiểm Nguy để cho tôi vượt qua.


Tôi xin Tình Yêu...


Và Chúa ban những Người Khốn Khổ để cho tôi giúp đỡ


Tôi xin Ân Huệ...


Và Chúa ban các Cơ Hội.


Tôi không nhận được một điều nào tôi muốn...


Tôi nhận được mọi thứ tôi cần!


(Maranatha sưu tầm)