Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2012

Đức tin và việc làm


Một người Đức giàu có, trong lần đi nghỉ mát tại một làng nhỏ cạnh biển, dân chúng phần đông là người dân nghèo chất phác. Chiều đến, người khách lạ đi vào các hàng quán mua thức ăn và các thứ cần thiết. Ông nhờ chủ quán đổi cho tờ giấy bạc 1000 Đức mã. Đây là lần đầu tiên chủ quán thấy tờ giấy bạc lớn như thế. Ông lắc đầu nói với người khách:

- Với tờ giấy bạc nầy, ông không mua được thứ gì ở đây, vì chúng tôi chỉ sử dụng giấy bạc nhỏ thôi.

Nhiều người xúm lại coi tờ giấy bạc đó. Họ bảo nhau:

- Làm gì có tờ bạc 1000 Đức mã? Từ trước đến giờ, chúng ta chỉ thấy có giấy bạc 100 Đức mã thôi.

Thế là dân làng nghi ngờ ông khách nầy là người bất hảo. Và đáng sợ hơn nữa, đêm đó từ trong nhà trọ ông nghe có tiếng bàn tán:

- Hắn ta là tên bịp bợm. Tốt nhất chúng ta phải tống khứ hắn.

Thế là sáng hôm sau, ông đem tờ bạc đó đến thị trấn gần đó đổi ra những tờ bạc nhỏ và thuê xe chở về làng. Dân chúng thấy thế thì tin là ông thực sự có tiền.

***


Những hành động cụ thể thường hùng hồn hơn lời nói suông. Những công trình trước mắt có giá trị hơn những dự án “Viển vông”.



Những người xung quanh chúng ta cũng đánh giá niềm tin và cách sống đạo của chúng ta như ngư dân nghèo nhìn vào người giàu trong câu chuyện trên đây. Tờ bạc 1000 Đức mã của người giàu nầy chỉ có giá trị khi được đổi thành những tờ bạc nhỏ. Cũng thế, niềm tin của chúng ta chỉ đáng tin cậy khi được thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Thánh Giacôbê xác quyết: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết".

Trong Tin Mừng hôm nay, nếu người đàn bà bị xuất huyết tin Chúa chữa khỏi mà không tìm đến Chúa, sờ vào áo chúa, thì làm sao được lành bệnh? "Đứa con gái đã chết thế nào được sống lại, nếu ông Gia-ia là cha nó không đến phủ phục dưới chân Chúa Giêsu và nài nỉ".

Chúng ta tin có cuộc sống mai hậu vĩnh cửu. Niềm tin ấy có được thể hiện bằng những hy sinh, phấn đấu ngay từ cuộc sống nầy không?

Cuộc sống mỗi ngày với những phiền toái thử thách của nó chính là nơi để chúng ta sống cụ thể niềm tin của mình. Những mối tuơng quan hằng ngày với những người chung quanh là môi trường để chúng ta diễn đạt niềm tin.

(Đài Chân Lý Á Châu)

Cộng tác với ơn Chúa


Một bà mẹ đau nặng. Bà làm tuần cửu nhật xin Chúa chữa, vì bà biết trong lúc đi giảng đạo Chúa đã chữa cho người đàn bà bị loạn huyết khỏi bệnh.

Hết tuần 9 ngày, bà vẫn còn đau. Bỗng có một Linh Mục đến thăm. Thấy bà bị đau nhức quá thì bảo:

- Tôi cho bà địa chỉ của ông nha sĩ tài giỏi đây. Bà chịu khó đến đó nói là tôi giới thiệu. Ông ấy sẽ chữa cho bà hết ngay.

Bà liền la lên:

- Cha vô thần à? Cha không tin Chúa chữa con hết sao?

* * *


Thật tội nghiệp cho bà. Bà cầu xin Chúa chữa bà. Chúa nhận lời cho vị Linh Mục đến mà bà không chấp nhận.

Người đàn bà bị xuất huyết trong Tin Mừng Thánh Máccô (Mc 5,21-43) và bà cụ trên đây đều tin Chúa. Nhưng lòng tin của hai người hoàn toàn khác biệt. Người đàn bà bị xuất huyết nghĩ mình phải làm gì đó chớ không tin suông. Bà đã đến với Chúa, sờ vào áo Chúa và bà được chữa khỏi. Còn bà bị đau răng ngồi chờ phép lạ, không chịu làm gì, nên vẫn bị đau.

Cộng tác với Chúa là điều kiện tối cần để được Chúa cứu chữa. Thánh Inhaxiô Lôyola đã cho chúng ta lời khuyên bất hủ: "Hãy làm như thể mọi việc tùy thuộc chúng ta, và hãy cầu nguyện như thể mọi việc tùy thuộc Thiên Chúa".



Và Mẹ Kenzie bảo: "Khi ta cố gắng làm những gì có thể, Thiên Chúa sẽ làm những điều ta không thể". Ngạn ngữ Việt Nam có dạy: “Tận nhân lực, tri thiên mạng”. Và ngạn ngữ Tây phương cũng nói: "Hãy tự giúp mình trước, rồi Trời sẽ giúp sau".

Trong các phép lạ Chúa làm, Người đều cần sự cộng tác của con người. Trong tiệc cưới Cana, Chúa chỉ làm phép lạ khi các người giúp việc đã "múc nuớc đổ đầy các chum" (Ga 2,7).

Trong phép lạ hóa bánh ra nhiều, Người đã dùng "5 cái bánh và 2 con cá" của một em bé (Mc 6,35-43).

Khi chữa mắt cho người mù từ lúc mới sinh, Chúa chỉ thoa bùn vào mắt, và anh phải đi rửa ở hồ Silôê (Ga 9, l-40).

Thiên Chúa muốn chúng ta sử dụng hết khả năng của mình, rồi Người sẽ cứu chữa hồn xác chúng ta.

(Theo "Như Thầy yêu") 

Lòng Tin



Nếu có dịp lần giở lại những trang Tin Mừng, chúng ta sẽ nhận ra một điều: trong cuộc đời hoạt động công khai của Chúa Giêsu, bên cạnh những lời rao giảng về Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu thường làm những phép lạ để chứng minh cho lời rao giảng của mình. Hay nói một cách chính xác hơn, là để thể hiện trọn vẹn sứ mạng cứu độ khi đến trần gian mà Ngài đã lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa Cha. Là để chứng minh cho con người thấy Ngài là một vị Thiên Chúa đầy quyền năng, là Cha nhân từ, đang hiện diện, đồng hành để sẻ chia, nâng đỡ con người trong kiếp sống nhân sinh nếu con người biết chạy đến với Ngài.

Thật vậy, với hai phép lạ vừa nghe, Chúa Giêsu đã chứng tỏ cho chúng ta thấy Ngài không phải là một vị Thiên Chúa xa vời mà là một vị Thiên Chúa đầy tình thương, luôn gần gũi, luôn ở bên con người, luôn thấu hiểu đời sống con người có những lúc đau khổ, thiếu thốn, mà con người không thể làm gì được, cũng không thể cầu cứu ai được ngoài Thiên Chúa. Ngài muốn chứng minh cho chúng ta thấy rằng, Ngài luôn cảm thông và sẳn sàng chia sẻ nỗi thống khổ và sự bất lực của con người nếu biết tìm đến với Ngài.
 
Con gái ông chủ hội đường không biết mắc phải bệnh gì, nhưng có lẽ, đã mắc bệnh lâu rồi, đang nằm thui thủi trên giường chờ chết. Ông chủ hội đường là người có địa vị, giàu thế lực chắc chắn đã chạy thầy chạy thuốc khắp nơi, nhưng giờ này cũng đã chịu bó tay, ông cũng đành bất lực không biết làm sao cho con ông khỏi chết. Và Chúa Giêsu là niềm hy vọng cuối cùng của ông. Thế nên, ông đã tìm đến với Chúa, bằng một thái độ rất cung kính, tin cậy, quỳ sụp xuống trước mặt, ông thưa với Chúa: “Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đặt tay trên nó, để nó được khỏi và được sống”. Chúa Giêsu không là thầy lang, không học bác sĩ, tại sao ông đến gặp Chúa lại thưa bằng một giọng xác tín như thế?
 
Phải chăng, trong con mắt và trái tim của ông trưởng hội đường. Chúa Giêsu phải là một vị thần, một vị thánh nào đó, trên cả siêu nhân. Ngài thuộc về thượng giới, cho nên Ngài mới có đủ quyền lực, để chữa bệnh cho con ông ta, mà chữa bệnh chỉ bằng việc “Ngài đặt tay”. Rồi đặt tay, không phải chỉ “khỏi” không thôi, mà hơn nữa, nó sẽ được “sống”. Phải là ai, là Đấng nào mới có quyền trên sự sống và sự chết. Ông không nhìn rõ, chưa thể nhìn rõ, Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Ngôi Hai Thiên Chúa, nhưng mờ mờ, ông đã nhận thấy, đàng sau vẻ bình thường của một con người mang tên Giêsu, là một quyền năng cao vời, thuộc về trời cao, vượt hẳn cái chữ “người” mà ông cũng đang có. Và rồi, hạnh phúc chưa. Con ông đã được khỏi, niềm tin đã được đáp đền, hay đúng hơn, niềm tin của ông, đã là chìa khoá, để mở được lòng thương xót của Chúa dành cho con ông.
 
Còn người đàn bà bị băng huyết nghèo khổ, cô thế cô thân, suốt 12 năm bị nhấn chìm trong khó chịu bệnh tật đau đớn và ô uế theo tục lệ. Đối với bà, niềm hy vọng vào thầy thuốc đã lịm tắt từ lâu. Bất chợt hôm nay, trong trái tim mùa đông của bà, bỗng loé lên một tia hy vọng. Một người mang tên Giêsu: uy lực trong lời nói, quyền năng trong cứu giúp bệnh nhân; may ra có thể cứu chữa được căn bệnh trầm kha của bà. Và rồi, rất âm thầm lặng lẽ, bà đến gần Chúa Giêsu. Cùng với một niềm tin cháy bỏng, bà nghĩ nếu Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa thì mình chỉ cần chạm đến gấu áo Ngài thôi cũng có thể chữa mình khỏi bệnh. Coi giản đơn, nhưng cũng có thể nói mà không sợ quá đà: Đức Tin của người đàn bà còn cao hơn người trưởng hội đường một bậc. Bởi người đàn ông ấy, còn yêu cầu Chúa đến để “đặt tay”, đằng này, người đàn bà chỉ cần “chạm đến gấu áo” Ngài thôi. Bỗng dưng, người đàn bà thấy mình khỏi bệnh. Vậy đâu là chìa khoá, đâu là yếu tố cốt lõi, để phép lạ xảy ra? Thưa, chính là Lòng Tin, Lòng Tin thực sự đã làm nên phép lạ. Hay nói cách khác, phép lạ phát xuất từ 2 nguồn: quyền năng đầy yêu thương của Thiên Chúa và lòng tin của con người.
 
Thế cho nên, Lời Chúa hôm nay, một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta duyệt xét lại niềm tin của mình vào Thiên Chúa đang ở mức độ nào. Vì nhiều lần chúng ta đụng chạm đến Chúa như khi chúng ta rước Mình Thánh Chúa, khi ta lãnh nhận các bí tích, khi ta tiếp xúc với tha nhân, đặc biệt những anh em bệnh tật, nghèo túng, bị bỏ rơi. Nhưng những lần đụng chạm ấy có để lại dấu ấn nào trong ta hay không? Có làm cho đời sống chúng ta biến đổi hay chưa?
 
Ngày hôm nay, Chúa vẫn tiếp tục cúi xuống trên nỗi bất hạnh của chúng ta, Ngài vẫn tiếp tục giơ bàn tay quyền năng để chuyển thông sức sống thần linh cho chúng ta. Ước gì mỗi người chúng ta trong thánh lễ hôm nay, xin Chúa ban cho mình một chút đức tin như ông trưởng hội đường và người đàn bà bị băng huyết kia, để từ đây, chúng ta biết đụng chạm đến Chúa với tất cả lòng tin và tình mến. Với lòng chân thành và phó thác, chúng ta cũng xin Chúa nắm lấy đôi tay bé nhỏ của chúng ta và kéo ra khỏi những quyến rũ bất chính, những đam mê mù quáng, những tính hư nết xấu, để chúng ta được đổi mới và được sống. Amen.
 

Lm. Paul Nguyễn Nguyên


 

27 + 4 lý do khiến ta cần cười mỗi ngày



1- Cười là một thần dược trị được cả bệnh thể xác lẫn bệnh tâm hồn.

2- Cười làm cho ta cởi mở bao dung và có một tinh thần lạc quan yêu đời.

3- Cười làm tăng hồng huyết cầu và lá lách hoạt động tích cực hơn.

4- Cười làm tăng sinh lực, khiến ta vui vẻ lanh lợi và thêm lòng yêu thương.

5 - Cười làm cánh cửa cảm thông rộng mở thật dễ dàng với mọi người.

6- Cười mím, cười nụ, cười ra tiếng làm khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn.




7- Cười làm thư giãn các bắp thịt trên mặt, tan biến những căng thẳng.

8- Cười làm toàn thân được nhẹ nhàng thanh tịnh, thư thái và an lạc.

9- Cười giúp ta tránh được tâm trạng cay đắng khổ đau, phản ứng kịp thời.

10- Cười giúp cho tâm hồn lành mạnh và thêm khả năng sáng tạo mọi việc.

11- Cười nhiều giúp ta biết tự kỷ có trách nhiệm và thực tế hơn.

12- Cười nhiều tránh được buồn nản, dễ thành công vì tiếng cười là trí tuệ.


13- Cười là khoảng cách ngắn nhất giữa hai tâm hồn, là biết nghệ thuật sống.

14- Cười dễ vui theo cái vui của người khác, hoan hỉ như mình thành đạt vậy.

15- Cười có thể làm tan di nỗi bực mình, buồn phiền của người đối diện.

16- Cười giúp ta vui sống hiện tại, quên hết quá khứ và lo lắng về tương lai.

17- Cười giúp ta trở về với chính mình, tức là thực sự trở về đời sống mới.

18- Cười có nhiều lợi ích cho ta về sức khỏe, tinh thần và cảm xúc tâm linh.

19- Cười giúp hồn nhiên tươi sáng,có nhiều khả năng chống lại bệnh tật.

20- Cười giúp các tế bào loại T trong máu tăng lên, có sức đề kháng mạnh.

21- Cười làm giảm phong thấp, các khớp xương đỡ bị sưng và chống sưng.

22- Cười làm giảm các chất hóc môn (cortisone) trong thận, sẽ sống khỏe hơn.

23- Cười tránh được nhức đầu, đau tim, cao huyết áp và mỡ trong máu.

24- Cười giúp tống khứ các khí dơ, thêm nhiều dưỡng khí cho bộ não thông minh.

25- Cười làm tăng máu, chống viêm khớp, làm con người luôn tỉnh táo.

26- Cười tạo điều kiện cho ánh sáng nội tâm thể hiện, thấu suốt mọi sự vật.

27- Cười giúp những nét phiền muộn tan biến, gương mặt trở nên tươi trẻ ra.



28 - Cười để khỏi thành đười (ươi).

29 - Cười để bớt được bệnh lười.

30 - Cười lợi gấp cả mười.

31 - Cười chẳng cần phải cưới!

(Sưu tầm)

Họ hết rượu rồi


Trong một cuộc mít tinh ở Liên Xô cũ, vị giáo sư vô thần muốn chứng minh cho cử tọa thấy rằng Chúa Giêsu chỉ là tên phù thủy lừa bịp. Ông lấy một ly nước, đổ vào đó một ít bột và nước liền đổi sang màu đỏ. Ông tuyên bố với cử tọa:

- Tôi vừa làm phép lạ. Ngày xưa ông Giêsu cũng chỉ làm như tôi mà thôi. Nhưng quý vị hãy xem, tôi còn làm được điều ngoạn mục hơn thế nữa.

Nói xong, ông lấy thứ bột khác cho vào ly nước trên, nước từ từ đổi màu rồi trở về nguyên trạng.

Trong đám cử tọa, có một người đứng lên dõng dạc nói:

- Thưa ông, ông thật là tài ba! Nhưng liệu ông có dám uống thử thứ rượu mà ông vừa chế biến không?

Thấy ông giáo sư chần chừ, kẻ vừa lên tiếng mới quay xuống đám đông và bình tĩnh giải thích:

- Thưa quý vị, đây là sự khác biệt cơ bản giữa Chúa Giêsu và ông giáo sư này: với rượu nho của Ngài, Chúa Giêsu đã rót cho chúng tôi uống qua 2000 năm hoan lạc. Còn với thứ rượu mà giáo sư vừa chế biến chỉ là một thứ hóa chất độc hại, vì chính ông cũng không dám uống.

* * *


Một trong những trang đẹp nhất của sách Tin Mừng, hẳn phải là bài tường thuật về "Tiệc Cưới Cana".



Vừa bắt đầu công cuộc rao giảng Tin Mừng với các môn đệ đầu tiên, Chúa Giêsu đã được những người thân quen mời tham dự một đám cưới. Mẹ Maria cũng có mặt trong bữa tiệc. Thực khách đang hân hoan chúc mừng cô dâu chú rễ thì bỗng hết rượu. Biết ăn nói thế nào, chủ tiệc vô cùng bối rối, khó xử.

Người đầu tiên nhận ra sự bối rối, khó xử của gia chủ chính là Mẹ Maria. Sự nhạy cảm và lòng thương người đến cao độ đã khiến Mẹ can đảm ngỏ lời với Chúa Giêsu: "Họ hết rượu rồi". Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu thật bất ngờ: "Tôi với Bà có can chi? Giờ tôi chưa đến". Cứ như chúng ta chắc sẽ bỏ cuộc, có khi còn tức giận bực bội. Nhưng đối với Mẹ Maria thì không. Mẹ hoàn toàn tin tưởng vào quyền phép và tình thương của Con Mẹ. Mẹ đã dám quả quyết: "Ngài bảo sao thì hãy làm như vậy".

Quả thật, do sự can thiệp của Mẹ, phép lạ đã được thực hiện, rượu mà Chúa Giêsu đã biến ra từ nước còn ngon hơn cả rượu ngon nhất mà chủ tiệc đã thết đãi từ đầu. Mà những sáu chum, tương đương 720 lít, một dung lượng không nhỏ. Ðó chính là phép lạ đầu tiên trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, đã xảy ra do sự khẩn cầu của Mẹ Maria.

Cứ xem đó thì biết Mẹ có thần thế trước mặt Chúa là dường nào. Cứ xem đó thì biết Mẹ thương yêu chúng ta là dường nào.
Lạy Mẹ hay thương xót, từ hai ngàn năm qua, Mẹ vẫn khẩn cầu cùng Chúa cho những đứa con yêu dấu của Mẹ.

Xin Mẹ hãy cầu cùng Chúa biến cuộc đời lạt lẽo của chúng con thành rượu nồng tình yêu: yêu Chúa và yêu người.

Xin Mẹ giúp chúng con đừng bao giờ biến cuộc đời mình thành hóa chất độc hại cho anh em.

Xin Mẹ hãy là Ðấng Bầu Cử cho chúng con trước tòa Chúa mỗi khi chúng con gặp bối rối khó xử trong cuộc sống, nhất là khi chúng con đã vơi cạn rượu nồng tình yêu. AMEN.

(Maria: Mẹ Tuyệt Mỹ)

Niềm tin


Có một câu chuyện thuật lại về một người đi biển tình cờ cũng gặp nạn sóng to gió lớn khi thuyền của ông đang vượt biển khơi như các môn đệ trong Phúc Âm. Và trong trận cuồng phong bão tố thập tử nhất sinh ấy, ông cũng thấy Đức Giêsu đang đi trên mặt biển tiến về phía ông. Nhớ lại đoạn Phúc Âm, ông kêu to: “Lạy Chúa, nếu thật là Ngài, xin hãy cho tôi cũng đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. Đức Giêsu bảo: “Hãy lại đây”.



Nghe thế, ông vội mặc chiếc áo an toàn và phao cứu hộ, xong xuôi ông can đảm nhảy xuống nước tiến về phía Đức Giêsu bất chấp sóng to gió cả. Đức Giêsu mỉm cười đưa tay đón lấy ông và hỏi: "Tại sao con nghi ngờ Lời Ta nói hỡi kẻ kém lòng tin". Nghĩ mình bị Chúa trách oan, ông vội vã cãi lại: "Đâu có, con có nghi ngờ Lời Chúa nói bao giờ đâu".

Chúa lắc đầu hỏi: "Thế tại sao con lại mặc chiếc áo an toàn và phao cứu hộ trước khi con tiến về phía Thầy?".

Nhìn hai vật vô ích trên mình, ông gãi đầu thưa: "Cái này..., những cái này con mang theo chỉ để phòng hờ!".

(Sưu tầm)

In-đi-ra tầm đạo


In-đi-ra đến gặp đạo sĩ Ma-kia và ngỏ lời:

- Xin Ngài hãy chỉ cho tôi một thần linh để tôn thờ và một tôn giáo để sống theo.

Đạo sĩ Ma-kia liền đưa In-di-ra đến tòa nhà rộng lớn, nơi đó mỗi vị thần được dành cho một căn phòng riêng.

Dừng chân đầu tiên trước tượng thần Bat-đa đạo sĩ giới thiệu:

- Đây là vị thần sẽ cất hết mọi đau khổ thế giới.

Nhưng In-đi-ra lắc đầu và xin được sang phòng khác.

Trước vị thần thứ hai đạo sĩ Ma-kia giới thiệu:

- Đây là nữ thần Sô-pha có bí quyết giúp con người tránh được đau khổ.

Nhưng In-đi-ra cũng lại xin đạo sĩ đi nơi khác. Cuối cùng hai người đến trước một vị thần bị treo trên Thập Giá. In-đi-ra tò mò hỏi:

- Vị thần này là ai mà treo trên thập tự như thế?

Đạo sĩ chậm rãi trả lời:

- Đây là thần của những người Kitô.



Với chút xúc động lộ trên mặt, In-đi-ra xin đạo sĩ giải thích thêm về những gì cần làm để trở thành đồ đệ của Đấng chịu treo trên thập tự. Đạo sĩ ngạc nhiên hỏi:

- Này anh In-đi-ra, anh làm tôi thắc mắc. Hai vị thần anh gặp lúc trước, một đề nghị cất hết mọi nỗi đau khổ, một đề nghị giúp tránh sự đau khổ, thế mà anh không thích vị nào cả. Tại sao anh lại thích và muốn làm đồ đệ của vị chết nhục nhã trên thập tự như thế?

In-đi-ra giải thích:

- Hứa làm mất đi sự đau khổ trên thế gian này là hứa suông. Người ta không thể nào cất đi những đau khổ và dạy con người tránh đau khổ là dạy con người sống thấp hèn, và người ta cũng không thể nào tránh được những đau khổ. Nhưng nhìn vào vị thần của người Kitô chấp nhận đau khổ trên thập tự, tôi hiểu được ý nghĩa của đau khổ và chấp nhận nó. Rồi một khi người ta hiểu và chấp nhận đau khổ thì niềm vui và an hòa sẽ trổ sinh trên thế giới này. Đó là lý do tôi bị thu hút bởi Đấng chịu treo trên thập tự kia và muốn là đồ đệ của Ngài. Vậy xin đạo sĩ đưa tôi đến nơi người Kitô sống để được trở thành người Kitô.

Đạo sĩ dẫn In-đi-ra đến Nhà Thờ những người Công Giáo để xin lãnh Bí tích Rửa tội.

Khi vừa bước vào làng thì hai người đã nhìn thấy những cảnh không tốt đẹp. Đây một nhóm người đang cãi lộn. Nơi khác đang có những kẻ sắp đánh giết nhau. Nơi khác nữa thì nghe vẳng lại những lời tục tĩu vô lễ. Bảng ghi: "Coi chừng bị móc túi" được dán nơi công cộng.

In-đi-ra hỏi đạo sĩ:

- Đây là đâu vậy?

Đạo sĩ trả lời:

- Đây là làng của người Công Giáo

Nghe thế In-đi-ra vội vã nói:

- Thôi, chúng ta hãy đi nơi khác. Tôi mộ mến và tin vào Đấng đã chịu đóng đinh trên Thập Giá. Nhưng tôi không muốn trở thành người Kitô nữa.

Chúa Giêsu dạy: "Chúng con sẽ làm chứng về Thầy".

Đời sống đạo của tôi hôm nay là một chứng từ hay một phản ứng.

(Sưu tầm)