Hiển thị các bài đăng có nhãn Đời sống Giáo Hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đời sống Giáo Hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

Cuộc chiến chống lại Luxiphe


Tháng Giêng năm 2012 nhà xuất bản Piemme phát hành cuốn ”L'ultimo esorcista - Người trừ quỷ sau cùng”. Đó là tác phẩm của Cha Gabriele Amorth 87 tuổi thuộc dòng Thánh Phaolô và là Linh Mục trừ quỷ của Giáo Phận Roma. Cha cũng là Niên Trưởng Linh Mục đoàn trừ quỷ. Chính Đức Hồng Y Ugo Poletti (1914-1997) khi làm Giám Quản Roma đã chỉ định Cha vào chức vụ này hồi năm 1986. Năm 1990 Cha thành lập Hiệp Hội Quốc Tế Các Linh Mục trừ quỷ và làm Chủ Tịch hiệp hội cho đến năm 2000. Hiện nay Cha là chủ tịch danh dự của Hiệp Hội.

Cha Gabriele Amorth xuất thân từ trường của Cha Candido Amantini (1914-1992), một Linh Mục thánh thiện thuộc dòng Thương Khó. Án phong chân phước cho Cha Candido đã khởi sự và hiện nay Cha được gọi là Đấng đáng kính. Lúc sinh thời Cha Candido Amantini là Linh Mục trừ quỷ nổi tiếng tại nhà nguyện Scala Santa ở thủ đô Roma.

Xin trích vài đoạn ngắn trong cuốn ”Người trừ quỷ sau cùng” của Cha Gabriele Amorth.

Cứ mỗi lần cử hành nghi thức trừ quỷ là tôi đi vào cuộc chiến. Trước khi bắt đầu, tôi khoác lên người chiếc áo giáp. Đó là dây stola màu tím. Dây stola này có phần cuối dài hơn dây stola mà các Linh Mục mang khi dâng Thánh Lễ. Dây stola này cũng thường được dùng để choàng lên đôi vai của người bị quỷ ám. Và thật có công hiệu. Nó làm cho người bị quỷ ám được ngồi yên, nếu trong lúc diễn ra nghi thức trừ quỷ họ múa máy tứ tung, bước đi ngoằn nghèo, trào nước bọt, la hét ầm ĩ với một sức mạnh phi thường và đập phá dữ dội. Lúc đó tôi cầm trong tay cuốn sách bằng tiếng la tinh với công thức trừ quỷ. Một bình đựng nước thánh mà thỉnh thoảng tôi lấy nước thánh rảy lên người bị quỷ ám và một Cây Thánh Giá.

Cuộc chiến đấu với ma quỷ trong nghi thức trừ quỷ diễn ra hàng giờ, hàng giờ. Và không bao giờ kết thúc với việc làm cho ma quỷ ra ngay khỏi người nó ám hại. Để giải thoát một nạn nhân khỏi sự ám hại của ma quỷ cần đến hàng năm. Satan rất khó bị quật ngã. Chính vị Linh Mục trừ quỷ phải đánh bật Satan ra khỏi người nó ám hại. Nhân danh Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Linh Mục trừ quỷ bắt buộc Satan phải ra khỏi người bị nó ám hại. Trong khi đó thì Satan cố gắng cầm cự và đối phó bằng đủ mọi phương thế ..

Vị Linh Mục trừ quỷ không bao giờ đối thoại với Satan. Ngài chỉ ra lệnh cho nó. Nếu ngài đối thoại với nó, Satan sẽ tìm cách làm cho vị Linh Mục bị rối trí rồi đi đến chỗ đánh bại được vị Linh Mục trừ quỷ.

Xin thuật lại một trong những lần trừ quỷ đầu tiên của tôi. Đó là lần làm nghi thức trừ quỷ cho một nông dân 25 tuổi. Khi nghi thức trừ quỷ bắt đầu, người bị quỷ ám trở thành một tượng muối. Không nói. Không phản ứng. Anh ngồi bất động trên chiếc ghế bằng gỗ mà tôi đặt anh ngồi vào đó. Tôi đọc thánh vịnh 53. Khi kết thúc, bỗng chốc anh ngẩng đầu lên và đăm đăm nhìn tôi. Cùng lúc anh đùng đùng nổi giận la hét ầm ĩ làm cho thất kinh. Anh trở nên đỏ gay đỏ gấc. Rồi anh nói lộng ngôn, nói lời xúc phạm và đe dọa. Tôi vội vàng làm ngay nghi thức trừ quỷ. Tôi làm nghi thức cho đến phần “Praecipio tibi - Ta ra lệnh cho ngươi” thường là lời cầu chung kết. Người bị quỷ ám vẫn tiếp tục gào thét. Vị Linh Mục trừ quỷ ra lệnh cho Satan phải xưng tên. Nó liền trả lời bằng tiếng Anh: I am Lucifer - Tôi là Luxiphe.

Ngay khi ấy tôi cảm thấy rúng động vì biết chắc chắn mình đang đối diện với Satan.

Rồi người bị quỷ ám trở thành một khúc gỗ. Đôi chân cứng đơ giơ ra phía trước. Cái đầu thì kéo dài ra đàng sau. Anh bỗng đứng thẳng lên không, cách chiếc ghế ngồi khoảng nửa thước. Anh đứng lơ lửng trên không như thế trong vòng vài phút. Rồi tôi nghe một cái rầm và người bị quỷ ám rơi ngồi xuống trên chiếc ghế. Sau cùng, người nông dân bị quỷ ám nói lắp bắp bằng tiếng Anh:

Tôi sẽ xuất ra khỏi đây ngày 21 tháng 6 lúc 15 giờ.

Và đã xảy ra đúng như vậy.

... Khi ấy, một người tới quỳ xuống trước mặt Đức Chúa GIÊSU và nói: ”Thưa Thầy, xin thương xót con trai con, vì cháu bị kinh phong và bệnh tình nặng lắm .. Con đã đem cháu đến cho các môn đệ của Thầy chữa, nhưng các ông không chữa được”. Đức Chúa GIÊSU đáp: ”Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin và gian tà! .. Hãy đem cháu lại đây cho Thầy”. Đức Chúa GIÊSU quát mắng tên quỷ, quỷ liền xuất, và đứa bé được khỏi ngay từ giờ đó .. Bấy giờ các môn đệ đến gần hỏi riêng Đức Chúa GIÊSU rằng: ”Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy?” Người nói với các ông: ”Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có đức tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: ”rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được. Giống quỷ này không chịu ra, nếu người ta không ăn chay cầu nguyện” (Matthêu 17,14-21).

(”Rogate ergo”, Rivista di Animazione Vocazionale, Maggio 2012, Anno LXXV, trang 57)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2012

Chúa Thánh Thần, ngôi vị sống động

Fr Fiorello Mascarenhas, SJ., là một linh mục đầy sức lôi cuốn do tài nói chuyện của ngài. Sống tại Bombay, Ấn Độ. Ngài là giám đốc thường trực của ICCRS (International Catholic Charismatic Renewal Services) tại Rôma từ 1981-1984. Như vậy, ngài có nhiều dịp tiếp kiến cá nhân và đối thoại với đức Gioan Phaolô II và các viên chức Vatican. Ngài từng thăm viếng trên 80 nước và giảng tĩnh tâm cho các Giáo sĩ, thuyết trình tại Leaders Seminars ...



Lâu lắm rồi, Chúa Thánh Thần trở thành một điều khoản trong Kinh Tin Kính, Người là một thực tại sống động trong kinh nghiệm của Giáo hội hoàn cầu. Sách Công Vụ các Tông đồ có thể mang nhan đề khác là 'Các hoạt động của Chúa Thánh Thần', vì trên mỗi trang sách người ta cảm nhận được sự hiện diện của Thánh Thần, chân thực hơn và năng động hơn cả tên tuổi của những người nam và nư được ghi nhận trong đó. Người được nói đến như là một sự hiện diện vừa đáng yêu và bảo đảm : Thánh Thần khơi gợi lòng dũng cảm trong các Tông đồ (Cv 8,29-39); Người ban sức mạnh cho các vị tử đạo (7,55); Người đem Phêrô, một người Do-thái đến nhà ông Cornelius, một người ngoại (10,19 t); Người tuyển chọn những con người để sai họ đi thi hành sứ vụ (13,2) ; Người là niềm vui và là sự bảo đảm cho những ai bị bắt bớ (13,50 tt); Người điều khiển các phán quyết được thực hiện trong Giáo hội mới khai sinh (15,28) ; Người hướng dẫn các chuyến đi của các Tông đồ (16,6 t); nhất là Người chỉ đạo cuộc đời nhà truyền giáo Phaolô (20,22-24)...

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống: CHÚA THÁNH THẦN ĐANG LÊN TIẾNG

Chúa Giêsu đã về Trời. Công cuộc cứu rỗi nhân loại được chuyển giao cho Hội Thánh của Chúa Giêsu nhờ nguồn trợ lực của Chúa Thánh Thần.

Giờ đây, chính Chúa Thánh Thần khơi dậy trong mỗi chúng ta, trong cộng đoàn, trong Giáo Hội mọi Lời Đức Kitô đã dạy, và làm cho Lời ấy sống động trong mỗi chúng ta và trên toàn thế giới.

Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012

Nói chuyện với một người vô thần về Kitô giáo


Cách đây không lâu, chủ nghĩa vô thần là một hệ thống tín ngưỡng mà họ không dám nói tên. Ngay cả người hoài nghi hăng hái nhất cũng có lúc miễn cưỡng bảy tỏ niềm tin, hoặc chí ít là đối với những phúc lành là nguồn cội của nhân loại.

Nhưng điều này không còn nữa. Chủ nghĩa vô thần trở thành một ảnh hưởng mạnh mẽ và đang phát triển trong nền văn hoá của chúng ta. Bạn có thể nhìn thấy chúng ở mọi nơi, từ kệ trưng bày những quyển sách bán chạy nhất tại nhà sách cho đến những miếng dán hình con cá (biểu tượng của Kitô giáo) bị biến hoá theo kiểu Darwin trên xe hơi nơi đường phố. Những người theo chủ nghĩa vô thần thoải mái tuyên bố họ là vô thần, thoải mái phát huy chủ nghĩa vô thần và thoải mái gièm pha tôn giáo, và theo những nhà vô thần lỗi lạc, tôn giáo nằm trong danh sách những ơn lành của nhân loại, ở nơi nào đó giữa bệnh bạch cầu và Chủ nghĩa Phát xít.

Và trong thời đại ngày nay, chúng ta đối mặt với chủ nghĩa vô thần thường xuyên hơn, nhưng Kitô hữu đôi khi nhận thấy mình không được chuẩn bị tốt để đương đầu với kiểu chủ nghĩa vô thần mạnh mẽ này. Đặc biệt đối với những người suốt cả đời là Kitô hữu, những lý luận của những người theo thuyết vô thần quá xa lạ đối với họ làm cho họ không biết phản ứng lại thế nào, và thường rơi vào trạng thái tức giận (“Làm sao bạn dám nói thế?!”) hoặc trạng thái lo sợ (“Nếu họ nói đúng thì sao?!”), cả hai trạng thái đều không tốt, làm nguy hại đến vai trò chứng nhân của một Kitô hữu, và giúp cho những người vô thần càng vững vàng trong chủ nghĩa vô thần của mình.



Nếu chúng ta sẽ phải đương đầu ngày một nhiều hơn với những người theo thuyết vô thần (và thật sự là như thế, có thể ở nơi làm việc hoặc nơi tiệm giặt ủi công cộng hoặc ngay cả tại bàn ăn), chúng ta nên được chuẩn bị để giải thích niềm tin của chúng ta theo một cách tạo ra tiếng vang đối với những người không có đức tin. Dưới đây là một danh sách những điều cần làm và không nên làm mà bạn cần chú ý khi thảo luận về vấn đề tôn giáo với những người theo thuyết vô thần:

1. Đừng sợ thừa nhận bạn có niềm tin. Những Kitô hữu thường cho biết họ lâm vào tình tình huống đối mặt với chủ đề: tại sao họ lại tin, và tất cả những gì họ có thể trả lời chính là họ có niềm tin cho dù họ chưa bao giờ thực hiện bất kỳ nghiên cứu tìm tòi nào. Họ thường cảm thấy xấu hổ về điều này. Nếu bạn vướng vào một cuộc trò chuyện về lý do tại sao bạn tin và đó là tất cả những gì bạn có, cũng đừng e sợ. Cố gắng nói năng thật rõ ràng lưu loát. Ví dụ, bạn có thể giải thích rằng niềm tin của bạn không khác gì một câu chuyện bạn kể về những gì mình cảm thấy hạnh phúc, hoặc nói về điều gì làm bạn tin rằng bạn có một mối quan hệ thật sự với một Đấng bên ngoài thế giới vật chất.

2. Đừng kết luận rằng những người bạn theo chủ nghĩa vô thần của bạn tức giận Chúa hoặc cảm thấy có điều gì đó khiếm khuyết trong cuộc sống của họ. Hãy nói chuyện với họ từ giả thuyết rằng người này theo chủ nghĩa vô thần đơn giản bởi vì cô ta/anh ta chưa được nhìn thấy bất cứ bằng chứng nào chứng minh Chúa tồn tại.

3. Đừng trích dẫn Kinh Thánh, nhưng hãy nắm chắc Kinh Thánh. Kinh Thánh chính là nguồn của sự khôn ngoan tuyệt vời, nhưng nếu bạn trích dẫn Kinh Thánh với một người theo chủ nghĩa vô thần như một người am hiểu, điều này cũng giống như bác sĩ giải thích chẩn đoán của mình với bạn bằng cách đọc một đoạn văn trong truyện Harry Potter. Đừng nghĩ chỉ cần nói ra những câu Kinh Thánh và hy vọng thuyết phục được ai đó. Nội dung của mỗi câu Kinh Thánh đều có những nguyên nhân. Hãy học biết những nguyên nhân phía sau và được chuẩn bị để giải thích chúng.

4. Đừng cảm thấy như bạn phải có tất cả các câu trả lời ngay lập tức. Tốt hơn rất nhiều khi chỉ cần nói một cách đơn giản: “Một câu hỏi tuyệt vời! Tôi chưa có câu trả lời, nhưng tôi rất thích tìm hiểu và trả lời sau cho bạn”, thay vì cố sức với lĩnh vực xa lạ đối với bạn.

5. Hãy giải thích bức tranh toàn cảnh. Hãy tìm hiểu để quen với bối cảnh lịch sử Kitô giáo, và đưa ra những lời giải thích sâu về những lý do làm cho tôn giáo này vô cùng hấp dẫn -rằng cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu ứng nghiệm những câu Kinh Thánh trong Cựu Ước mà tất cả những nhà sử học đều công nhận đã xuất hiện trước thời của Ngài; rằng hầu hết tất cả các tông đồ đều tử đạo vì niềm tin của họ; rằng Kitô giáo lan rộng rất nhanh bất chấp những cuộc bách hại khủng khiếp. Nghiên cứu những bài viết của những tín hữu thời sơ khai, những người bảo vệ Kitô giáo trong bối cảnh một thế giới ngoại giáo chống đối niềm tin của họ trên một phương diện rộng.

6. Biết lý luận. Đừng thiếu suy xét khi bỏ qua những căn cứ khoa học hoặc logic. Đúng là khoa học không có được tất cả câu trả lời, nhưng nó có được một số câu trả lời và nếu bạn cố để phủ nhận nó, bạn sẽ gặp phải nguy cơ tự đẩy mình trở thành người có suy nghĩ lập dị. Như ĐGH Bênêđictô XVI luôn nhắc nhở chúng ta, Thiên Chúa mà chúng ta tin là Thiên Chúa của lẽ phải. Có một quá trình lịch sử dài nghiên cứu về những lý lẽ có căn cứ dành cho Kitô giáo, và nếu bạn sử dụng chúng, những gì bạn nói sẽ làm cho những người bạn theo chủ nghĩa vô thần của bạn có thể hiểu được. Hãy tìm hiểu về một vài triết gia Kitô giáo và những nhà biện bộ tôn giáo. Nếu bạn vẫn chưa đọc tác phẩm Mere Christianity của C.S. Lewis, bạn còn chần chừ gì nữa?

7. Hãy nhận thức rằng mục tiêu duy nhất của bạn chính là gieo hạt. Trong những cuộc tranh luận, có những lúc có thể bạn quá tập trung vào chi tiết và quên đi bức tranh toàn cảnh. Hoàn toàn không thể nào chỉ trong một cuộc trò chuyện, người bạn cùng trò chuyện được thuyết phục bởi chân lý Kitô giáo. Chỉ cần cố gắng hết sức có thể để bảo vệ niềm tin Kitô giáo, và nhớ rằng rốt cuộc thì cuộc trò chuyện là công việc của Chúa, không phải của bạn.

8. Hãy đặt bản thân mình vào trong vị trí của người bạn theo chủ nghĩa vô thần. Ví dụ như, giả sử sẽ thế nào nếu Kitô giáo là sai và thần thoại Hy Lạp mới thật sự đúng? Điều gì thuyết phục bạn tin vào điều đó?

9. Đừng sử dụng quá nhiều những câu khẩu hiệu của Kitô giáo. Những Kitô hữu phải “phó dâng tâm hồn mình cho Chúa Giêsu” và “Chúa Thánh Thần ngự trong chúng ta” và chúng ta “bước đi mỗi ngày cùng với Đấng Cứu Thế”, để chúng ta “ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian”. Tất cả những câu khẩu hiệu ấy, đối với bất cứ một Kitô hữu nào cũng rất ý nghĩa, sâu sắc và hiểu được ngay, nhưng lại không hề có một ý nghĩa gì đối với những người ngoài niềm tin Kitô giáo. Thật khó để tránh, vì chúng ta đã quen sử dụng chúng một cách ngắn gọn, nhanh chóng cho những khái niệm rất phức tạp. Nhưng bạn nên giải thích những khái niệm ấy bằng những thuật ngữ đơn giản.

10. Cầu nguyện. Đừng mắc sai lầm khi đưa ra câu trả lời chỉ dựa vào sự khôn ngoan của bản thân trong khi bạn có Thần Khí Chúa bên cạnh hướng dẫn. Hãy cầu nguyện để bản thân có được sự chỉ dẫn và cầu nguyện cho những người bạn theo chủ nghĩa vô thần của bạn có được một tâm hồn dễ tiếp nhận. Bạn sẽ ngạc nhiên trước tính hiệu quả của phương cách này. Và nó cũng có ích cho chính bạn.

Chúng tôi không khuyến khích bất cứ ai đi tìm một cuộc tranh luận – mà không bao giờ thuyết phục được ai vào gia đình của Chúa. Nhưng nếu được chuẩn bị về tinh thần, một khi thời giờ đến, bạn sẽ sẵn sàng để nói về đức tin theo những thuật ngữ quen thuộc với những người bạn không có niềm tin và những thành viên trong gia đình.

Jason Anderson và Jennifer Fulwiler
Thiên Ân dịch

Đối thoại với người vô thần


Stephen Hawking là nhà vật lý nổi tiếng nhất hiện nay trên thế giới. Lại càng nổi tiếng hơn nữa vì cả thế giới khâm phục khi nhìn thấy một con người bị giam mình trên chiếc xe lăn như thế, mà lại có thể thực hiện những công trình khoa học thật đáng kính nể. Thời gian vừa qua, ông có những tuyên bố gây xôn xao về niềm tin tôn giáo. Năm 2010, ông xuất bản cuốn The Grand Design, trong đó trình bày quan điểm cho rằng không cần phải có vị Thiên Chúa nào để tạo dựng vũ trụ này, và khoa học chứng minh rằng tạo dựng là một tiến trình thuần túy tự nhiên. Chưa hết, mới đây trong cuộc phỏng vấn dành cho tờ UK Guardian, ông lại phi bác ý tưởng của người Kitô hữu về “Trời”, cho rằng đó chỉ là chuyện cổ tích và tưởng tượng dành cho những kẻ sợ chết! Báo Tuổi Trẻ cuối tuần 22/5/2011 trích lại “danh ngôn” này.

Là nhà vật lý nổi tiếng, chắc chắn những tuyên bố của ông gây tác động lớn trên nhiều người, nhất là giới trẻ, trong thời đại tôn sùng khoa học kỹ thuật này. Ngay lập tức, N.T. Wright, một giám mục Anh giáo, cũng là một chuyên viên Kinh Thánh, đã viết trên tờ Washington Post: “Thật đáng buồn khi thấy Stephen Hawking, một trong những trí tuệ sáng chói trong lãnh vực của ông, lại cố gắng phát biểu như một chuyên viên về những điều mà thực ra ông cũng chẳng biết hơn bao nhiêu những Kitô hữu có mức hiểu biết trung bình”. Rồi N.T. Wright giải thích: “Trong Thánh Kinh, trời không phải là nơi chốn để người ta đến sau khi chết. Trong Thánh Kinh, trời là “cõi” của Thiên Chúa, còn đất là “cõi” của con người. Và Thánh Kinh cho thấy rất rõ là hai “cõi” đó hòa vào nhau. Với người Do Thái ngày xưa, đền thờ là nơi mà hai cõi đó hòa nhập. Còn với các Kitô hữu, nơi mà hai cõi đó hòa nhập chính là Đức Giêsu, và điều rất lạ lùng là cả các Kitô hữu nữa, vì chính họ cũng là đền thờ của Thánh Thần Thiên Chúa”. N.T. Wright còn nói nhiều nữa nhưng chỉ bằng đó thôi cũng đủ thấy sự xa cách giữa quan niệm về trời trong Thánh Kinh và trong cách hiểu rất vật chất của Stephen Hawking cũng như của nhiều người. Đúng là Hawking đã tuyên bố trọng thể về Thiên Chúa và Trời mà chẳng hiểu gì cả! Giỏi lắm thì cũng lại chỉ là trở về với quan điểm của Epicure chứ có gì mới lạ đâu.



Cũng lại mới đây, nhà xuất bản Sunday Visitor trình làng cuốn sách The Godless Delusion: A Catholic Challenge to Modern Atheism. Hai tác giả, Patrick Madrid và Kenneth Hensly, cho biết đã có nhiều tác phẩm phê phán chủ nghĩa vô thần nhưng cuốn sách của họ có một cách tiếp cận khác. Họ không chỉ dựa vào niềm tin Kitô giáo của mình mà phê phán, nhưng đứng từ bình diện thuần túy lý trí tự nhiên để chỉ ra những mâu thuẫn nội tại và sự bất nhất trong những lập luận của chủ thuyết vô thần.

Theo hai tác giả này, nếu chúng ta chỉ dựa vào mặc khải hay giáo huấn của Giáo Hội để phủ nhận thuyết vô thần thì chưa đủ, vì những người vô thần có chấp nhận mặc khải hay Giáo Hội đâu. Cần phải chỉ cho người ta thấy những phi lý và mâu thuẫn trong chính lập luận của họ và như thế, gián tiếp chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa. Ví dụ, hầu hết những người vô thần đều cho rằng khoa học chứng minh Thiên Chúa không hiện hữu, nếu chưa làm được bây giờ thì sẽ làm được trong tương lai. Cũng là niềm tin đấy chứ, gọi là “niềm tin vô thần”. Thế nhưng chuyện đó làm sao xảy ra được vì đối tượng của nghiên cứu khoa học là những thực tại vật chất trong vũ trụ trong khi Thiên Chúa là một thực tại phi vật chất. Chính triết học chứ không phải khoa học tự nhiên mới có thể lên tiếng về chuyện Thiên Chúa hiện hữu hay không. Như thế, chủ trương dựa vào khoa học để chứng minh về Thiên Chúa ở tự nó đã là một ảo tưởng. Thế rồi, luân lý đạo đức là thành phần thiết yếu trong đời sống con người và chính người vô thần cũng tôn trọng những lề luật đạo đức nếu muốn là người tốt. Trong thực tế, luôn có thứ “đạo đức vô thần” và xem ra người ta lại còn muốn nhân danh thứ đạo đức này để dạy dỗ kẻ có đạo! Thế nhưng những từ ngữ “tốt lành, thiện hảo” sẽ có nghĩa gì nếu Thiên Chúa không hiện hữu và nếu không có lề luật luân lý mà Thiên Chúa ban tặng để hướng dẫn hành vi đời sống con người. Dựa trên cơ sở nào để ban hành cái gọi là lề luật đạo đức? Hay cái gọi là lề luật đạo đức ấy chỉ là những quy định mà người cầm quyền đặt ra để bắt mọi người làm theo, và như thế, cái gọi là “vô thần” thực ra chỉ là “tôn giáo trá hình”, thứ tôn giáo nô lệ hóa và tha hóa con người ở mức độ tồi tệ nhất vì đánh mất nhân tính đích thực của con người.

Như vậy là người Kitô hữu đã lên tiếng. Họ không im lặng nhưng “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hi vọng đang có trong anh em” (1Pr 3,15). Câu trả lời này xuất hiện ở hai mức độ. Mức độ thứ nhất là trình bày nội dung đích thực của niềm tin Kitô giáo như N.T. Wright đã làm với Stephen Hawking. Mức độ thứ hai là phê phán chính nội dung của lập luận vô thần. Ở mức độ này, hình như người ta quen với việc chủ thuyết vô thần tấn công tôn giáo, chứ không thấy tôn giáo “tấn công” chủ nghĩa vô thần. Không phải tấn công theo nghĩa bạo lực nhưng là đối thoại thẳng thắn nhằm kiếm tìm chân lý.

Để thực hiện được điều này, nhất thiết phải có những Kitô hữu có sự hiểu biết chuyên sâu về triết học, thần học và cả khoa học. Đồng thời, phải quan tâm nhiều hơn đến việc dạy giáo lý cho giáo dân. Mới đây Đức Tổng giám mục Dublin than phiền rằng đại đa số trường học tại Ireland là trường Công Giáo nhưng sự hiểu biết giáo lý của học sinh lại rất kém. Trong cuốn Ánh sáng cho trần gian, ĐTC Bênêđictô XVI cũng nhắc đến tình hình tương tự tại nước Đức, quê hương của ngài. Còn tại Việt Nam, trong một cuộc tọa đàm mới đây, một tu sĩ làm việc trong ngành giáo dục ghi nhận rằng: thảm họa của nền giáo dục ở Việt Nam phát xuất từ hàng ngũ giáo viên, những giáo viên không được đào tạo đúng mức và toàn diện nên dẫn đến những thế hệ học sinh cũng khập khiễng! Và tu sĩ đó cảnh báo: nếu Giáo Hội không lo đào tạo giáo lý viên cách nghiêm túc và toàn diện thì không chừng tương lai của Giáo Hội cũng thế. Chúng ta có rất nhiều giáo lý viên nhiệt tình nhưng nhiệt tình mà thôi chưa đủ, còn phải có đủ kiến thức giáo lý và đời sống nội tâm phong phú mới mong truyền đạt giáo lý cách tốt đẹp cho những thế hệ trẻ.

Âu cũng là điều mà mọi tín hữu Công Giáo Việt Nam, cách riêng các mục tử, phải suy nghĩ cho thấu đáo và có những hành động cụ thể để đáp ứng.

HTT

Nguồn: WHĐ

Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Biển Đức 16 nhân Ngày Thế Giới cầu cho ơn gọi

"Ơn gọi, hồng ân tình thương của Thiên Chúa”




Anh chị em thân mến,
Ngày Thế giới cầu cho ơn gọi lần thứ 49, sẽ được cử hành vào ngày 29/4/2012, Chúa nhật thứ tư Phục Sinh, mời gọi chúng ta suy tư về đề tài: "Ơn gọi, hồng ân tình thương của Thiên Chúa”.

Nguồn mạch của mỗi hồng ân hoàn hảo là Thiên Chúa Tình Thương - Deus caritas es -: "ai ở trong tình thương thì ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy” (1 Ga 4,16). Kinh Thánh kể lại lịch sử liên hệ nguyên thủy giữa Thiên Chúa và nhân loại, đi trước cả công trình tạo dựng. Thánh Phaolô, khi viết cho các tín hữu Kitô ở thành Ephêsô, đã dâng lên bài ca tạ ơn và chúc tụng Chúa Cha, Đấng đã thực hiện ý định cứu độ phổ quát của Ngài qua dòng thời gian, theo lượng từ nhân vô biên của Ngài, ý định ấy chính là một ý định thương yêu. Thánh Tông Đồ quả quyết: trong Đức Giêsu Con của Ngài, Thiên Chúa "đã chọn chúng ta trước khi tạo thành vũ trụ để chúng ta được nên thánh thiện và không tỳ ố trước mặt Ngài trong đức ái” (Ep 1,4). Chúng ta được Thiên Chúa yêu thương ”trước” khi chúng ta sinh ra! Hoàn toàn do tình thương vô điều kiện thúc đẩy, Chúa đã “tạo dựng chúng ta từ hư vô” (Xc 2 Mac 7,28) để dẫn đưa chúng ta đến sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài.



Kinh ngạc trước công trình quan phòng của Thiên Chúa, tác giả Thánh vịnh đã thốt lên: "Khi thấy các tầng trời, trong công trình tay Chúa dựng nên, mặt trăng và các tinh tú Chúa đã tạo thành, thì con người có là chi mà Chúa nhớ đến, phàm nhân có là gì mà Chúa phải quan tâm?” (Tv 8,4-5). Vì thế, chân lý sâu xa về cuộc sống chúng ta được gồm tóm trong mầu nhiệm lạ lùng này là: mỗi thụ tạo, đặc biệt là con người, đều là kết quả một ý nghĩ và một hành vi yêu thương của Thiên Chúa, tình yêu vô biên, trung tín, vĩnh cửu (Xc Gr 31,3). Sự khám phá thực tại này thay đổi thực sự cuộc sống của chúng ta một cách sâu đậm. Trong một trang nổi danh của cuốn “Tự Thú”, Thánh Augustinô diễn tả một cách nồng nhiệt khám phá của ngài về Thiên Chúa vẻ đẹp tột đỉnh và là tình thương tột độ, một vị Thiên Chúa luôn gần gũi với thánh nhân, Đấng mà sau cùng thánh nhân đã cởi mở tâm trí để được biến đổi: "Lạy Chúa là vẻ đẹp rất cổ kính và rất mới mẻ, con yêu Chúa quá chậm! Đúng vậy, Chúa đã ở trong con và con ở ngoài. Con đã tìm Chúa ở ngoài. Bất hạnh thay, con đã lao mình vào những thụ tạo kiều diễm của Chúa. Chúa ở trong con, nhưng con lại không ở với Chúa. Các thụ tạo ấy đã giữ con xa Chúa, chúng chẳng hiện hữu nếu không ở trong Chúa. Chúa gọi con, Chúa kêu con và phá vỡ sự điếc của con; Chúa chiếu sáng, và ánh quang huy hoàng của Chúa phá tan sự mù quáng của con; Chúa tỏa hương thơm, và con thở hít, khao khát Chúa, nếm hưởng Chúa và con đói khát; Chúa chạm đến con, và con nồng cháy mong ước an bình của Chúa” (X, 27.38). Với những hình ảnh đó, Thánh Giám Mục thành Hippone tìm cách mô tả mầu nhiệm khôn tả về cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa, với Tình Thương của Chúa biến đổi toàn thể cuộc sống.

Đó là một tình yêu không chút dè dặt đi trước chúng ta, nâng đỡ chúng ta và kêu gọi chúng ta suốt trong hành trình cuộc sống và có căn cội trong sự nhưng không tuyệt đối của Thiên Chúa.

Khi nói về sứ vụ Linh Mục, vị tiền nhiệm của tôi, Đức Chân Phước Gioan Phaolô 2, khẳng định rằng "Mỗi hành vi thừa tác dẫn đến sự yêu mến và phục vụ Giáo Hội, thì đồng thời cũng giúp tăng trưởng ngày càng sâu rộng hơn sự yêu mến và phụng sự Chúa Giêsu Kitô là Đầu, là Mục Tử và là Hôn Phu của Giáo Hội; tình yêu này luôn được coi như lời đáp trả tình yêu ân cần, tự nguyện và nhưng không của Thiên Chúa trong Chúa Kitô” (Tông Huấn Pastores dabo vobis, 25). Thực vậy, mỗi ơn gọi đặc thù đều nảy sinh từ sáng kiến của Thiên Chúa, là hồng ân tình thương của Chúa! Chính Chúa đi ”bước đầu” chứ không phải vì sự tốt lành đặc thù nào nơi chúng ta, đúng hơn đó là do sự hiện diện của chính tình thương Chúa được "đổ xuống trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Linh” (Rm 5,5).

Trong mọi thời đại, nơi nguồn cội ơn gọi của Chúa, đều có sáng kiến tình thương vô biên của Thiên Chúa, Đấng tỏ mình trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô. Như tôi đã viết trong Thông điệp đầu tiên của tôi "Deus caritas est - Thiên Chúa là Tình Thương”, ”trong thực tế Thiên Chúa trở nên hữu hình bằng nhiều cách. Trong lịch sử tình thương mà Kinh Thánh thuật lại cho chúng ta, Chúa đến gặp chúng ta, Ngài tìm cách chinh phục chúng ta, cho đến Bữa Tiệc Ly, cho đến khi Con Tim của Ngài bị đâm thâu qua trên thập giá, cho đến những cuộc hiện ra của Đấng Phục Sinh và những công trình to lớn nhờ đó, Ngài hướng dẫn hành trình của Giáo Hội sơ khai, qua những hoạt động của các Tông Đồ. Cũng vậy, trong lịch sử sau đó của Giáo Hội, Chúa không hề vắng mặt: Ngài luôn luôn đến gặp gỡ chúng ta - qua những người phản ánh Chúa; qua Lời của Ngài, trong các Bí tích, nhất là trong Thánh Thể” (n.17).
Tình yêu của Thiên Chúa tồn tại mãi mãi, trung tín với chính mình, với ”lời Ngài hứa qua muôn thế hệ” (Tv 105,8). Vì thế, cần tái loan báo, nhất là cho các thế hệ trẻ, vẻ đẹp có sức mời gọi của tình yêu Chúa, đi trước và tháp tùng: chính Chúa là mùa xuân bí mật, là động lực không hề thiếu, cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

Anh chị em thân mến, chúng ta phải cởi mở cuộc sống đối với tình yêu Chúa, và đối với tình yêu hoàn hảo của Chúa Cha (Xc Mt 5,48) mà Chúa Giêsu Kitô hằng ngày nhắc nhở cho chúng ta! Mẫu mực cao cả nhất của đời sống Kitô hệ tại yêu mến ”như” Thiên Chúa; đây là một tình thương được biểu lộ qua sự hiến thân trọn vẹn một cách trung thành và phong phú”. Với nữ tu bề trên Đan viện ở Segovia, đau buồn vì thánh nhân bị treo chức trong những năm ấy, Thánh Gioan Thánh Giá trả lời và mời gọi chị nữ tu ấy hãy hành động theo ý định Thiên Chúa: "Chị đừng nghĩ đến những gì khác ngoài điều này là tất cả đều do Thiên Chúa an bài, và nơi nào không có tình yêu, thì chị hãy mang tình yêu vào và chị sẽ nhận được tình yêu” (Epistolario, 26).

Trên thửa đất hiến dâng ấy, mọi ơn gọi nảy sinh và tăng trưởng, trong sự cởi mở yêu mến Thiên Chúa và như hoa trái của tình yêu ấy. Và chính khi kín múc từ nguồn mạch đó trong kinh nguyện, siêng năng gặp gỡ Lời Chúa và các bí tích, đặc biệt là phép Thánh Thể, ta có thể sống tình yêu thương đối với tha nhân, nơi họ ta học cách nhận ra tôn nhan Chúa Kitô (Xc 25,31-46). Để diễn tả mối liên hệ không thể tách rời giữa ”hai tình yêu ấy” - mến Chúa và yêu người - nảy sinh từ cùng nguồn mạch thần linh và qui hướng về nguồn mạch ấy, Thánh Gregorio Cả Giáo Hoàng dùng thí dụ cây nhỏ bé: ”Trong thửa đất tâm hồn chúng ta (Thiên Chúa) đã trồng trước tiên là gốc rễ tình yêu đối với Ngài và sau đó tình yêu huynh đệ phát triển như những cành lá” (Moralium Libri, sive expositio in Librum B. Job, Lib. VII, cap. 24, 28; PL 75, 780D)
Hai kiểu diễn tả cùng một tình yêu duy nhất của Chúa như thế phải được những người quyết định bắt đầu hành trình phân định ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến sống một cách đặc biệt khẩn trương và với con tim tinh tuyền. Sống mến Chúa yêu người như thế là yếu tố quan trọng. Thực vậy, tình yêu đối với Thiên Chúa, Đấng mà các linh mục và tu sĩ trở thành những hình ảnh hữu hình, tuy là luôn luôn bất toàn - chính là động lực thúc đẩy đáp lại lời mời gọi thánh hiến một cách đặc biệt cho Chúa qua sự thụ phong linh mục hoặc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm. Câu trả lời hăng hái của thánh Phêrô với Chúa: "Thầy biết rõ là con yêu mến Thầy” (Ga 21,15) chính là bí quyết sống hiến dâng và sống trọn vẹn, nhờ đó được đầy tràn đầy vui mừng sâu xa.

Một sự biểu lộ cụ thể khác về tình yêu, lòng yêu người, nhất là đối với những người túng thiếu và đau khổ nhất, là sự thúc đẩy quyết liệt biến LM và người thánh hiến thành một người khơi dậy tình hiệp thông giữa dân chúng và là người gieo vãi hy vọng. Quan hệ giữa những người thánh hiến, nhất là Linh Mục, với cộng đoàn Kitô thật là điều sinh tử và cũng trở điều cơ bản đối với chân trời tình cảm của họ. Về điểm này, Thánh Cha Sở họ Ars thường lập lại: "Làm Linh Mục không phải là cho bản thân mình; nhưng là cho anh chị em” (Le curé d'Ars. Sa pensée - Son coeur, Foi Vivante, 1966, p.100).

Anh chị em thân mến trong hàng Giám Mục, Linh Mục, Phó tế, những người nam nữ thánh hiến, các giáo lý viên và nhân viên mục vụ, và tất cả anh chị em là những người dấn thân trong lãnh vực giáo dục các thế hệ trẻ, tôi tha thiết nhắn nhủ anh chị em hãy chăm chú lắng nghe những người ở trong cộng đoàn giáo xứ, các hội đoàn và phong trào khi họ nhận thấy có những dấu hiệu về ơn gọi linh mục hoặc đời sống thánh hiến đặc biệt. Điều quan trọng là tạo nên trong Giáo Hội những điều kiện thuận lợi để họ có thể đi tới chỗ thưa "xin vâng” quảng đại đáp lại tiếng gọi yêu thương của Thiên Chúa.

Một nghĩa vụ trong việc mục vụ ơn gọi là cống hiến những điểm định hướng để hành trình được kết quả. Yếu tố chủ yếu là yêu mến Lời Chúa, vun trồng một sự quen thuộc ngày càng gia tăng với Kinh Thánh và chăm chú và kiên trì cầu nguyện riêng và chung, để có thể nghe thấy tiếng Chúa gọi giữa bao nhiêu tiếng nói làm đầy đời sống thường nhật. Nhưng nhất là Thánh Thể là ”trung tâm sinh tử” của mỗi hành trình ơn gọi: chính trong Thánh Thể mà tình yêu Thiên Chúa đánh động chúng ta trong hy tế của Chúa Kitô, biểu lộ hoàn hảo tình yêu và chính trong Thánh Thể chúng ta luôn luôn tái học hỏi cách sống tình yêu Chúa "ở mức độ cao”. Lời Chúa, kinh nguyện và Thánh Thể là kho tàng quí giá để hiểu vẻ đẹp của một cuộc sống hoàn toàn tận hiến vì Nước Trời.

Tôi cầu mong rằng các Giáo Hội địa phương, qua các thành phần khác nhau, trở thành ”nơi” chăm chú phân định và kiểm chứng sâu xa về ơn gọi, mang lại cho người trẻ nam nữ một sự đồng hành khôn ngoan và vững chắc về tinh thần. Qua cách thức ấy, cộng đồng Kitô trở thành một sự biểu lộ Tình Yêu của Thiên Chúa Đấng giữ gìn nơi mình mọi ơn gọi. Năng động ấy đáp ứng những đòi hỏi của giới răn mới của Chúa Giêsu. Nó có thể diễn ra một cách hùng hồn và đặc biệt trong các gia đình gia đình Kitô, tình yêu gia đình vốn là sự diễn tả tình yêu của Chúa Kitô, Đấng đã hiến mình vì Giáo Hội (Xc Ep 5,32). Trong các gia đình, "là những cộng đoàn sống động và yêu thương” (GS 48), người trẻ có thể cảm nghiệm tuyệt vời về tình yêu dâng hiến ấy. Thực vậy các gia đình không những là nơi ưu tiên để huấn luyện về nhân bản và Kitô, nhưng có thể là ”chủng viện đầu tiên và tốt đẹp về ơn gọi sống đời thánh hiến cho Nước Chúa” (Gioan Phaolô 2, Tông Huấn Familiaris consortio, 53), giúp tái khám phá trong gia đình vẻ đẹp và tầm quan trọng của chức linh mnục và đời sống thánh hiến. Các vị Mục Tử và tất cả các tín hữu giáo dân hãy luôn biết cộng tác để trong Giáo Hội có thêm nhiều ”nhà và trường hiệp thông” theo kiểu mẫu Thánh Gia thất Nazareth, phản ánh một cách hài hòa trên trái đất cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Với những mong ước ấy, tôi thành tâm ban Phép Lành Tòa Thánh cho anh em đáng kính trong hàng Giám Mục, cho các Linh Mục, Phó tế, tu sĩ nam nữ và toàn thể giáo dân, đặc biệt là những người trẻ nam nữ, với tâm hồn ngoan ngoãn đang lắng nghe tiếng Chúa, sẵn sàng đón nhận tiếng gọi với lòng gắn bó và trung thành.
Vatican ngày 18 tháng 10 năm 2011

Biển Đức 16, Giáo Hoàng
G. Trần Đức Anh OP chuyển ý

Nguồn: VietVatican.net

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

Cầu nguyện cho các Linh Mục và tôn trọng các ngài



Thị nhân Mirjana bên Mễdu nói: “Nếu bạn có thể thấy được những giòng nước mắt của Đức Mẹ tràn trề trên mặt …” khi Người hiện ra với cô ngày 02/10/2003. Mặc dù Mẹ khóc cho những người con vô tín thật nhưng Mẹ cũng khóc cho các “LINH MỤC CON CƯNG CỦA MẸ” nữa. Cô đã phát biểu những lời này trong buổi nói chuyện vào mùa Thu ở Mễdu. Cô nói, nếu những người con được Mẹ yêu thương cách riêng vẫn là những linh mục của Mẹ, bởi vì: “Các ngài là những người đại diện cho Con của Mẹ.”

Mirjana nói về cách đối xử của giáo dân bên Mễdu khác hẳn với cách đối xử của dân Tây Phương và dân Mỹ.

Tại Mễdu, khi một Linh Mục bước vô nhà, không một người nào dám ngồi trước khi vị Linh Mục ấy chưa ngồi xuống. Và không ai dám mở lời khi vị Linh Mục chưa mở lời. Cô nói: “Chúng tôi hiểu rằng cácLinh Mục đại diện cho Chúa nên khi các ngài bước vô nhà cũng giống như chính Chúa Giêsu bước vô nhà vậy. Thật sự chúng ta không có quyền phê phán các Linh Mục là những người đại diện của Chúa Giêsu vì đó là việc của Chúa chứ không phải chúng ta. Nhưng Thiên Chúa sẽ là người phán xét chúng ta khi đối xử tệ với Linh Mục”.

Đức Mẹ nói: “Các con không được phê bình hay xét đoán các Linh Mục. Các ngài rất cần những lời cầu nguyện, yêu thương và sự giúp đỡ của các con. Hãy cầu nguyện cho các ngài hơn là bình phẩm chỉ trích”.



Trong câu chuyện với sơ Emmanuel, thị nhân Vicka tái xác nhận những lời nói của Mirjana: “Nếu tôi nghe được một lời nói là Giám Mục này bị lên án vì tội này tội nọ…Tôi phải hỏi lại mình: ‘Tôi là ai mà dám lên án hành động của ngài? Không! Tôi không dám phê phán hay xét đoán ai cả. Và tôi sẽ xét lại bản thân và cật vấn mình. Trong nhiều năm nay Đức Mẹ luôn luôn kêu gọi chúng ta cầu nguyện cho các Linh Mục, Giám Mục và Đức Thánh Cha. Tôi phải làm sao để giúp các ngài? Tôi có cầu nguyện cho các ngài với trọn con tim tôi không? Đó là câu hỏi. Và phần còn lại để Chúa xét xử, vì ngài là Đấng xét xử chứ không phải tôi. Phần của tôi là phải giúp các ngài, phải làm hết sức mình để giúp họ. Tôi không muốn phí phạm thời giờ lên án kẻ này người nọ. Trong khi bình phẩm, chỉ trích thì nhiều mà lời cầu nguyện thì quá ít”.

Trong một buổi nói chuyện trong giáo xứ của Siroki Brieg, cha Jozo nói: “Một thiên chức Linh Mục không thể so sánh với bất cứ một nghề nghiệp nào. Thiên chức Linh Mục là một bí tích được chọn bởi Thiên Chúa, được sức dầu, được thánh hiến, và họ thuộc về Giáo Hội. Giáo Hội có trách nhiệm bảo vệ các Linh Mục. Các bạn không thể nhìn một Linh Mục như một người lãnh tiền lương bổng được, các ngài không giống như các nghề nghiệp khác như bác sĩ, luật sư”.

Ngài khuyên chúng ta việc quan trọng là hỗ trợ các Linh Mục với lời cầu nguyện và yêu thương bởi vì: “Không có các Linh Mục thì không có bí tích hòa giải, không có Linh Mục thì không có Thánh Lễ. Hãy giúp đỡ các ngài nhất là trong những lúc khó khăn, bởi vì các ngài cũng chỉ là con người. Các ngài cũng mệt mỏi, cũng vấp vã, nhưng các ngài cần sự giúp đỡ để vượt qua...”

Ngài tiếp trong sự tiếc thương: “Có những tin đồn khiếm nhã giật gân đã xảy ra trong thời đại chúng ta. Tất cả đều tới từ thù địch, từ Satan, từ những người muốn tiêu diệt Giáo Hội. Chúng ta cần Linh Mục vì chúng ta cần sự tha thứ, chúng ta cần yêu thương, chúng ta cần ơn sủng và sự cứu độ”.

Cha van xin: “Hãy cầu nguyện cho các Linh Mục. Yêu thương các ngài. Ước chi những tư tưởng xấu xa, ngờ vực đừng bao giờ nảy sinh trong tim các bạn, trong linh hồn các bạn về sự chống đối các Linh Mục. Ước mong rằng các bạn không bao giờ nên ngờ vực cácLinh Mục.. .Hãy cầu nguyện cho các ngài được ơn kiên trì trong ơn thánh…”

Ngài van xin: “Hãy yêu thương cá Linh Mục, bảo vệ các ngài, và nâng đỡ các ngài”.

Trong buổi cầu nguyện, cha Jozo nói giáo dân trong giáo xứ của ngài luôn luôn cầu nguyện cho các Linh Mục. Ngài nói: “Trong 16 năm nay họ thực hiện một việc tông đồ được gọi là ‘Margarita’. Đây là tên của một loài hoa có 7 cánh. Mỗi cánh là biểu tượng của một ngày trong tuần. Ngay chính giữa nhụy hoa họ viết tên một Linh Mục được cầu nguyện cho trong tuần đó. Và trong 7 cánh hoa đó, giáo dân viết 7 tên người trên mỗi cánh hoa, và 7 người đó mỗi ngày có nhiệm vụ cầu nguyện cho Linh Mục tuần đó. Và khi tới ngày ‘Sinh nhật’ của Linh Mục nào đó, Phục Sinh, Noel, v.v. hay một ngày lễ đặc biệt, họ đem tới cho vị Linh Mục đó một dấu chỉ yêu thương và nói với ngài: “Cha ơi! Đừng sợ, chúng con bảo vệ cha bằng hai đầu gối của chúng con, (nghĩa là quì cầu nguyện cho ngài). Khi cha tuyên xưng Lời Chúa thì chúng con quỳ thế cho cha để cha có thể bước đi ngay ngắn (thánh thiện). Tay chúng con nâng cao trong tư thế van xin trong khi cha cầu nguyện, ban phép lành, giảng Phúc Âm, và khi cha ban ơn sủng cho chúng con. Ca luôn luôn được nhớ trong những lời cầu nguyện của chúng con”.

(Thật là một việc làm đáng ca ngợi).

Ở trong nước Mỹ cũng có nơi đã nỗ lực thực hành tích cực giống vậy. Một người trong một nhóm cầu nguyện đã đứng lên kêu gọi mọi người trong giáo xứ của bà tham gia cầu nguyện mỗi ngày cho các Giám Mục, các Linh Mục và các thày Phó tế.

Trong giáo xứ của tôi, mỗi sáng trước Thánh Lễ chúng tôi đều giơ về phía trước để cầu nguyện cho cha quản nhiệm và xin Chúa chúc lành cho ngài trước khi ngài khởi sự Thánh Lễ.

Trong nhóm cầu nguyện của chúng tôi cũng có một danh sách ghi tên các Linh Mục mà chúng tôi quen biết hầu mọi người đều có thể cầu nguyện cho các ngài.

Đức Mẹ luôn kêu gọi mọi người cầu nguyện cho các Linh Mục. Các Linh Mục và Giáo Hội rất cần lời cầu nguyện của chúng ta.

Trong Mt :32-38, Chúa Giêsu nói: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt. Các con hãy xin Cha của các con ban cho thêm nhiều thợ gặt…” Đào tạo được một Linh Mục không phải dễ, bởi vậy chúng ta nên cầu nguyện nhiều cho các ngài được ơn bền đỗ để các ngài dẫn dắt con chiên của Chúa. Thời buổi nhiễu nhương Linh Mục quá thiếu chúng ta cần cầu nguyện xin Chúa ban cho thêm nhiều tông đồ cho Chúa vì KHÔNG CÓ LINH MỤC SẼ KHÔNG CÓ GÌ CẢ. ĐÓ LÀ ĐIỀU NÊN SUY NGHĨ.

Hiện tại nhiều nơi trên đất Mỹ không có Thánh Lễ hằng ngày, ngay cả Thánh Lễ Chúa Nhật vì thiếu Linh Mục. Bởi vậy hãy cám ơn Chúa đã cho chúng ta ngày ngày có Thánh Lễ, ngày ngày được viếng Chúa, ngày ngày được tới lãnh ân sủng từ đôi tay các Linh Mục và đừng phê phán các ngài.

Mẹ Têrêsa nói sở dĩ ngày nay chúng ta không đủ các Linh Mục là vì chúng ta không chịu cầu nguyện cho họ. Phải cầu nguyện xin thêm nhiều Linh Mục vì đó là bổn phận của chúng ta.

Còn một cách khác cầu nguyện cho các Linh Mục là nhận một Linh Mục nào đó rồi cầu nguyện cho họ mỗi ngày. Chính các sơ bên New Mexicô, dòng tôi tá Máu Châu Báu Chúa đã làm chuyện này.

Tháng 07 năm 1992, Đức Mẹ kêu gọi mọi người cầu nguyện đặc biệt cho các Linh Mục và Đức Thánh Cha.

Chúng Ta Hãy Cầu Nguyện Cho Các Linh Mục Và Cổ Động Mọi Người Cầu Nguyện Cho Các Ngài. Vấn Đề Là Sống Hay Chết. Không Linh Mục - Sẽ Không Có Bánh Hằng Sống. Xin Chúa Thương Xót Và Nâng Đỡ Các Linh Mục. Hãy Làm Đi Các Bạn.

June Klines
Thuận Hà chuyển ngữ

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Nếu bạn đã xa lìa Giáo Hội







 

Giáo Hội chúng ta được tạo thành từ mọi chủng tộc.

Nam Phụ Lão Ấu
mọi thành phần trong xã hội
những người thánh thiện và cả những người tội lỗi
Giáo Hội chúng ta đã kéo dài nhiều thế kỷ... và lan tràn khắp hoàn cầu.
Nhờ hồng ân Thiên Chúa chúng ta đã xây dựng các bệnh viện để chăm sóc cho các bệnh nhân.

Chúng ta thành lập các viện mồ côi, và những trung tâm giúp đỡ người nghèo.
Chúng ta là tổ chức từ thiện lớn nhất trên hành tinh, đem lại ủi an và chăm sóc cho những người cần.
Chúng ta giáo dục trẻ em nhiều hơn bất kỳ tổ chức học thuật hay tôn giáo khác.
Chúng ta đã phát triển các phương pháp khoa học...

Chúng ta thành lập hệ thống đại học.
Chúng ta bảo vệ nhân phẩm và sự sống, đề cao hôn nhân và gia đình.
Nhiều thành phố được đặt theo tên của các vị thánh mà chúng ta tôn kính, những người theo đuổi con đường thánh thiện trước chúng ta.



Được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần, chúng ta dịch thuật Kinh Thánh. Chúng ta được biến đổi bởi Thánh Kinh và Thánh Truyền, là ánh sáng đã liên tục hướng dẫn chúng ta hơn 2.000 năm qua.
Chúng ta là Giáo Hội Công Giáo... với hơn một tỷ tín hữu cùng chia sẻ các phép bí tích và sự viên mãn của đức tin Kitô giáo.
Trong nhiều thế kỷ, chúng ta đã cầu nguyện cho thế giới và anh chị em mình, mỗi giờ mỗi ngày, bất cứ khi nào chúng ta cử hành Thánh Lễ.

Chính Chúa Giêsu đã đặt nền tảng cho đức tin của chúng ta khi Ngài nói với Thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng đầu tiên, "Con là đá, và trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy".

Trong hơn 2.000 năm qua, chúng ta đã có một dòng liên tục các mục tử hướng dẫn Giáo Hội Công Giáo trong tình yêu và sự thật, giữa một thế giới hoang mang và tan nát.
Và trong thế giới đầy khó khăn, hỗn loạn và đau thương này, thật là điều an ủi để biết rằng vẫn còn những điều là nhất quán, là chân lý, đó là đức tin Công Giáo của chúng ta, và tình yêu vĩnh cửu mà Thiên Chúa dành cho tất cả mọi loài thọ tạo.

Nếu bạn đã xa lìa Giáo Hội Công Giáo, chúng tôi mời các bạn có cái nhìn khác.
Chúng ta là một gia đình hiệp nhất trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta.
Chúng ta là Công Giáo. Chào mừng bạn quay về nhà.

VietCatholic News.

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

Trách nhiệm lớn của những ai làm việc trong vườn nho của Chúa


"Thiên Chúa vun trồng chúng ta như một cánh đồng để khiến cho chúng ta trở nên tốt lành hơn" (Thánh Agustinô)




Sau 3 tháng nghỉ hè, trưa Chúa Nhật 2 tháng 10 năm 2011 lần đầu tiên Ðức Thánh Cha Biển Ðức XVI đã có buổi đọc kinh Truyền Tin chung với hàng ngục ngàn tín hữu và du khách hành hương tại quảng trường thánh Phêrô. Ngài mời gọi mọi người, đặc biệt là những ai cầm quyền, ý thức trách nhiệm của mình khi làm việc trong vườn nho của Chúa. Ðức Thánh Cha nói:

Anh chị em thân mến, Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay kết thúc với lời Chúa Giêsu cảnh cáo một đặc biệt nghiêm khắc các mgười lãnh đạo giới tư tế và kỳ mục trong dân: "Nước Thiên Chúa sẽ bị cất khỏi các ông và sẽ được ban cho một dân tộc sinh hoa trái" (Mt 21,43). Ðó là các lời khiến chúng ta nghĩ tới trách nhiệm lớn của con người trong mọi thời đại được mời gọi làm việc trong vườn nho của Chúa, đặc biệt là những người nắm vai quyền bính, và chúng thúc đẩy canh tân lòng trung thành trọn vẹn với Chúa Kitô. Người là "hòn đá mà các thợ xây đã loại bỏ" (x. Mt 21,42), bởi vì họ xét đoán Người là kẻ thù của lề luật và nguy hiểm cho trật tự cộng cộng. Bị khước từ và đóng đanh, nhưng chính Người đã sống lại và trở thành "hòn đá góc", trên đó có thể đặt các nền móng của mọi cuộc sống con người và của toàn thế giới một cách tuyệt đối vững chắc. Dụ ngôn các người làm vườn nho bất trung nói về sự thật này. Họ được một người giao pho cho vườn nho của ông để vun trồng và thu hoa trái. Chủ vườn nho là chính Thiên Chúa, trong khi vườn nho biểu tượng cho dân Người cũng như sự sống mà Chúa trao ban cho chúng ta, để chúng ta làm việc thiện với ơn thánh của Người và sự dấn thân của chúng ta. Thánh Agustinô chú giải rằng: "Thiên Chúa vun trồng chúng ta như một cánh đồng để khiến cho chúng ta trở nên tốt lành hơn" (Sermo 87,1,2: PL 38,531).



Tiếp tục bài huấn dụ Ðức Thánh Cha nói: Thiên Chúa có một dự án cho các bạn hữu của Người, nhưng rất tiếc câu trả lời của con người thường hướng tới sự bất trung, được diễn tả ra bằng sự khước từ. Sự kiêu căng và tính ích kỷ ngăn cản con người nhận ra và tiếp nhận ơn cao trọng nhất của Thiên Chúa: đó là Con Một của Người. Thật thế, thánh sử Mátthêu viết: "Ông chủ sai con mình đến với các tá điền... nhưng họ bắt lấy anh, đuổi anh ra khỏi vườn nho và giết đi" (Mt 21,37). Thiên Chúa tự nộp mình trong tay chúng ta, chấp nhận trở thành mầu nhiệm khôn dò của sự yếu đuối và bầy tỏ quyền năng của Người trong sự trung thành với chương trình tình yêu, mà sau cùng cũng thấy trước cả việc trừng phạt công bằng đối với các kẻ gian ác nữa (x. Mt 21,41). Rồi Ðức Thánh Cha khuyến khích mọi người như sau:


Cắm neo một cách vững vàng trong niềm tin nơi đá góc là Chúa Kitô, chúng ta hãy ở lại trong Người như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái nếu không ở lại trong cây nho. Chỉ trong Người, cho Người và với Người Giáo Hội dân của Giáo Ước mới, mới được xây dựng. Ðức Phaolô VI, vị Tôi tớ Chúa đã viết về điểm này như sau: "Hoa trái đầu tiên của ý thức được đào sâu của Giáo Hội về chính mình là việc canh tân khám phá ra tương quan sinh động của mình với Chúa Kitô. Ðây là điều rất được biết tới, nhưng nền tảng, cần thiết, và không bao giờ được hiểu biết, suy niệm và cử hành đủ" (Enc. Ecclesiam suam, 6-8-1964: AAS 56 (1964) 622).


Các bạn thân mến, Thiên Chúa luôn luôn gần gữi và hoạt động trong lịch sử nhân loại, và Người đồng hành với chúng ta bằng cả sự hiện diện đặc biệt của Người nơi các Thiên thần, mà hôm nay Giáo Hội tôn kính như "các Thiên thần Bản mệnh", nghĩa là các thừa tác sự lo lắng của Thiên Chúa đối với từng người. Từ khởi đầu cho tới giờ chết, cuộc sống con người được bao bọc bởi sư che chở liên lỉ của các ngài. Và các Thiên thần làm thành triều thiên của Nữ Vương oai nghiêm chiến thắng, là Ðức Trinh Nữ Maria Mân Côi, Ðấng trong ngày Chúa Nhật đầu tháng mười, và chính trong lúc này đây, từ Ðền Thánh Pompei và từ toàn thế giới tiếp nhận lời Khẩn cầu sốt mến, để sự dữ bị đánh bại và lòng lành của Thiên Chúa được vén mở trọn vẹn.


Tiếp đến Ðức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.


Sau Kinh Truyền Tin Ðức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.


Bằng tiếng Pháp, nhân dịp các đại học khai giảng, Ðức Thánh Cha mời gọi các giáo sư thông truyền cho sinh viên tình yêu đối với sự hiểu biết và chân lý qua lời giảng dậy của mình. Sự hiểu biết quan trọng, nhưng quan trọng hơn là việc đào tạo con người biết nhận định đâu là chân lý để có thể tự do lựa chọn. Cũng cần đào tạo người trẻ sống các giá trị luân lý và tinh thần đích thật, để giúp họ tìm ra ý nghĩa cuộc sống. Trong tháng mười này xin Ðức Bà Mân Côi đồng hành với tất cả những ai dấn thân trong việc đào tạo và giáo dục.


Trong tiếng Anh và tiếng Ba Lan Ðức Thánh Cha gửi lời chào các tham dự viên đại hội quốc tế Lòng Từ Bi Chúa đang diễn ra tại Cracovia và cầu mong sứ điệp tươi vui về Lòng Từ Bi Chúa là suối nguồn hy vọng được đem tới khắp nơi trên thế giới.


Trong tiếng Ý ngài mời gọi mọi người cảm tạ Thiên Chúa về gương mặt rạng ngời của nữ tu Antonia Maria Verna, sống giữa thế kỷ XVIII-XIX, mẫu gương của phụ nữ thánh hiến và là nhà giáo dục. Chị là sáng lập viên dòng các Nữ tu Bác ái của Ðức Mẹ Vô Nhiễm Ivrea và sẽ được Ðức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, phong Chân phước chiều Chúa Nhật tại Ivrea.


Ngoài ra Ðức Thánh Cha cũng nhắc tới sáng kiến truyền giáo tháng 10 có khẩu hiệu là "Chúa Giêsu ở giữa", do văn phòng mục vụ giới trẻ giáo phận Roma phát động cho các bạn trẻ.



Linh Tiến Khải
(Radio Vatican)

Xin cầu nguyện cho các bệnh nhân cuối đời


Các bệnh nhân cuối đời cần rất nhiều lời cầu nguyện của chúng ta vì đây là thời điểm vô cùng quan trọng.




Trong tháng 10 này Ðức Thánh Cha Biển Ðức XVI mời gọi chúng ta hiệp ý với tín hữu Công Giáo toàn thế giới cầu xin cho các bệnh nhân cuối đời được niềm tin nơi Thiên Chúa và tình yêu thương của các anh chị em khác nâng đỡ trong các đớn đau của họ.

Trong các nhà thương trên thế giới hiện nay có hàng trăm ngàn bệnh nhân mắc các chứng bệnh nan y chỉ chờ ngày chết, vì khoa học đã bó tay chịu thua không chữa trị được nữa. Trong số các bệnh nhân ấy có các bệnh nhân ung thư. Họ là những bệnh nhân đang sống những ngày cuối đời trong đau đớn tột cùng. Các bệnh nhân cuối đời ấy hiện diện trong mọi đại lục, đặc biệt tại những nơi nào nghèo đói và khó khăn là lý do gây ra cảnh sống bần cùng và đau đớn bao la.



Trong sứ điệp gửi Ngày Quốc Tế các bệnh nhân lần thứ 15 mùng 8 tháng 12 năm 2006, Ðức Thánh Cha Biển Ðức XVI ghi nhận rằng bệnh tật đau yếu là một thời điểm khủng hoảng, trong đó thường khi con người cũng phải nghiêm chỉnh đối diện tới tình trạng sức khỏe suy sụp và cái chết của mình. Tuy các tiến bộ y khoa ngày nay cống hiến cho con người nhiều cơ may hồi phục, nhưng cuộc sống con người tự nó có các hạn hẹp nội tại, và sớm muộn gì cũng sẽ kết thúc với cái chết không thể tránh được. Không kể các bệnh nhân đang sống giai đoạn cuối đời này, còn có hàng trăm triệu người khác trên thế giới vẫn phải sống trong các điều kiện không lành mạnh và không có các thuốc men cần thiết cho sức khỏe của họ, kể cả các loại thuốc căn bản nhất. Và chính vì thế họ cũng được kể vào số những người sắp phải chết. Sự kiện này khiến cho số người không thể chữa trị lên đến hàng trăm triệu.


Giáo Hội luôn luôn ước muốn trợ giúp các bệnh nhân nan y và các anh chị em đang sống những ngày cuối cùng trong cuộc đời họ, bằng cách khích lệ các vị lãnh đạo đề ra các đường lối chính trị xã hội bình đẳng có thể góp phần loại trừ các nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật, và bằng cách khẩn thiết kêu gọi thực thi việc trợ giúp các bệnh nhân không còn phương cách nào chữa trị họ được nữa. Cần phải thăng tiến các đường lối chính trị có khả năng tạo ra các điều kiện, trong đó các anh chị em này có thể chịu đựng các tật bệnh của họ và đương đầu với cái chết một cách xứng đáng với phẩm giá con người. Cần phải có nhiều trung tâm săn sóc các bệnh nhân nan y hơn trên bình diện nhân bản cũng như tinh thần và thiêng liêng.


Noi gương người Samaritanô nhân hậu Giáo Hội đặc biệt lo lắng cho các bệnh nhân. Qua các thành phần và cơ cấu của mình Giáo Hội tiếp tục ở bên cạnh các anh chị em đau khổ và sắp chết, tìm duy trì phẩm giá của họ trong những giây phút ý nghĩa này của cuộc đời họ. Ðông đảo các bác sĩ, các y tá các nhân viên mục vụ và người thiện nguyện hiện diện đó đây trên toàn thế giới phục vụ các bệnh nhân không biết mệt mỏi trong các nhà thương, các bệnh xá, cũng như ngoài đường phố, tại tư gia và trong các giáo xứ. Cũng trong sứ điệp Ðức Thánh Cha khích lệ các bệnh nhân chiêm ngắm các khổ đau của Chúa Kitô chịu đóng đanh trên Thập Giá và kết hiệp các khổ đau của họ với các khổ đau của Chúa Kitô, để mưu cầu ơn ích cho Giáo Hội và cho toàn thế giới. Ngài cầu chúc họ luôn tìm được sự khích lệ và sức mạnh tinh thần cần thiết để dưỡng nuôi đức tin của họ và dẫn họ tới gần Thiên Chúa Cha của Sự Sống hơn. Qua các linh mục tu sĩ và nhân viên mục vụ y tế Giáo Hội ước mong nâng đỡ họ trong giờ phút cần thiết để biểu lộ lòng từ bi tràn đầy yêu thương của Chúa Kitô đối với những người đau khổ.




Chăm sóc bệnh nhân giai đoạn cuối và luôn nguyện cầu cho họ được ơn chết lành.




Ðức Thánh Cha cũng xin cộng đoàn giáo hội toàn thế giới, đặc biệt là các Kitô hữu tận hiến đời mình để phục vụ các bệnh nhân, tiếp tục sứ mệnh này với sự trợ giúp của Mẹ Maria, Sức khỏe của những người đau yếu, và làm chứng cụ thể cho sự chăm sóc yêu thương đó của Thiên Chúa là cha đối với các anh chị em bệnh nhân nan y đang chuẩn bị về với Chúa.


Ngày nay, người ta sợ hãi đến độ không dám nói đến các bệnh nan y như bệnh ung thư, và báo tin cho các bệnh nhân biết họ bị bệnh. Việc báo tin bệnh nan y thường bị coi như là một tin kinh khủng gây thất vọng và buồn đau cho người bệnh cũng như cho thân nhân của họ. Nhưng cũng có những người có khá năng sống một tiến trình thiêng liêng giải thoát từ nỗi đớn đau của họ và khám phá ra rằng sự bất lực và bệnh tật của con người cũng có thể là dịp Thiên Chúa viếng thăm họ và là lúc sắp được về nhà Cha. Ðiển hình như trường hợp của chân phước linh mục Alberto Hurtado người Chilê. Khi nghe báo cho biết ngài bị bệnh ung thư vào giai đoạn cuối cha vui vẻ kêu lên: "Tôi đã trúng số độc đắc", vì cha biết rằng căn bệnh này là giờ để trở về Nhà Cha trên trời. Với các tâm tình trên đây trong tháng 10 này hiệp ý với Ðức Thánh Cha và tín hữu công giáo toàn thế giới chúng ta hãy cầu xin cho các bệnh nhân cuối đời được niềm tin nơi Thiên Chúa và tình yêu thương của các anh chị em khác nâng đỡ trong các đớn đau của họ.



Linh Tiến Khải
(Radio Vatican)

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Linh mục không phải là thiên thần


Xin mọi người hãy cầu nguyện cho các Linh mục mỗi ngày




Các linh mục phục vụ Dân Chúa, phục vụ Giáo Hội.
Họ chăm lo cho mọi người, cầu nguyện và yêu thương mọi người.
Linh mục là dấu hiệu của tình yêu vô biên của Thiên Chúa.
Hãy cầu nguyện cho các linh mục, thương yêu các ngài, ủng hộ các ngài.
Giúp các ngài trở nên thánh thiện.



Các linh mục chúng tôi đều yếu mềm và dễ vỡ.
Nếu các bạn không quỳ cầu nguyện cho chúng tôi thì
chúng tôi sẽ sa ngã và gục ngã.
Chúng tôi cần rất nhiều lời cầu nguyện của các bạn.

Fr. Jozo Zovko, OFM - Medjugorje

(Memaria.info)

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Ý nghĩa dấu Thánh Giá

LÀM DẤU THÁNH GIÁ




Hít vào: Làm dấu trên đầu: NHÂN DANH CHÚA CHA giữ hơi lại...

Thở ra: Làm dấu trên tim: VÀ CHÚA CON để yên...

Hít vào: Làm dấu trên mình: VÀ CHÚA THÁNH THẦN giữ hơi lại...

Thở ra: Chấp tay: AMEN.

Làm dấu Thánh Giá là một cách tuyên xưng đức tin rõ ràng, vững mạnh của những người theo Chúa.

Thánh Lễ bắt đầu bằng dấu Thánh Giá, là một trong những dấu hiệu Kitô giáo cổ xưa nhất, và là dấu hiệu tuyệt hảo của người Kitô hữu.

Khi làm dấu Thánh Giá, chúng ta nhận biết mình thuộc về Chúa Kitô, bày tỏ niềm tin của chúng ta vào Chúa Kitô đã chết trên Thánh Giá vì chúng ta, chúng ta nói lên lòng ước muốn đón nhận sự phong phú khôn lường của Thánh Giá và ước muốn liên kết đời sống chúng ta với đời sống của Chúa Kitô chết trên Thánh Giá. Vậy, Thánh Giá quả là dấu chỉ sự cứu độ, sự cứu chuộc và sự phục sinh. Dấu Thánh Giá còn nhắc chúng ta về bí tích Thánh Tẩy của mình, bởi chúng ta đã được rửa tội "nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần".



Dấu Thánh Giá là biểu thức của chính đức tin Kitô giáo, đó là sự hiện hữu của Thiên Chúa tình yêu được mạc khải bởi đời sống của Chúa Kitô. Do đó người ta hiểu tại sao các Kitô hữu thường làm dấu Thánh Giá và luôn luôn bắt đầu một nghi thức phụng vụ bằng dấu Thánh Giá.

1/ Dấu Thánh Giá đơn:

Khi làm dấu Thánh Giá, bàn tay phải được đưa lên vầng trán và đọc: "Nhân Danh Cha; rồi bàn tay trái được đưa xuống trước ngực và đọc: Và Con; sau đó bàn tay được đưa sang bờ vai bên trái rồi sang bên phải, đang khi đọc: Và Thánh Thần; sau cùng chắp hai bàn tay lại trước ngực và đọc: Amen".

Chúa Cha là Đấng Tạo Dựng muôn loài muôn vật và Ngài thấy mọi sự đều tốt đẹp. Mà mọi hành động của con người đều phát xuất từ suy nghĩ là đầu óc của chúng ta. Nên chúng ta làm Dấu trên trán là xin Chúa soi sáng cho mọi viêc chúng ta làm được tốt đẹp.

Chúa Con đã đổ hết Máu và Nước mình ra vì chúng ta. Đó là lưỡi đao đâm thâu cạnh sườn Người. Chính vì thế mà chúng ta làm ở ngực là xin cho được lòng yêu mến "Mến Chúa yêu người và ngược lại".

Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa. Ngài ban cho chúng ta bảy ơn thánh của Ngài. Nên làm hai vai là xin được ơn Mạnh khỏe - làm việc gì cũng được Ngài kết hợp và Thánh hóa.

2/ Dấu Thánh Giá kép:

Người Công giáo Việt Nam khi đọc kinh tối sáng, khi đọc kinh cầu cho thân nhân đã qua đời, thường hay làm dấuhình Thánh giá 3 lần: trên trán, trên môi miệng và trên ngực.
Và trong Thánh Lễ, trước khi nghe lời Chúa trong Phúc âm, chúng ta cũng làm dấu Thánh Giá "kép" trên trán, trên môi miệng và trên ngực.

Dấu Thánh Giá "kép" mang ý nghĩa gì và tại sa làm dấu "kép" này?
1- Vẽ dấu Thánh Giá trên trán, chúng ta muốn nói: Vâng, con nghe hay đọc lời Chúa với sự hiểu biết của trí khôn con.

2- Trên môi miệng, chúng ta cũng muốn biểu lộ: Và con còn muốn qua môi miệng loan truyền Lời Chúa mà con đã nghe, đã đọc.

3- Rồi trên ngực, chúng ta muốn tuyên xưng: Con xin tin và yêu mến Lời Chúa.

Alpha
(The way of Jesus)


Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Đi tu sướng hay khổ?

Nếu có ai hỏi: đâu là buồn vui đời linh mục? Thì trả lời thế nào cho phải? Nhóm cho rằng làm linh mục "sướng" lắm, chỉ thấy màu hồng trong suốt cuộc đời. Đây nhá, kể một vài cái sướng cho mọi người đọc chơi đỡ buồn.

Cái sướng thứ nhất là được gọi bằng "cha". Ôi chao! Mới hôm trước là "thầy" hôm sau lên cha. Hôm trước còn có người xưng tôi với thầy, hôm sau "biến" thành con. Đã vậy, sau lễ truyền chức, bao nhiêu người đứng xếp hàng xin ơn phép lành. Trong số các người xin ơn phép lành này, thế nào chẳng có vài bà cụ xin hôn tay cha để lấy "in-du" đời sau. Các bà cụ vẫn nổi tiếng khó tính vì có mấy cậu con trai học giỏi, mấy cô con gái xinh, nhà lại khá giả. Làm quen với các bà còn khó hơn làm quen với con cái của bà, vậy mà giờ đây, ông cha mới, chẳng cần làm quen, làm lạ gì, được bà ấy năn nỉ xin hôn tay. Mà hôn tay cũng không dễ đâu nhá. Phải xếp hàng theo thứ tự! Rõ khổ. Hôn tay cũng phải xếp hàng.



Cái sướng thứ hai là được bài hát nào đó ca tụng rằng "Chúa chọn con lên hàng khanh tướng". Khanh tướng tức là quan lớn. Một người làm quan cả họ được nhờ. Chẳng thế mà các cha ngày xưa được gọi là "các cụ quan triều đó ư?" Không những cha làm quan mà bố mẹ của cha cũng lên chức "ông bà cố". Vài tháng trước, có kẻ còn gọi xách mé là "bà Tư bán hàng xén" vậy mà khi có con "đỗ cụ" thì đố "đứa nào" dám gọi như vậy.

Cái sướng thứ ba là "nghe tội người khác". Con người ai chẳng tò mò muốn biết người khác có giống mình không? Bây giờ bỗng dưng họ "thành khẩn khai báo" thì có khác gì nắm được cái tẩy của họ? Mà thành khẩn khai báo thì còn gian lận, chứ đi xưng tội phải thành thật 100% Chúa mới tha. Ông cha có thể không biết gì, nhưng còn Chúa thì sao? Bởi vậy cho nên mới có màn xưng tội mùa đại phúc, nghĩa là mỗi năm ít nhất hai lần, Phục sinh và Giáng sinh, cha quản nhiệm thế nào cũng cố gắng mời cho bằng được cha khách đến xứ mình giúp giải tội. Lạ một điều là xưng tội với cha nhà không thiêng, cho nên các vị trong hội đồng mục vụ, tài chánh, ban chấp hành đoàn thể cứ thích xưng tội với cha khách! Có cha kia kể chuyện một bà trùm đến xưng tội với ngài. Bà trùm không chịu ngẩng đầu cao cho dễ nói, còn bịt mũi cho khác giọng. Cha già bị điếc, nghe không rõ, cứ nhắc đi nhắc lại hai ba lần rằng "bà ơi, bà nói to và rõ một chút, tôi chẳng nghe thấy gì". Bà lại càng lí nhí hơn. Nghe không rõ, cha hỏi:

- Bà đánh ông nhà mấy lần?

- u, a...

Ngài nói to hơn:

- Bà đánh ông ấy mấy lần?

- u, a, u,..

Ngài quát lên:

- Ba lần hay năm lần? Đánh ông ấy tới 7 lần cơ à? Sao nhiều thế?

Bể hết. Mấy người đứng sau cứ bụm miệng mà cười. Có người cố gắng bịt hai tai mà vẫn nghe thật rõ.

Cái sướng thứ tư là ngồi chỗ kính trọng và mọi người phải chờ cha đến rồi mới ăn uống hay khai mạc phiên họp. Đây nhé, trông thì thấy ngay. Vào những dịp lễ đông người, như vọng Giáng sinh hay Phục sinh chẳng hạn, trong khi nhiều người đến sớm kiếm chỗ ngồi, thì cha cứ từ từ tiến lên ghế đã dành riêng của mình, chẳng phải tranh dành với ai mà cũng chẳng ai dám tranh dành với cha. Đố ông nào bà nào lên ngồi "ghế của cha" hay là ngồi gần cha trên bàn thờ? Có mời cũng chẳng dám. Rồi mình đi lễ trễ mấy phút thì sợ mất lễ, còn cha "chẳng may" có trễ, mọi người đều phải chờ. Vị nào dám lên "làm lễ thay cha". Sướng quá rồi còn gì? Đấy là chưa kể đến các bữa tiệc phải chờ cha ban phép lành mới ăn. "Ăn uống mà chưa được ban phép thì khác gì ăn kiểu ngoại đạo!". Cha luôn được mời ngồi ở chỗ vinh dự nhất, bàn tiệc thứ nhất Trông thật oai. Có món gì ngon trước tiên phải dọn lên bàn của cha và các vị quan khách đặc biệt.

Cái sướng thứ năm là không bị lo lay-off, nghĩa là thất nghiệp. Trong khi ngoài đời xuân thu tam tứ kỳ, mỗi lần hãng thay đổi supervisor hoặc làm ăn lên xuống thất thường là nhân viên lo són vó; còn các cha cứ yên trí làm việc, chẳng cần để ý đến óp với mẩy. Hơn thế nữa, thiên hạ càng lo càng trở nên đạo đức, cần đến cha nhiều hơn!

Cái sướng thứ sáu là cha "nói một tiếng bằng chúng con nói mười tiếng". Đúng vậy, trong nhà thờ, nếu cha kêu gọi điều gì, xem ra toàn dân hưởng ứng dễ dàng. Còn mình có dài cổ ra mời, may ra được bà vợ và đoàn con của mình đáp ứng thôi. Bởi thế cho nên người Mỹ mới có câu truyện hài hước:

Ba thằng nhãi con ngồi nói chuyện với nhau, khen bố mình giỏi. Thằng thứ nhất khoe: - Mọi người gọi bố tao là giáo sư. Lương tháng của bố tao hơn ba ngàn. Tính ra mỗi giờ dạy học của bố tao hơn 50$. Mai mốt tao giống bố tao. Học trò đến với bố tao phải trả tiền đó mày, vì bố tao dạy học dễ hiểu, nổi tiếng cả thành phố.

Thằng thứ nhì nổ: - Bố tao tuyệt vời lắm. Bố tao là ca sĩ. Mỗi lần hát được trả 2000$ cho vài bài nhạc. Chưa đến nửa tiếng, hai ngàn. Thiên hạ khoái bố tao lắm, vỗ tay quá trời. Bố tao nổi tiếng cả tiểu bang.

Thằng thứ ba có vẻ khiêm tốn: - Tao chẳng biết bố tao tài năng ra sao, nhưng mà ở trong nhà thờ, ông ấy rút ra một tờ giấy, đọc cái gì ấy, chẳng biết có ai hiểu không, sau đó 5, 6 người đứng lên cầm giỏ đi thu tiền mọi người. Bố tao chỉ lề rề đọc chừng mười phút, chẳng ai cười, chẳng ai vỗ tay, vậy mà mỗi tuần thu được hơn 10 ngàn đó mày.

Hai thằng kia tranh nhau hỏi:

- Thế bố mày làm nghề gì?

- Pastor (Mục sư chánh xứ).

Có khi thằng bé nói đúng. Bố nó trong nhà thờ, "rút ra tờ giấy, đọc cái gì ấy, chẳng biết có ai hiểu không?". (Vậy mà sau đó vẫn có màn quyên tiền). Bởi thế cho nên, có bà cố hồi xưa đến xin cha xứ cho con mình đi tu:

- Thưa cha! Xin cha thương nhận cho cháu nó vào nhà chung. Cháu nó khờ lắm cha ạ! Ở ngoài đời, chỉ tổ bị vợ nó bắt nạt.

Cha nghe xong không biết là bà cố tương lai này có chửi xéo mình không?

Hóa ra tiêu chuẩn đầu tiên theo Chúa là... khờ. Ở ngoài đời sẽ bị vợ bắt nạt, hay bon chen thì cũng chẳng nên trò trống gì! Mà cũng hay thật. Các cha xứ hình như có "hơi khờ" một chút thì cũng đỡ bị người khác ghét và ganh tị như các cha lanh lợi!

Đúng vậy. Thầy nào hơi lanh một chút thế nào cũng có ông hay bà phán: - Trông tươi tỉnh khôn ngoan như vậy, chẳng biết tu suốt đời không?

Một cha trong ngày chịu chức, nhận thiệp mừng trăm bạc kèm theo lời cầu nguyện viết nắn nót: "Con hằng đêm cầu nguyện cho cha ơn bền đỗ". Trời đất! Sợ sắp sa ngã thì mới xin cho bền đỗ khỏi lạc đường, chứ không có gì trục trặc thì bền với đỗ cái gì? Cha nghĩ thầm "may mình biết rõ gia đình này thật lòng, chứ nếu không thì tưởng họ chửi xỏ mình".

Nếu tiếp tục kể về các cái "sướng"như nói về thuốc thập toàn đại bổ thì còn dài lắm, nhưng cuộc đời làm gì luôn luôn được suôn sẻ như vậy. Nếu đi tu sướng thế thì sao thiên hạ không đi tu hết cho rồi? Lại cứ để mấy vị "khờ khờ" tiến chức là sao? Thôi bây giờ bàn về cái khổ cho công bằng.

Cái khổ đầu tiên mà các cha gặp là "muốn làm người bình thường mà không được." Dĩ nhiên, được yêu mến, kính trọng, được dành chỗ đặc biệt trong nhà thờ, nhà hàng thì vui đấy; nhưng nếu thử tưởng tượng một cô ca sĩ phải cười tươi đủ 8 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần, thì thế nào cũng có lúc mong khép nụ cười lại cho đỡ mỏi. Khổ nỗi thiên hạ không cho, cứ bắt phải... cười!!! Ngồi chỗ dành riêng mãi chẳng vui thú gì đâu. Ăn cũng giữ ý tứ, nói cũng cẩn thận, ngồi cũng nghiêm trang. Hàng trăm con mắt nhìn vào mình thì còn thích thú gì? Đấy là chưa kể đến các đám cưới, gia đình cô dâu chú rể quý mến cha quá, cho ngồi bàn đầu tiên ngay bên cạnh hệ thống âm thanh. Nói chuyện cứ như quát. Lúc đi ra khỏi tiệm mới biết rằng mình bị điếc một bên tai vì ban nhạc chơi quá tay. Giá mà ở nhà làm một bát cơm canh thì thật thú vị! Có cha than thở rằng bao giờ đi ăn tiệc cũng đói, về nhà phải làm thêm tô mì. Lý do là vì có lần nghe bà cụ kia than trong tòa giải tội "cha phó của con ăn uống cứ như người đời" thành ra "nhột" không dám ăn nhiều trước công chúng nữa.

Cái khổ thứ hai là cái khổ của "đời tôi cô đơn". Chẳng phải là cô đơn thiếu đời sống gia đình mà là cô đơn không có bạn, không có người hiểu và thông cảm với mình. Một vị hồng y Việt nam đã nói rất chân tình: "Vào tiểu chủng viện, tôi mất một số bạn cũ tiểu học. Rồi mỗi năm mất thêm một số bạn. Họ rời chủng viện, mình còn đi tu, đâu dám liên lạc. Lúc lên đại chủng viện, làm thầy, mất thêm mớ nữa. Sau ngày chịu chức linh mục, số bạn mà mình dám kể chuyện tâm tình cho nhau nghe, chỉ còn trên đầu ngón tay. Đến lúc làm giám mục thì coi như chẳng còn ai, vì chẳng ai muốn làm bạn với giám mục. Rồi khi lên hồng y thì coi như... hết đời. Hết bạn, hết bè, hết người nói chuyện!

Có người thương cha quá bèn nói "cha có Chúa Thánh thần ở cùng, nên chẳng cần quen biết với bạn bè ngoài đời làm gì. Có buồn thì cầu nguyện với Chúa là xong". Nói như vậy cũng chẳng khác gì nói "cha gần Chúa, cha sắp làm thánh rồi, đừng ăn uống nữa!". Giá được như thiên thần, không cần ăn uống, không biết hỉ, nộ, ái, ố gì nữa thì cũng tốt. Nhưng soi gương thấy mình giống xác ướp trong phim Ai cập quá, chẳng còn cảm xúc.

Có cha mỗi lần đi qua các bức tượng đá nơi công viên lại mỉm cười, ngẫm nghĩ, mình được kính trọng giống như tượng đá. Nhìn xa thì oai vệ, có ai biết rằng tượng phải làm tượng cả ngày lẫn đêm, lúc nắng gắt cũng như mưa gió bão bùng. Có ai muốn làm tượng đá cô đơn nơi công viên không nhỉ?

Cái khổ thứ ba là bị "quân Giu-Dêu" nó chửi mà mình lại không có quyền "chửi" lại chúng. Bá nhân, bá tánh. Làm dâu trăm họ, có cách nào chiều được mọi người không? Dễ dãi quá thì sợ sai luật giáo hội, luật địa phận, các bề trên quở trách. Đúng luật thì bị lên án là "làm phách". Giải thích cũng chẳng ai thèm nghe. Đương nhiên sau khi phật ý, là có màn chê bai ngay. Nếu chỉ chê trách hoặc kể sự việc cho chính xác thì cũng được coi là công bằng, nhưng mà chê bai thì phải đi đôi với... nói xấu. Thế là các thói xấu của cha, những việc xảy ra cách đây chừng vài chục năm, được kể hết. Người nghe, ai mất công kiểm soát lại xem sự việc đó đúng hay sai? Có xảy ra thực như vậy hay không? Thiên hạ dễ tin cái xấu hơn cái tốt, dễ nhớ điều sai của người khác hơn cái phải của họ. Có đúng không?

Tương tự như cái khổ thứ ba là cái khổ thứ tư. Bị thiên hạ vu vạ, cáo gian mà mình không có quyền tìm cách giải thích cho công khai. Một mặt thì trên tòa giảng, cha nói về yêu thương, tha thứ, cầu nguyện cho kẻ thù, đến lúc có người vu khống lại dãy nảy lên như đỉa phải vôi, thanh minh, thanh nga thì còn rao giảng Tin Mừng gì nữa? Rồi thiên hạ khoái nghe đồn. Một đồn mười, mười đồn trăm. Không khác gì bị lựu đạn khói, chẳng thấy đường nào mà thoát.

Với các cha thì mấy môn học về tâm lý trong chủng viện, lúc đem ra ngoài áp dụng, trật đường ray hết. Một vài cha cũng không biết mình nên sống kiểu Âu Mỹ hay kiểu Việt Nam. Có cha kể lại, khi thực tập lớp giải tội, người đóng vai hối nhân, sau khi xưng tội, cảm xúc quá, chạy đến bên cha -khi đó làm thầy-, khóc lóc thảm thiết, gục cả đầu vào đầu gối cha. Cha gạt sang bên tránh không cho hối nhân chạm vào mình. Cuối giờ có phần chấm điểm từ cha giáo và các bạn. Mọi người cho thầy điểm giải tội thì thuộc bài, nhưng về mục vụ thì suýt rớt. Lý do tạo cho hối nhân cảm tưởng họ là người tội lỗi, nhơ bẩn, không ai cho chạm vào, nhất là khi họ vừa bày tỏ tội lỗi, ngay cả những tội thầm kín nhất. Ghi nhớ bài học mục vụ này, lúc đến nhà xứ, gặp người xin xưng tội, diện đối diện, thay vì qua tòa kín. Cảm phục lòng can đảm, sau khi giải tội xong, cha bèn đứng lên, giang tay "hug" bình an hối nhân, sau đó quên bẵng. Ai dè, vài tháng sau có tiếng đồn rằng "cha ấy giải tội cho tao xong, còn đứng lên ‘ôm' tao nữa mày ạ!". Trời đất! Vậy có chết người không? Bây giờ làm sao đây? Không lẽ ông cha phải đi nói cho người ta biết rằng "tôi chẳng thèm ‘ôm' cô ta đâu?"

Đấy là chưa kể đến các việc bàn hỏi, linh hướng liên quan đến bí tích giải tội hoặc thanh danh gia đình người khác, không được phép tiết lộ ra ngoài, đành phải im lặng, ngậm đắng, nuốt cay. Có chị kia bị chồng bạc đãi quá, chịu không nổi, chạy lên cha xin xưng tội và đồng thời vấn kế. Sau khi gặp vài lần, cha đề nghị hai vợ chồng gặp counselor phần đời. Chỉ có chị vợ đi còn anh chồng lần nào cũng bận. Bà vợ, với tâm tình phụ nữ Việt Nam, thỉnh thoảng mang biếu cha ít thức ăn, xin lễ cầu nguyện cho gia đình, như để tạ ơn cha đã giúp cho gia đình. Chẳng may, cuối cùng đôi đó tan vỡ. Ông cha bị anh chồng vu cáo "có tình ý với vợ tôi vì nhận quà của vợ tôi thường xuyên". Để chạy lỗi, anh chồng kiếm sang chuyện khác. Ông cha lãnh đủ. Nên làm sao đây? Không lẽ đi kể chuyện nhà người ta ra, vợ chồng cãi nhau, đánh nhau, tranh giành tiền bạc, chơi bời thế nào để thanh minh cho mình? Một lần bực quá định "nói tọac móng heo" thì có người khuyên: "Thôi cha ạ! Đi tu phải hy sinh chứ! Khi xưa Chúa bị đau khổ trong vườn Giệt-si-ma-ni mà Ngài có than thở hay kể tội ai đâu?" Nghe cũng hợp lý. Đi tu mà! Nhưng "to be or not to be?"

Cái khổ thứ năm là dễ bị phân tích theo tiêu chuẩn rất chủ quan. Không khác gì tại Hoa Kỳ, đảng Dân chủ phân tích đảng Cộng hòa. Dân ta thì kính trọng cha, cụ đặc biệt nhưng thích nghe chuyện xấu về cha, cụ cũng nhiều, nhất là những chuyện liên quan đến tiền bạc và người khác phái. Đương nhiên đây là những vấn đề Giáo hội dạy phải cẩn thận, thế nhưng hình như mọi hình ảnh đều được phân tích do sự chủ quan "suy bụng ta ra bụng người", cho nên thấy chỗ nào cũng tội và cơn cám dỗ. Một ông cha ngoại quốc ôm chúc bình an thì không sao. Một cha Việt Nam thì... có sao. Sợ cha "lòng động lòng lo" dễ sa chước cám dỗ nhưng "không nói với cha, mà đi rỉ tai các người chung quanh!". Có người đeo kiếng râm màu đen, có người đeo kiếng màu hồng và cũng theo màu đó mà phân tích cuộc đời ông cha. Người đeo kính màu hồng nhìn cha như thánh sống. Kính trọng cha quá mức đến phát ngượng. Người đeo kính màu đen lúc nào cũng chỉ thấy lỗi lầm chung quanh cha. Cho nên nếu thấy cha vui vẻ, cười cợt với người khác phái thì sợ cha dễ bị sa ngã. Thấy có người đưa tiền xin lễ hoặc biếu xén rộng rãi thì nghĩ rằng họ đang lợi dụng cha. Thấy cha thăm viếng thường xuyên một vài gia đình thì lo cha sẽ bị ảnh hưởng của họ. Thế là các điều tiếng như: chỉ chơi với nhà giầu, thân nhà cô A, cô B lắm, thích ăn ngon, mặc đẹp, đi xe sang trọng, uống rượu một cây... Cha nào muốn sống thực với chính mình thấy khó quá. Có lẽ vì vậy mà nhiều cha lựa chọn đi làm với người bản xứ cho yên thân chăng?

Một vài người hiểu lầm hai chữ phê bình và góp ý hoặc hiểu đúng nhưng muốn gộp hai điều làm một. Thấy cha làm điều gì đó có vẻ "chướng mắt" cũng không dám nói, sợ mang tiếng chống đối, hay phê bình. Ngược lại, có người thì không góp ý bao giờ nhưng chỉ chờ dịp phê bình? Một vài vị còn sưu tầm các biến cố -đa số đều là biến cố qua cặp kính màu đen trong cuộc đời các cha để mai này sẽ có dịp mang ra dùng!!! Làm việc tông đồ mà có FBI theo dõi thì cũng hơi buồn.

Có người nói, quan tâm đến cha thì mới đặt vấn đề với cha. Vậy thì cha có bị cám dỗ không? Đến Chúa còn bị thì huống chi là ông cha. Ai mà chẳng bị. Nhưng có lẽ điều khác biệt là tập quán chống lại cám dỗ của mỗi người khác nhau. Ngay từ hồi nhỏ, khi mới đi tu, còn trong tiểu chủng viện, rồi lên đại chủng viện, chịu chức, những người đi tu đã cố gắng luyện tập cho mình thói quen này. Cầu nguyện, hãm mình, xét mình hằng ngày, chịu các bí tích, xưng tội thường xuyên, bàn hỏi với các linh hướng... là những phương cách hữu hiệu nhất để mau giúp đạt được tập quán đó.

Giống như người văn ôn, võ luyện thường xuyên, thì khi bị tấn công, dù bất ngờ, cũng trở tay mau chóng hơn người ít luyện tập. Cho nên, cùng cái bắt tay, cùng một hình ảnh nhưng người có tập quán chống lại cám dỗ, thì sức cám dỗ sẽ nhẹ hơn hoặc có khi chẳng là gì. Ngược lại, người quá bận rộn với các lo lắng khác, không có thời giờ phát triển tập quán chống lại cám dỗ hoặc nói cách khác đi, không phát triển tập quán mở cửa cho ân sủng, thì cơn cám dỗ đến thường xuyên và mạnh bạo hơn. Đấy là chưa kể đến người còn "enjoy" chước cám dỗ thì cơn cám dỗ càng dễ đến...

Vui buồn sướng khổ trong cuộc đời đi tu thì chẳng khác gì chuyện dài nhân dân tự vệ. Có lẽ cần nhìn đến con số thống kê để biết đi tu "sướng nhiều hay khổ nhiều".

Theo Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ cho biết thì năm 2004, số thỉnh sinh Việt Nam chịu chức linh mục lên đến 20% tổng số toàn quốc. Mọi năm chỉ có 9%. Nếu so với tỷ lệ người Công giáo Việt Nam vào khoảng 400 ngàn trên 66 triệu người Công giáo Hoa Kỳ, tức là chưa tới 0.65%, vậy mà số tân linh mục là 20%. Như thế chứng tỏ rằng đi tu vẫn sướng, ít nhất là đi tu Việt Nam sướng hơn đi tu... Mỹ!

(LM. Anthony Đào Quang Chính, OP)

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Linh mục


“Linh mục là người tiếp tục công cuộc Cứu Chuộc trên trần gian”.

“Khi bạn thấy một linh mục, bạn hãy nghĩ đến Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

“Linh mục không phải là linh mục cho mình, mà cho các bạn”.

“Đến xưng tội với Đức Trinh Nữ hay với một thiên thần. Các ngài sẽ giải tội cho bạn? Các ngài sẽ trao ban cho bạn Mình Máu Thánh Chúa chúng ta? Không đâu, Đức Trinh Nữ không thể làm Con của Mẹ xuống ngự trong Bánh Thánh. Dù bạn có hai trăm thiên thần ở đó đi nữa các ngài cũng không thể tha tội cho bạn. Một linh mục, dù đơn sơ đến mấy đi nữa, ngài có thể làm chuyện ấy. Ngài có thể nói với bạn: “Hãy đi bình an, cha tha tội cho con”.

“Ôi, linh mục là điều gì thật cao trọng!”.

“Một mục tử tốt lành, một mục tử theo lòng Thiên Chúa mong ước, là một kho tàng lớn mà Thiên Chúa tốt lành có thể ban cho một giáo xứ, và là một trong những ân huệ quý giá nhất của lòng nhân hậu thiên linh”.

“Linh mục, đó là tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu”.

“Hãy để một giáo xứ hai mươi năm không có linh mục: bây giờ người ta sẽ thờ thú vật”.

(Thánh Gioan-Maria Vianney)

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

ĐGH Benedict: “Sử dụng Facebook để tuyên xưng… đức tin”

Ngày nay, có rất nhiều bạn trẻ Công giáo dùng tên Thánh của mình, chọn avatar là ảnh thánh của Chúa Giêsu, Mẹ Maria hay hình ảnh cao đẹp khác. Các bạn hiên ngang tuyên xưng đức tin bằng những câu trích và những comment tuyệt đẹp trên đó.

[caption id="attachment_825" align="aligncenter" width="480" caption="ĐGH Benedict – Vị Cha già thích sử dụng mạng xã hội Facebook"][/caption]


Bạn là một chàng trai hay cô gái đang ở độ tuổi đôi mươi, sống với computer (máy tính), làm việc và giải trí với Internet, giao tiếp bằng các mạng xã hội. Tân tiến và trẻ trung, năng động và tự do quá phải không? Bỗng có một cụ già trên 80 tuổi đến và nói với bạn về cách giao tiếp Internet, bạn sẽ nghĩ sao? Bạn sẽ cho rằng cụ thuộc thế hệ xa xưa, không rành Internet và các vấn đề của nó, đúng không nào các bạn?

Nhưng bạn ơi, có thể bạn lầm. Có một cụ già 84 tuổi, gửi sứ điệp cho giới trẻ thế giới về truyền thông, mà đọc lên nghe trẻ trung và gần gũi không kém bất cứ một blogger hay facebooker nào. Đó là Đức Giáo Hoàng Benedict XVI, người Cha già của giới trẻ Công giáo. Ngài là người Cha già với trọn vẹn ý nghĩa của từ ngữ này, đã không có ai và sẽ không có ai để giới trẻ Công giáo gọi Cha già với niềm trìu mến như gọi các vị Giáo hoàng của mình.

Đoạn văn đánh động tâm hồn tôi nhất là đây, mời bạn cùng đọc chậm rãi với tôi bạn nhé:

“Loan báo Tin Mừng qua các phương tiện truyền thông mới không chỉ có nghĩa là diễn tả nội dung tôn giáo trong các lãnh vực truyền thông khác nhau, nhưng còn là làm chứng một cách kiên định, trong bản lý lịch trên mạng của mình và theo cách thức chia sẻ những chọn lựa, những ưu tiên, những phán đoán phù hợp hoàn toàn với Tin Mừng, ngay cả khi người ta không nói về điều đó cách đặc biệt.”

Bạn có thấy đoạn thông điệp trên có hay không? Nếu chưa, xin mời bạn đọc lại, từng từ thôi: “truyền thông”, “Tin Mừng”, “làm chứng”, “lý lịch trên mạng”, “chia sẻ”, “chọn lựa”, “ưu tiên”, phán đoán” và lần nữa “Tin Mừng”.

Thật tuyệt vời! Bạn có nhận ra người Cha già của chúng ta tuyệt vời chưa? Chúng ta thử sắp xếp lại lời văn của người Cha chung xem nào: Truyền thông là loan tin, chúng ta không loan tin cho sự chết, cho bóng tối, mà loan Tin Mừng. Không những loan tin, chúng ta còn làm chứng cho tin ấy. Làm chứng trước hết là bằng lý lịch trên mạng của chúng ta. Không giấu giếm tên chung của anh em chúng ta: Yêsu. Và khi chọn Yêsu, cho mọi người biết ta thuộc về Yêsu, ta chia sẻ những chọn lựa, ưu tiên và phán đoán của ta.

Tiêu chí cho các chọn lựa, ưu tiên và phán đoán ấy? Có ngay rồi: đó là Tin Mừng. Bây giờ bạn còn cho rằng ý kiến của cụ già 80 tuổi là “thuộc thế hệ xa xưa, không rành Internet và các vấn đề của nó” nữa hay không? Tôi dám đoán chắc chắn rằng bạn đã thay đổi hoàn toàn rồi phải không? Vậy xin mời bạn tìm đọc “Sứ điệp của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhân Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 45” và bạn sẽ khám phá nhiều điều thú vị hơn.

[caption id="attachment_826" align="aligncenter" width="480" caption="ĐGH Benedict – Sử dụng Facebook là để tuyên xưng… đức tin"][/caption]

Bạn cũng có thể tham dự cuộc thảo luận về Sứ điệp này lúc 18h 30p, ngày thứ năm, 02/06/2011, tại Dòng Chúa Cứu Thế, 38 Kỳ Đồng, Quận 3, TP.HCM.

Chúng ta hãy quay lại với đoạn văn trên một chút nữa bạn nhé. Khi Đức Thánh Cha nói đến lý lịch trên mạng, là ngài đã nhắc đến việc chúng ta trình bày chính mình trên mạng qua hình ảnh, avatar, nick name, lời trích dẫn, và cả những điều chúng ta ưa thích, ý kiến chúng ta đưa ra nữa.

Bạn hãy vào mạng xã hội facebook chẳng hạn. Bạn có nhận xét gì? Hiện có rất nhiều bạn trẻ Công giáo dùng tên Thánh của mình, chọn avatar là ảnh thánh của Chúa Giêsu, Mẹ Maria hay hình ảnh cao đẹp khác. Các bạn hiên ngang tuyên xưng đức tin bằng những câu trích và những comment tuyệt đẹp trên đó.

Điều ấy nói lên rằng Chúa Yêsu thật sự làm chủ cuộc đời các bạn, thật sự chi phối từng phút giây trong đời sống các bạn, và do đó, Yêsu chính là điểm đến cuối cùng mà không ai, không có gì vĩ đại hơn để thay thế. Giữa xã hội đầy bóng tối, muốn loại trừ Yêsu là Chúa ra khỏi tâm hồn người trẻ, mà được nhìn thấy những con người dám hiên ngang tuyên xưng niềm tin vào Đức Yêsu, ai cũng cảm được sức mạnh của Đấng đã thực sự phục sinh và đang làm chủ thế giới này.

Với Internet, chúng ta cùng loan Tin Vui như vị Cha già khả kính của chúng ta nhắc nhở. Xin đừng để tinh thần thế tục, bóng tối thế gian và những mưu mô len vào trong phương tiện cao quí là Internet. Cũng xin đừng lẩn tránh Đấng là ánh sáng trong những giao tiếp của mình. Và xin đừng dùng lời lẽ bất xứng với các thực tại thánh thiêng.

Yêsu ơi, con tuyên xưng Người là Chúa. Yêsu ơi, con loan tin vui của Người là chủ mọi phương tiện truyền thông. Xin cho con được lặng lẽ đánh xuống từng chữ, từng từ đậm nét Yêsu.


Những bí ẩn về tiểu sử thánh nữ Maria Faustina

Tiểu sử về thánh nữ Maria Faustina mà chúng ta sắp đọc chắc chắn sẽ khiến nhiều người ngạc nhiên. Cuộc đời của thánh nữ Maria Faustina cũng giống như bao nhiêu con người khác sống trong thời đó, thậm chí chẳng khác cuộc sống của chúng ta ngày nay.

[caption id="attachment_819" align="aligncenter" width="480" caption="Đằng sau bí ẩn về tiểu sử thánh nữ Maria Faustina vẫn chưa thực sự nhiều người biết đến"][/caption]

Với với tấm lòng chân thật, đơn sơ, kính Chúa và thương người đã được Thiên Chúa tuyển chọn. Nhưng đằng sau cuộc sống của thánh nữ Maria Faustina vẫn còn nhiều điều bí ẩn mà chúng ta nên biết.


Chị là người thứ 3 trong 10 người con của gia đình nông dân nghèo khó nhưng đạo đức sống tại Glogowiec, một làng quê nằm chính giữa đất nước Ba Lan xinh đẹp. Chị được rửa tội tại nhà thờ giáo xứ Swinice Warckie và chị đã được đặt tên là “Helena.”

Ngay từ thời thơ ấu, Helena đã nổi bật với đời sống đức hạnh, yêu thích cầu nguyện, chăm chỉ, vâng lời, và hết lòng thương cảm trước nỗi khổ đau của tha nhân. Helena được đi học trong thời gian chưa đầy ba năm.

Khi lên 7 tuổi, Helena đã cảm nhận trong tâm hồn lời mời gọi theo đuổi đời sống tu trì. Sau đó, chị đã ngỏ ý muốn với cha mẹ của mình. Nhưng cả hai vị đều dứt khoát không đồng ý cho chị vào sống ở trong tu viện.

Năm 14 tuổi, chị đã phải rời gia đình để đi kiếm tiền giúp cha mẹ bằng cách đi làm thuê ở những thành phố lân cận. Trước hoàn cảnh éo le như thế, Helena đã cố “bóp nghẹt” lời mời gọi trong tâm hồn. Tuy nhiên, quá xao xuyến vì một thị kiến về Chúa Kitô tử nạn và những lời trách cứ của Người. Helena bắt đầu tìm mọi cách để xin vào một tu viện. Chị đã gõ cửa nhiều tu viện, nhưng không một nơi nào đón nhận. Cuối cùng, vào ngày 1/8/1925, Helena đã được nhận vào Dòng Đức Mẹ Nhân Lành.

[caption id="attachment_820" align="aligncenter" width="480" caption="Cuộc sống giản dị và nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng thánh nữ Maria Faustina vẫn tin và phó thác vào Thiên Chúa"][/caption]

Khi được vào dòng, Helena được đặt tên là Maria Faustina. Sau 5 năm, chị tuyên khấn trọn đời với ba lời khấn thanh tịnh, khó nghèo và vâng phục. Chị được đưa đến một số nơi làm việc tại các tu viện của dòng như làm bếp, làm vườn, và coi cổng…

Tất cả những vẻ bên ngoài ấy không làm hiện rõ một cuộc sống thần hiệp phong phú ngoại thường nơi chị dòng Faustina. Chị sốt sắng chu toàn các phận sự, trung thành giữ trọn luật dòng, sống đời sống nội tâm và giữ thinh lặng. Trong khi đó vẫn sống trong sự tự nhiên, vui tươi, đầy nhân ái và yêu thương mọi người chung quanh một cách vô vị lợi.

Tất cả đời sống của chị được tập trung vào việc liên tục cố gắng đạt đến một cuộc kết hiệp ngày càng mật thiết hơn với Thiên Chúa và quên mình cộng tác với Chúa Giêsu trong công cuộc cứu rỗi các linh hồn. Chị đã viết trong nhật ký của mình, “Chúa biết ngay từ những năm đầu tiên, con đã muốn trở nên một vị đại thánh; tức là yêu mến Chúa bằng một tình yêu vĩ đại như chưa từng có linh hồn nào đã yêu mến Chúa như thế”.

Chúa Giêsu đã ủy thác cho chị nữ tu đơn sơ, kém học, nhưng can trường và tín thác vô hạn này một sứ mạng cao cả. Đó là rao truyền sứ điệp Lòng Thương Xót của Chúa cho thế giới biết. Người đã phán với chị, “Cha sai con đem tình thương của Cha đến cho toàn thế giới. Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim thương xót của Cha”. “Con là thư ký của Lòng Thương Xót Cha. Cha đã tuyển dụng con làm nhiệm vụ ấy trên đời này và ở đời sau…”

“Nhiệm vụ và công tác suốt đời con là tiếp tục làm cho các linh hồn được biết về Lòng Thương Xót lớn lao của Cha dành cho họ, và kêu gọi họ tín thác vào Lòng Thương Xót vô tận của Cha”.

Chính quyển nhật ký của chị đã cho chúng ta thấy được những chiều sâu trong đời sống thiêng liêng của chị. Chúa đã ban cho chị nhiều hồng ân phi thường: ơn chiêm niệm, ơn hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa, các thị kiến, mặc khải, những dấu thánh tiềm ẩn, ơn nói tiên tri, ơn đọc được tâm hồn người khác. Tuy được hưởng những hồng ân ấy rất dồi dào, nhưng chị đã viết: “Không phải các ân sủng, các mặc khải, các lần ngất trí, hoặc các ân huệ làm cho linh hồn nên hoàn hảo, nhưng chính là sự kết hợp mật thiết giữa linh hồn với Thiên Chúa... Sự thánh thiện và hoàn hảo của tôi ở việc kết hợp mật thiết giữa ý muốn tôi với ý muốn Thiên Chúa”.

[caption id="attachment_821" align="aligncenter" width="480" caption="Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong thánh cho Maria Faustina ngày 30/4/2000"][/caption]

Maria Faustina tên đầy đủ là Maria Faustina Kowalska, sinh 25/8/1905 và mất ngày 5/10/1938. Chị đã từ giã cõi trần khi chưa trọn 33 tuổi đời, giữa tiếng thơm thánh thiện, và được kết hiệp muôn đời với Thiên Chúa vào ngày 5/10/1938. Sau 13 năm sống trong cuộc sống tu trì. Chị được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong thánh ngày 30/4/2000.




Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Chiếc áo đời tu

[caption id="attachment_645" align="aligncenter" width="480" caption="Chiếc áo không làm nên đời tu"][/caption]

Những người sống trong đời tu thường nói với nhau câu: "Chiếc áo dòng không làm nên đời tu, mà nó chỉ là dấu chỉ của đời tu". Vậy thì cái gì mới làm nên đời tu?


Người  sống đời tu lấy Đức Kitô làm người yêu duy nhất. Chính tình yêu Đức Kitô làm thoả mãn mọi khát vọng yêu thương của họ. Tuy nhiên, con người luôn tồn tại với xác hồn, vì thế, nơi mỗi người luôn hướng về người khác với tình yêu nhân loại. Vậy làm sao để người sống đời thánh hiến; yêu hết mọi người mà vẫn chỉ yêu một mình Giêsu? Làm sao để là bạn thân của nhiều người mà chẳng yêu riêng mình ai?



Phải yêu hết mọi người, đó là đòi hỏi của Chúa muốn những người sống thánh hiến, nhưng bằng tình yêu của Chúa. Yêu ai thì muốn trao tặng chính mình cho người yêu; yêu thì sẵn sàng tiết lộ bí mật cho nhau, những điều mà chỉ có họ mới tiết lộ cho nhau vì tình yêu; yêu thì sẵn sàng chịu đau khổ vì người yêu, muốn gần gũi và phối hợp thể xác và tinh thần với người yêu; yêu ai thì muốn mãi  mãi chung sống với người đó. Đức Kitô đã yêu con người như thế. Người sống đời thánh hiến cũng yêu Chúa bằng tình yêu như vậy.

Là linh mục, chủng sinh, nữ tu, ai cũng có một vài quan hệ với những người khác. Vì là con người nên họ cũng rất dễ hướng đến người khác với tình yêu con người, lại muốn chiếm đoạt làm của riêng mình. Khi đó làm sao để thăng hoa được tình yêu, để yêu họ bằng tình yêu của Chúa Giêsu, vì chính bản thân họ đã thuộc về Đức Kitô và được tình yêu Ngài chiếm đoạt.

Khi một cô gái đi vào nhà Dòng, thì không phải là cô thất tình mà tình yêu của thế gian đã thất bại đối với cô. Cô đã yêu Đấng là chính Tình Yêu. Cô từ bỏ mọi mơ ước để chỉ giữ lại một, cô hy sinh tất cả để đạt được Tình Yêu cô mơ ước. Cả đời sống của cô, giờ đây cứ thế êm đềm trôi, để đến một ngày cô bàng hoàng khi nhận ra mình đã nằm trọn vẹn trong tay Đấng là tình yêu của cô.

Chiếc áo dòng mà Giáo Hội trao cho cô trong ngày khấn, là trang phục của công chúa trang điểm để đến với Đức Vua. Chiếc áo cũng là dấu chỉ cô đã thuộc trọn về Đức Vua, nó bảo vệ không cho kẻ thù xâm phạm cô như lính canh giữ gìn cung điện, nó cũng nhắc cô về chính đời sống của mình, đời sống của khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, theo gương Đấng đã yêu cô.

[caption id="attachment_646" align="aligncenter" width="475" caption="Ước mơ đời thánh hiến"][/caption]

Là nữ tu, khi khấn trọn đời làm bạn trăm năm của Đức Kitô. Chị có Chúa Kitô là người để hướng về, để trao tặng, để tiết lộ bí mật, để chịu đau khổ, để phối hợp thể xác, tinh thần và để cùng chung sống mãi mãi. Chúa Kitô thoả mãn mọi khát vọng yêu thương nơi chị. Ngài là người chị yêu, là Người chị chung sống, điều đó phải được chị thực thi trong cuộc sống và trong cầu nguyện. Mỗi lần chị cầu nguyện là lúc chị sống giao ước ngày cưới với chồng mình, chị cầu nguyện là tâm sự với Người chị yêu và Người yêu chị. Người đó lấp đầy mọi khoảng trống trong trái tim chị, bởi người đó là Tình Quân của chị. Trong cuộc sống, khi chị làm gì, gặp gỡ ai, ai đến với chị đều là bạn của Người chị yêu, nên chị hết sức tôn trọng và quý mến.

Là chủng sinh, tôi hân hoan nghe tiếng gọi của Chúa và đến ở với Ngài trong chủng viện. Ngày Giáo Hội trao cho tôi chiếc áo giáo sỹ, tôi đã quá vui mừng và hạnh phúc. Tôi còn nhớ, ngày còn là chú giúp lễ, mỗi lần được là áo cho cha xứ, tôi đã rất tò mò, có lần mặc thử, trông rất buồn cười, nhưng lại rất thích. Có lẽ từ ấy, ước mơ được mặc thật chiếc áo dòng đã mỗi ngày một lớn lên trong tôi. Để rồi, hôm nay tôi đã chính thức được mặc thật chiếc áo ấy.

Chiếc áo chùng màu đen, nhắc tôi luôn khiêm nhường, vì biết rằng dù đã đi tu thì tôi vẫn là người, vẫn mang trong mình những ước muốn xấu xa. Tuy nhiên Giáo Hội lại khoác lên mình tôi chiếc áo trắng, chứng tỏ tôi đã thuộc về Chúa Kitô và sự thánh thiện của Ngài đang dần triển nở trong tôi. Vì thế, điều quan trọng đối với tôi không phải là mặc chiếc áo dòng mà là mặc lấy Chúa Kitô, để tình yêu của Ngài chiếm đoạt trọn vẹn con người tôi.

Là chủng sinh, tức là đang hướng đến thiên chức linh mục. Linh mục, người đã được chính Đức Kitô kêu gọi và hiến thánh bằng giao ước, để nên một với Ngài, làm công việc của Ngài. Như thế, chính Chúa Kitô thoả mãn mọi khát vọng yêu thương và lấp đầy mọi khoảng trống trong trái tim họ. Chúa Kitô là Minh Quân, là người yêu trọn đời của họ. Họ phải không ngừng biến đổi để trở nên người đáng yêu.

Như vậy, đời tu đẹp không phải ở áo dòng đẹp, mà ở tình yêu của người tu dành cho Chúa Kitô đẹp. Để làm được điều đó, đòi hỏi người sống đời tu phải nên một với Chúa Kitô, hoàn toàn để Chúa Kitô chiếm đoạt và thuộc trọn về Ngài. Hơn hết, họ phải sống cho được mối tương quan tình yêu vợ chồng với Chúa Giêsu là bạn trăm năm, là Đấng Tình Quân, là Minh Quân của mình. Khi đó chiếc áo đời tu sẽ toả hương thơm của Đấng là Tình Yêu, sẽ chiếu toả ánh sáng của Đấng là ánh sáng và ướp mặn trần gian bằng muốn thiêng tình Người.

Mến tặng các Công Chúa của ĐỨC VUA

GtyltcM