Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

Bận họp với chúa


Ta có bận họp với Chúa hay không? Bạn có dành thời giờ riêng để bàn việc với Chúa không? Bạn có dành ra những giây phút đầu tiên trong ngày để xin Chúa hướng dẫn mình hay không?

Cầu nguyện phải là việc đầu tiên phải làm mỗi buổi sáng. Chúa muốn chúng ta đến với Ngài khi chúng ta gặp các khó khăn trong đời này. Nhưng Ngài còn muốn gặp chúng ta thường xuyên mỗi ngày nữa. Chúng ta mở lời Chúa đọc mỗi ngày để xin Chúa hướng dẫn mọi hành động, lời nói, tư tưởng.

Một thủ trưởng của công ty chế tạo xe hơi lớn, một hôm tìm đến phòng của người giám đốc dưới quyền mình để bàn về một việc quan trọng khẩn cấp, nhưng cô thư ký nói rằng mỗi buổi sáng vào giờ này ông giám đốc bận họp không tiếp khách.

Người thủ trưởng nói:


- Cô cứ nói với ông là tôi, người thủ trưởng muốn gặp ông.

Cô thư ký vẫn nói:

- Thưa ông, không thể được, vì ông giám đốc đã ra lệnh rõ ràng về việc này.

Người thủ trưởng tức lắm, mở cửa phòng giám đốc bước vào. Nhưng khi nhìn thấy giám đốc, ông ấy vội vàng lui ra, đóng cửa lại thật nhẹ và nói với cô thư ký:

- Tôi xin lỗi, ngày nào ông chủ cô cũng làm như thế sao?

Cô thư ký đáp:

- Vâng. Ngày nào ông ấy cũng dành mười lăm phút như vậy.

Ông giám đốc này mỗi ngày dành ra mười lăm phút im lặng, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện trước khi bắt tay vào công việc mỗi ngày.

Ðó là một tấm gương cho mỗi chúng ta soi.

 Nguồn:Veritas

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

Ánh sáng trong cuộc đời


"Ánh sáng của các con phải chiếu dọi trước mặt mọi người. Họ sẽ thấy các việc thiện lành của các con mà ca ngợi Cha các con ở trên trời".

Câu Thánh Kinh này do chính Chúa Giêsu dạy, nhưng người tin Chúa nhiều khi biết mà không thực hành. Nhiều người tin Chúa nhưng dường như lúc nào cũng có những vật cản làm cho người khác không sao thấy ánh sáng nơi mình được.

Một tín hữu khi gặp một người làm việc trong một xí nghiệp, nói về Chúa cho người ấy nghe và cố thuyết phục người ấy tin Chúa. Người này nhất định không chịu tin. Sau cùng ông ta nói:

"Tôi có lý do riêng để giữ lập trường của tôi, vì trong xí nghiệp này, tôi biết một người tín hữu. Nhưng việc làm hằng ngày của anh ta không chứng minh lòng tin của anh ta. Chẳng hạn như anh ấy lúc nào cũng đi trễ, về sớm, làm việc không chăm chỉ và hay nói truyện làm mất thì giờ. Khi nào bị khiển trách, đã không nhận lỗi mà còn có thái độ bực tức nữa. Nếu tôi tin Chúa như anh ta thì tôi không muốn".


Như thế là vì không chân thật và không chăm chỉ mà người tín hữu này làm lu mờ ánh sáng của Chúa trong anh ta.

Một trường hợp khác cũng làm lu mờ ánh sáng của Chúa vì ta không tin Chúa, mà thường ta không nghĩ ra.

Một bà mẹ khi gặp đứa con trai đã lớn tuổi, thường hay trách con là không tin Chúa cẩn thận và không chịu đi nhà thờ. Một lần nọ sau khi nghe mẹ nói một bài dài về kết quả tốt khi tin Chúa, người con chậm rãi trả lời:

"Thưa mẹ, con thấy mẹ lúc nào dường như cũng rất khiếp sợ Chúa trừng phạt. Mẹ lại hay hốt hoảng khi nghe những việc rất thường xảy ra. Mẹ sợ bị tai nạn, bệnh tật và sợ chết nữa. Con có cảm tưởng là tin Chúa như mẹ thật không có ích lợi gì, vì người không tin Chúa còn bình tĩnh hơn mẹ. Mẹ muốn con tin Chúa. Nhưng nếu con tin Chúa mà vẫn không thấy an bình, cứ lo lắng như mẹ, thì con thật không muốn".

Một trường hợp thứ ba cũng làm lu mờ ánh sáng của Chúa:

Một bà cụ tin Chúa từ khi sinh ra. Lúc lớn lên, cụ rất thích nói về Chúa cho bất cứ ai cụ gặp. Một hôm nghe cụ đau yếu, một bà bạn không tin Chúa đến thăm. Bà ấy vừa hỏi thăm thì bà cụ đã nói không ngớt: nào là đau làm sao, mất ngủ làm sao, ăn uống như thế nào. Cụ than mệt mỏi, đau yếu quá chừng. Nhưng sau đó cụ làm chứng cho bà bạn về Chúa. Bà ấy chỉ vâng, dạ cho qua rồi ra về.

Vài ngày sau, gặp một người cháu tin Chúa , bà phê bình:

"Bà cụ ấy tin Chúa gì mà gặp bác là than quá chừng. Tưởng tin Chúa làm sao, chứ tin Chúa mà khi đau yếu, bệnh tật lại cứ than thở như thế, bác chẳng tin làm gì".

*


* *


Những mẩu truyện kể trên chỉ cốt cho ta thấy rằng: Nếu tin Chúa mà không sống thật như người có Chúa, thì ánh sáng trong ta chỉ là bóng tối , và người đời không thể nào thấy ánh sáng đó được.

 Nguồn:RVA

Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Ánh mắt chạnh lòng thương của Chúa


Hình ảnh chủ chiên và đoàn chiên quá quen thuộc với dân Do Thái và với nhiều người chúng ta. Đoàn chiên được khỏe mạnh, được bình an hay không đó là do chủ chiên. Chủ chiên thật, chủ chiên nhiệt tình sẽ dám hy sinh ngay cả mạng sống mình để bảo vệ đoàn chiên. Chủ chiên giả, chủ chiên thiếu nhiệt tình sẽ bỏ chạy khi đàn chiên của mình gặp nguy hiểm, khốn khó.



 Để chăn dắt đàn chiên của mình, trong suốt hành trình cứu độ, trong suốt lịch sử Do Thái Chúa biết rõ những mục tử thật và mục tử giả. Nhiều lần nhiều lúc Chúa đã quở trách những mục tử không lo cho đoàn chiên của mình như chúng ta vừa nghe ngôn sứ Giêrêmia thuật lại : “Khốn thay những mục tử làm cho đoàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác - sấm ngôn của Đức Chúa - . Vì thế , Đức Chúa, Thiên Chúa Israel, phán như sau để lên án các mục tử, những người chăn dắt dân Ta : chính các ngươi làm cho đoàn chiên của ta phải tan tác ; các người đã xua đuổi và lưu tâm gì đến chúng”. (Gr 23, 1.2)


 Ngược lại với mục tử giả ấy phải là mục tử nhân lành, chăm lo đời sống của con chiên để con chiên phải ca lên bài ca như Thánh Vịnh 22 mà chúng ta vừa nghe :


Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì


Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ


Người đưa tôi tới dòng nước trong lành


và bổ sức cho tôi.


Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính


vì danh dự của Người.


Lạy Chúa, dẫu qua lũng âm u


con sợ gì nguy khốn vì có Chúa ở cùng


Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.


Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù


Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,


Ly rượu con đầy tràn chan chứa.


Lòng nhân hậu và  tình thương Chúa


ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,


và tôi được ở đền Người


những ngày tháng, những năm dài triền miên.


 Tâm tình ấy quả thật không sai khi chúng ta vừa nghe Thánh Máccô thuật lại trong trang Tin mừng mà chúng ta vừa nghe : Lòng xót thương của Chúa Giêsu xuất phát từ tình trạng dân chúng bị bỏ rơi “không người chăn giữ”.


 Dân không người chăn là hình ảnh đậm nét truyền thống kinh thánh. Chương 34 của sách Êdêkien là bản cáo trạng chống lại những thủ lãnh tôn gioáo đã bỏ rơi không chăm sóc đoàn dân được giao phó. Song , Thiên Chúa vị chủ chăn đích thực của dân, luôn chạnh lòng xót thương đoàn dân lạc lỏng : Chính Ta sẽ chăn nuôi chiên của Ta. Chính Ta, Ta sẽ cho chúng được an nhàn ( Sấm của Đức Chúa Giavê ( chiên thất lạc, Ta sẽ tìm kiếm. Chiên tảøn mác Ta sẽ lùa về... (Ed 34,16).


 Đó là lời hứa hẹn cho thời Thiên sai. Thiên Chúa sẽ gởi đến 1 chủ chiên Thiên sai để chăn dắt đoàn chiên lạc lỏng : Trên chúng, Ta sẽ cho chỗi dậy một mục tử duy nhất. Ngài sẽ dẫn dắt chúng, Ngài sẽ là mục tử của chúng (Ed 34,23; x. 37,24; Tv 78,70(72). Chúa Giêsu chính là vị mục tử thiên sai mà Thiên Chúa đã hứa. Người xót thương họ, lên tiếng giảng dạy cho họ và nuôi dưỡng họ. Nhìn họ bơ vơ, lòng của Chúa đã chạnh lại trước cảnh bơ vơ của họ.


Chúa mãi mãi là vị mục tử nhân lành, vị mục tử mang lại sự bình an cho đoàn chiên như Thánh Phaolô mới nhắn gửi cho cộng đoàn Êphêsô : “Chính Người là bình an của chúng ta : Người đã liên kết đôi bên, dân Do thái và dân ngoại, thành một : Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét ; Người đã hủy bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật … Người đã đến loan báo Tin mừng bình an : bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần” (Ep 2, 14.15.17). Điều nghịch lý ấy là dân Do Thái đã không nhận ra sự hiện diện của vị mục tử nhân lành và đã đem đi giết, đem đi làm thịt cho thỏa lòng gian ác của họ.


 Vấn đề không đơn giản như ta nghĩ, dân Do Thái xưa kia không nhận ra đã đành, phần chúng ta, chúng ta có nhận ra Chúa chính là vị mục tử nhân lành luôn yêu thương chăm sóc ta hay không mới là chuyện khác. Hình như chúng ta vẫn còn là những con chiên ngỗ nghịch trước tình thương và sự quan phòng của vị mục tử nhân lành thì phải.


 Chúa vẫn dõi mắt theo ta từng bước bước từng bước trong cuộc đời này nhưng do chộn rộn quá nhiều chuyện chúng ta không thấy ánh mắt chạnh lòng thương của Chúa mà thôi. Muốn thấy ánh mắt đó, chúng ta xin Chúa mở rộng con mắt của chúng ta ra để chúng ta thấy tình thương của Chúa tuôn đổ dạt dào trên cuộc đời của ta. Chỉ khi nào ta ngồi lại và ngẫm nghĩ Chúa yêu thương chúng ta quá thì chúng ta mới cảm nhận được như cố nhạc sĩ Thy Yên :


Có lúc nào đó người thầm nghiền ngẫm suy tư


cảm thấy đời ta chứa chan hồng ân Chúa ban


Còn chờ gì nữa không vang tiếng hát tri ân


Lạy Chúa con xin cảm tạ – Lạy Chúa con xin cảm tạ.


Ôi lạ lùng hồng ân Chúa đã ban cho đời


Chúa ơi ! Sao con suy thấu tỏ tường


Thật nhiệm mầu tình yêu Chí Thánh dâng tuôn tràn


Chúa ơi ! Tình Ngài dịu cao xiết bao


Qua bao đời tình yêu Chúa mãi luôn chan hòa


Tỏa lan dịu dàng cho hết mỗi người


Công ơn Ngài tựa như cát trắng như sao trời


Lấy chi đền bù tạ ơn Chúa ban


Vâng ! Nếu chúng ta nghiền ngẫm, nhìn lại cuộc đời của chúng ta, chúng ta sẽ nhận ra rằng hồng ân Chúa ban dư tràn trên cuộc đời chúng ta để chúng ta xin dâng lời cảm tạ Chúa. Lời cảm tạ thiết thực nhất đó là sống ngoan ngùy theo Thánh ý của Chúa cũng như sự dẫn dắt của Chúa trên cuộc đời này.


Tin tưởng vào tình thương của mục tử nhân lành, sẽ dẫn dắt chúng ta qua những màn đêm u tối và qua những thung lũng âm u, chúng ta tiếp tục lên đường lên đường trong ánh mắt chạnh lòng thương của Chúa Giêsu – vị mục tử nhân lành luôn dõi ánh mắt theo cuộc đời ta.


Lm Anmai Cssr

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2012

Tại sao Mẹ khóc?



Mẹ khóc. 


Bởi Mẹ không muốn chúng ta bị hư đi, vì thế giới sắp bị thanh tẩy bằng máu và lửa.


Chưa bao giờ bằng thời điểm này lại có nhiều báo cáo, tường thuật về hiện tượng các Thánh tượng Mẹ khóc, đôi khi với nước mắt bằng máu. Hiện tượng Mẹ khóc xảy ra khắp nơi trên thế giới, trên khắp các lục địa.

Một câu hỏi lớn được đặt ra là tại sao Mẹ lại khóc, đôi khi với nước mắt bằng máu? Câu hỏi này thật cấp bách, vì nó có thể liên hệ đến sự tồn vong của nhân loại. Nhưng chúng ta vì mải lo cho sinh kế hàng ngày, mà ít khi chịu ngưng lại để tự vấn lương tâm, và đáp ứng những đòi hỏi toát ra từ hiện tượng lạ này. Ông Gijido Fụjimoto, khi được chứng kiến Thánh tượng Mẹ khóc ở Akita, Nhật Bản, đã nói lên cảm nghĩ của ông như sau: “Khi một người mẹ phải khóc trước mặt các con mình, thì nhất định phải có điều chi nghiêm trọng lm. Vì thế, tôi nghĩ rằng, khi Đức Mẹ khóc trước mặt chúng ta, là Người muốn ban cho chúng ta sứ điệp khẩn thiết”.



 Chúng ta hãy nghe một vài đoạn sứ điệp Chúa, Mẹ ban cho nhân loại qua những người được tuyển chọn: 

Tại La Salette (nước Pháp), Mẹ đã hiện ra với hai trẻ chăn chiên là Melanie và Maximin. Hai em thấy Mẹ ngồi ôm mặt khóc. Mẹ buồn phiền nói cho hai trẻ biết những hình phạt Thiên Chúa sẽ giáng xuống thế giới vì tội lỗi vô vàn của loài người. Và Malanie trước khi qua đời đã tiết lộ rằng: “Từ khi hiện ra cho đến lúc biến đi, Đức Mẹ chỉ khóc nức nở. Những giọt lệ từ trên gò má lăn xuống lấp lánh như những viên ngọc”.

Tại Caserta (nước Ý), Chúa đã phán với bà Therese Musco, người có Thánh tượng Mẹ khóc nước mắt bằng máu:

“Nước mắt này sẽ đổ ra trong nhiều thành và nhiều quốc gia, vì những người không cầu nguyện, và còn cho việc cầu nguyện là mê tín. Hỡi con, nếu người ta không hối cải, thì nước mắt ấy sẽ là điềm báo hình phạt cho họ. Tiếng nói bằng máu này phải chăng là lời van xin cuối cùng của Tình Yêu thất vọng, không được đáp trả. Biết bao người con ưu ái là các Linh Mục phản bội Cha, đã gạt Mẹ Cha ra khỏi trái tim họ. Nhưng Mẹ Cha vẫn là Mẹ họ. Mẹ yêu họ hơn trước, nếu họ ăn năn hối cải”.

Với chị Julia Kim (Naju, Nam Hàn). Thánh tượng Mẹ khóc tổng cộng 700 ngày. Chị kể lại, Đức Mẹ khóc và nói với giọng thật buồn, như than thở:

“Con ơi, thật chua xót khi nhìn vào tình trạng bi thảm gây nên bởi nhiều con cái yêu dấu của Mẹ, những người vì mù quáng, giả điếc để đồng loã với Con Rồng Đỏ, kẻ thù của chúng ta. Thế giới đã nên như bãi sa mạc. Những tai họa lớn lao đang xảy ra đó đây, chính là những lời cảnh cáo. Mẹ buồn phiền, lo lắng khi phải nhìn cảnh nhân loại chịu đau khổ gây nên bởi những cảnh cáo này. Do đó, hỡi con, khi Mẹ phải năn nỉ van xin các con, mục đích là giữ cho các con khỏi rơi vào cạm bẫy ma quỷ.


Hỡi các con, sẽ bi thảm biết bao nếu lửa trên trời đổ xuống trên đầu các con! Hãy cầu nguyện. Hãy cầu nguyện thật nhiều. Đây là thời điểm rất quan trọng cho toàn thể nhân loại. Các con không quan tâm tìm cách để tránh những tai hoạ đó sao? Thiên Chúa các con nhìn lối sống của các con và sắp trừng phạt các con đó! Nhưng Người vẫn còn tha thứ và chờ đợi. Hãy cấp thời hối cải!  Hãy thành thực hối cải và trở về với Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ các con. Các con phải hối cải, vì tội lỗi loài người đã lên tới mức quá cao rồi. Nhân loại đang ngụp lặn trong thói hư, tội lỗi và vô đạo. Khi trật tự bị xáo trộn, thì hỗn loạn gia tăng, khiến đời sống thiêng liêng bị phá hủy. Mọi thứ bị sụp đổ khơi lên Cơn Thịnh Nộ của Thiên Chúa”.


Với nữ tu Agnes Sasagawa ở Nhật. Thánh tượng Mẹ khóc tất cả 101 lần. Ngày 13/10/1973, Mẹ nói với nữ tu Agnes như sau:

“Hỡi con, hãy lắng nghe những gì Mẹ sẽ nói với con, và hãy chuyển đến bề trên của con. Như Mẹ đã loan báo trước, nếu loài người không sám hối, sửa đổi đời sống, thì Thiên Chúa Cha sẽ giáng xuống một hình phạt thật khủng khiếp trên toàn thể nhân loại. Nó còn tệ hại hơn lụt đại hồng thủy. Một hình phạt chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Lửa từ trời sẽ đ xuống, và thiêu hủy phần ln nhân loại, người lành cũng như kẻ dữ, Linh Mục cũng như Giáo dân. Những kẻ còn sống lúc đó sẽ thèm số phận của những kẻ đã chết. Khí giới duy nhất còn lại cho các con là Chuỗi Mân Côi và dấu mà Con Ta sẽ để lại. Hãy năng đọc Kinh Mân Côi hàng ngày. Bằng Kinh Mân Côi, hãy cầu nguyện nhiều cho Đức Thánh Cha, cho các Giám Mục và Linh Mục.

Hành động của ma quỷ sẽ len lỏi được vào trong Giáo Hội, đến nỗi Hồng Y sẽ chống lại Hồng Y, Giám Mục sẽ chống lại Giám Mục. Các Linh Mục tôn kính Mẹ sẽ bị khinh dể và đả kích bởi anh em mình. Nhà Thờ và bàn tiệc Thánh bị bỏ bê trễ, và Giáo Hội sẽ đầy dẫy những người chấp nhận lối sống dễ dãi. Ma quỷ sẽ buộc nhiều Linh Mục và các Linh Hồn tận hiến bỏ việc phụng sự Chúa.

Ma quỷ đặc biệt nhắm vào các Linh Hồn tận hiến cho Chúa. Suy nghĩ về sự mất mát của quá nhiều Linh Hồn, làm Mẹ thật buồn. Nếu các con cứ dấn sâu mãi vào con đường tội lỗi, thì các con sẽ không được tha thứ nữa.

Hãy nói lại với bề trên của con. Ngài sẽ hiểu và sẽ hướng dẫn các con cầu nguyện và làm việc đền tạ”.

Sứ điệp Mẹ ban ngày 14/4/1995 cho Linh Mục Stafano Gobbi (Phong trào Linh Mục của Mẹ):

“Hôm nay, các con đang sống trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh mới. Và có bao nhiêu máu lại chảy xuống từ đôi mắt đang khóc của người Mẹ Trên Trời các con. Đó là máu của các trẻ thơ bị giết từ trong lòng mẹ chúng. Đó là máu các nạn nhân đổ ra do bạo động và thù ghét, do những cuộc tranh đấu huynh đệ tương tàn và chiến tranh. Một lần nữa, giòng châu lệ lại cuồn cuộn chảy ra từ cặp mắt Hiền Mẫu, khi đối diện với một nhân loại đang mang trong mình nguyên do của sự luận phạt chính mình.

Những giọt nước mắt và máu. Mẹ muốn cứu giúp nhân loại đáng thương này bằng việc kêu gọi quay về với Thiên Chúa qua con đường trở lại và đền tạ, cho nên Mẹ đang ban cho thế giới những dấu chỉ hiển nhiên về nỗi sầu muộn và lo âu của Từ Mẫu. Đó là lý do tại sao Mẹ để xảy ra hiện tượng một số ảnh tượng Mẹ chảy nước mắt và nước mắt bằng máu.

Làm sao một người con lại không thể bị lay chuyển khi đối diện với người mẹ đang khóc của mình? Làm sao các con, những người con yêu dấu của Mẹ, lại không thể bị lay chuyển trước người Mẹ Trên Trời các con đang khóc với những giọt nước mắt bằng máu? Như thế, những dấu chỉ rất nghiêm trọng này mà ngày nay Mẹ ban cho các con, các con không những không chấp nhận, không tin tưởng, ngược lại các con còn công khai chống báng và rẫy từ. Do vậy mà hành động mãnh liệt Mẹ đang thực hiện để dẫn các con đến Ơn Cứu Rỗi, đang bị các con làm cản trở.

Cho nên, hỡi các con cái tội nghiệp của Mẹ, Mẹ không thể ngăn cản cánh tay Công Thẳng Thiên Chúa lại được nữa; Thiên Chúa, với sự trừng phạt khủng khiếp, sẽ thanh tẩy nhân loại. Cuộc trừng phạt Mẹ không thể cản lại, vì sự ngoan cố của nhân loại trong việc không chấp nhận những can thiệp ngoại hạng này của người Mẹ Trên Trời các con.

Cho nên kể từ đây, cuộc thử thách khốc liệt và đau đớn đã đến cho Giáo Hội và nhân loại. Mẹ thấy đoạn đường các con đi đã vấy những máu và nước mắt. Thế giới sẽ bị thanh tẩy bởi sự Công Thẳng của Thiên Chúa. Thế giới này đã tiến tới đáy vực hư hỏng và phản loạn chống lại Thiên Chúa, là Đấng ngày nay vẫn đang chịu hiến tế và chết trên Thập Giá vì phần rỗi các con.

Ít là các con, hỡi các con yêu dấu của Mẹ, hãy ở lại với Mẹ dưới chân Thập Giá, và cùng với Gioan, hãy an ủi người Mẹ sầu bi của các con, người Mẹ mà một lần nữa, đang bị thanh gươm là sự chối bỏ toàn diện của nhân loại đâm thâu. Hãy kết hợp những đau khổ của các con với sự sầu khổ của Mẹ, để một lần nữa nài xin Thiên Chúa ban phép lạ của Lòng Thương Xót Người trên thế giới”.

Trong sứ điệp dài ngày 3/7/1987 Mẹ ban cho Phong trào Linh Mục của Mẹ qua cha Gobbi, có đoạn nói:

“Tội ác đang bao trùm trái đất; Giáo Hội thành tối tăm vì nạn bỏ đạo và tội lỗi lan tràn. Giờ đây vì Đức Công Bằng và Tình Yêu, Thiên Chúa phải thanh tẩy các con để Lòng Thương Xót Người toàn thắng. Những giờ phút đau đớn và đẫm máu nhất được chuẩn bị cho các con đã rất gần, gần hơn các con tưởng”.

Để kết thúc bài này, chúng tôi xin ghi lại đây cảm nghĩ của Linh Mục Raymond Spies, vị linh hướng của chị Julia Kim:


“Nhờ các sứ điệp mà chúng ta biết được điều mong muốn, nỗi lo âu và sự phiền muộn của Từ Mẫu, khi Mẹ thấy các con cái Mẹ gạt bỏ Tình Yêu và những lời nhắn nhủ của Mẹ, gạt bỏ Thánh Giá Chúa, để chạy theo những thức ăn độc hại dẫn họ vào cuộc đời đầy cạm bẫy của ba đam mê, ba khoái lạc, ba ham muốn, để rồi đưa đến sự tự hiến mình cho Satan, để nó xiềng xích họ và ném họ vào nơi căm hờn muôn kiếp là Hoả Ngục”.

Hạ Nhân


Nghỉ ngơi bên Chúa



Nếu có dịp về vùng quê nhìn những con sông, lạch vào những mùa mưa bão, chúng ta sẽ thấy dòng nước mang đầy phù sa màu đất đỏ và trở nên đục bẩn. Nhưng rồi một khi mưa bão qua đi, khi dòng nước chảy chậm lại, các thứ bùn, bẩn cũng từ từ lắng xuống, làn nước sẽ trong xanh trở lại. Những quan sát sự diễn biến trong thiên nhiên như thế có thể áp dụng vào cuộc sống tâm sinh lý của con người chúng ta.

Thật thế, nếu thân thể của chúng ta cứ ngày này sang ngày nọ luôn phải vất vả, cố sức, chúng ta sẽ trở nên mệt mỏi, và nếu cứ tiếp tục như thế mãi, sẽ có ngày thân thể chúng ta trở nên đuối sức và lâm bệnh. Cũng vậy, nếu tinh thần chúng ta luôn phải gồng mình để chống chọi với đủ thứ thử thách, luôn bị căng thẳng, thì sớm muộn cũng sẽ bị suy yếu và kiệt lực, trí khôn hết minh mẫn.

Vì thế, cũng như nước trong dòng sông sau những trận mưa bão lại lắng đọng mọi bùn đất và dơ bẩn, cuộc sống, cơ thể và tinh thần con người sau những lam lũ vất vả cũng cần phải có thời gian nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Cái nhịp điệu: lao động và nghỉ ngơi; căng thẳng và thư giãn luôn phải được luân phiên thay đổi trong cuộc sống hằng ngày của con người.

Trong Tin Mừng hôm nay, có lẽ Chúa Giêsu muốn phê chuẩn và khẳng định cái nhịp sống đó của con người. Phải, sau chặng đường dài thi hành sứ vụ của các môn sinh, không hành trang tiền bạc, chỉ một tấm áo mong manh với cây gậy đường xa và con tim đầy ắp niềm vui của hành trình loan báo Tin Mừng, các ông đã trở về với Chúa, kể cho Chúa nghe “mọi việc các ông đã làm, mọi điều các ông đã dạy”. Nhưng Chúa Giêsu đã nhìn thấy nếp nhăn của mệt mỏi, rã rời ẩn bên dưới lớp hào quang của niềm vui ngày sum họp. Cho nên, một mặt, đón nhận thành quả đầy an ủi đối với các Tông đồ, nhưng mặt khác Chúa Giêsu có vẻ quan tâm đến con người hơn công việc. Ngài nhẹ nhàng kéo các Tông đồ rời khỏi “cơn say” bởi “men chiến thắng”: “Anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút”. Sở dĩ như thế là vì Chúa sợ các môn đệ của mình nhiễm cái thói hám danh, thích khoe khoang, phô trương, quyền lực, vì Chúa muốn những thành công ấy trở nên một khởi điểm tốt đẹp cho chặng đường tiếp theo, chứ không làm các ông tự mãn rồi rơi vào ảo tưởng. Khi bảo các môn đệ lui vào nơi thanh vắng để ngơi nghỉ, Ngài muốn các ông có một điểm tựa, một chặng dừng cần thiết để có thể vươn lên cao hơn và tiến xa hơn nữa trong hành trình sứ vụ. Bởi con đường trước mắt mà thầy trò phải dấn bước không phải là con đường bằng phẳng, mà đó là một con đường dài, đầy gian nan, thử thách. Sứ mạng hôm nay dù thành công, nhưng chưa kết thúc, đúng hơn, chỉ mới mở ra. Đường còn dài đã vậy, sức lại chỉ có giới hạn. Vì thế, chưa cho phép mọi người có quyền ngủ vùi trong những thành công đầu đời tông đồ này. Thành công đầu đời chưa phải là tất cả của sự thành công. Bởi vậy, hơn bao giờ hết, lúc này phải là một bầu khí không gian cô tịch, mới có thể giúp các Tông đồ tỉnh táo kiểm chứng nội tâm của mình và bồi bổ dưỡng sức.

Thế nên, điều Chúa nói với các Tông đồ ngày xưa, cũng là điều Chúa muốn nói với mỗi người chúng ta hôm nay. Ngài mời gọi chúng ta biết quý trọng cuộc sống và những khoảnh khắc cần thiết để trút bỏ những mệt mỏi lo toan, sống cho xứng với phẩm giá của mình. Bởi những tranh đua chụp giật vẫn thường kéo con người vào lối sống ích kỷ, hẹp hòi, và những vất vả lo toan thường làm cho lòng người nên tầm thường nhỏ bé. Ngài mời gọi chúng ta biết dừng lại sau mỗi chặng đường như chặng dừng để định hướng cho cuộc đời. Dừng lại để xác định cái được, cái mất, cái chính yếu và cái tuỳ phụ. Dừng lại để vươn tới những giá trị cao cả, vun quén cho hạnh phúc gia đình, một điều thật quý giá nhưng mỏng manh vẫn thường bị đánh mất, bị cuốn trôi theo dòng chảy cuộc sống. Bởi thói tham công tiếc việc có thể biến người cha người mẹ trong nhà thành những cỗ máy làm ra tiền, vật chất sung túc nhưng con cái ngơ ngác, bơ vơ vì thiếu điểm tựa vững chắc của người cha, thiếu vòng tay ấm áp của tình mẹ. Và dòng xoáy tham vọng vẫn có thể biến tình anh em bạn bè thành hận thù, đố kỵ. Ngài mời gọi chúng ta đặt mình vào bàn tay Thiên Chúa, phó thác tất cả cho thánh ý Ngài. Bởi cuộc sống lúc nào cũng có khó khăn, nhưng niềm tin giúp con người có thể khơi dậy những tiềm năng đang còn ẩn kín.

Chớ gì, lắng nghe Lời Chúa hôm nay, mỗi người chúng ta dù hoàn cảnh, công việc có khác nhau, tuy nhiên hãy cố dành thời gian đi vào nơi thanh vắng để nghỉ ngơi bên Chúa, sống phó thác cho sự quan phòng đầy khôn ngoan và quyền năng của Chúa, để nhìn lại cuộc sống và để có sức mạnh mà tiếp tục đương đầu với những thách đố của cuộc sống hiện tại.

Chớ gì mỗi người chúng ta, dù bận rộn vì kế mưu sinh, nhưng đừng quên tìm những khoảng thời gian thanh vắng để được gặp Chúa, để tự kiểm điểm mình, để bổ sung năng lực của lòng đạo đức có thể đã hao mòn vì những bon chen đời thường, nhờ đó khi phải đối mặt với tiếng ồn của cuộc đời, với những sôi nổi của thành công, hoặc những ê chề của thất bại, ta sẽ không đánh mất chính mình, trái lại, có khả năng tự thánh hoá mình và dễ dàng đón nhận ơn thánh hoá của Chúa. Có như thế, tâm hồn chúng ta sẽ thanh thản hơn, thân xác chúng ta sẽ khoẻ mạnh hơn, đời sống chúng ta sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng nhất là, chúng ta sẽ có được sức mạnh hoàn tất hành trình dương thế để thẳng tiến về quê trời. Amen.

Lm. Nguyễn Nguyên

Lắng đọng và bình an



Một thanh niên lực lưỡng xin đốn cây để phụ giúp gia đình. Thấy anh vạm vỡ, chủ liền trao cho anh một chiếc rìu, dẫn anh vào rừng và bảo:

- Anh thử đốn cây này cho tôi xem.

Vì đã từng lao động, nên anh đốn rất nhanh. Ông chủ nhận anh vào làm việc, đưa ra mức lương và cho nơi cư ngụ.

Dù mệt nhọc nhưng anh cảm thấy rất vui, vì nghĩ rằng cuối tuần sẽ có một số tiền kha khá đem về gia đình. Thứ Hai, Thứ Ba, rồi Thứ Tư vùn vụt trôi qua. Ðến ngày Thứ Năm, chủ gọi anh vào cám ơn và trao cho anh tiền công cả một tuần.

Anh vui sướng cầm những tờ giấy bạc thấm đẫm mồ hôi, đôi mắt rạng ngời niềm vui. Bỗng chợt nhận ra có điều gì bất thường, anh thắc mắc hỏi chủ:

- Tôi xin cám ơn chủ đã trả lương cho tôi suốt tuần. Nhưng sao không để đến thứ bảy mà lại trả lương vào hôm nay.

- Ðáng tiếc là tôi không thể mướn anh được nữa, vì theo sổ sách thì anh đốn được nhiều cây nhất vào ngày thứ Hai, nhưng qua ngày thứ Ba cây đã giảm xuống và ngày thứ Tư anh là người đốn được ít cây nhất trong các công nhân ở đây.

- Nhưng thưa ông chủ, tôi đã làm hết sức mình. Tôi đi làm sớm về trễ. Tôi chỉ nghỉ để ăn trưa có nửa tiếng thay vì một tiếng. Tôi làm việc không ngừng. Tôi làm việc cả giờ giải lao. Vậy ông chủ còn muốn gì nữa?

- Những gì anh vừa nói không sai chút nào, tôi hoan nghênh sự nhiệt tình của anh. Nhưng tôi chỉ xin hỏi anh một câu: Anh có mài rìu không?
Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút” (Mc 6,31). Sau cuộc hành trình truyền giáo vất vả, các Tông đồ phấn khởi thuật lại cho Ðức Giêsu nghe những thành quả vàng son của mình. Nhưng Người lại quan tâm đến con người hơn công việc. Người muốn các ông hãy dành một chút nghỉ ngơi cho thân xác, một chút lắng đọng cho tâm hồn, để tách mình ra khỏi đám đông, để sống tình thầy trò, tương giao mật thiết với Thầy và với nhau.

Lắm khi chúng ta quên mất “mài rìu”, vì cho rằng khối lượng công việc chồng chất, vì thời buổi kinh tế cạnh tranh, nên không dễ tìm được một chút tĩnh lặng: để thẩm định lại những biến cố, và soát lại công việc đã làm và lắng nghe được tiếng Chúa mời gọi.

Nếu muốn đốn nhiều cây càng phải năng “mài rìu” cho sắc.

Nếu muốn đi thật xa càng phải luôn dừng lại để nghỉ ngơi, lấy sức.

Nếu muốn hoạt động tông đồ hiệu quả, càng phải năng tĩnh dưỡng tâm hồn.

Khi được hỏi bí quyết nào khiến George Washigton Carver thành công trong thành tựu khoa học của mình với trên 300 sản phẩm hữu dụng, ông đã trả lời: “Tôi thức dậy lúc 4 giờ sáng, và trong sự yên tĩnh của buổi sớm mai, tôi lắng nghe tiếng Chúa và chương trình của Người xếp đặt cho tôi”.

P. Doncocur đã quả quyết: “Không một vĩ nhân nào đã thành công mà không đắm mình trong tĩnh lặng để hồi tâm và cầu nguyện”. Vâng, trong cuộc hành trình về quê Trời, người ta không thể đi hết con đường vừa dài vừa dốc, nếu không dừng lại nghỉ ngơi, lấy sức và định hướng.


Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã “lui vào nơi hoang vắng mà cầu nguyện”. Xin cho chúng con cũng biết gác bỏ những sôi nổi của thành công, những ê chề của thất bại, để một mình tĩnh lặng bên Chúa; lắng đọng và bình an.

Xin cho chúng con biết dừng lại, lắng nghe và kín múc nơi Chúa nguồn sức mạnh, để chúng con lại tiếp tục lên đường. Amen. 


Thiên Phúc

Tiếng nói của thinh lặng


Truyện kể rằng:

Trước khi ông Moisê dẫn dân Do Thái ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, người phải qua một thời gian huấn luyện dưới sự chỉ giáo của một thầy dạy. Kỷ luật đầu tiên mà Moisê phải tuân giữ, là sự im lặng tuyệt đối trước bất cứ điều trái ý nào.


Một hôm, hai thầy trò đi du ngoạn tại một miền quê có đồi núi hùng vĩ, cây cối xanh tươi, hoa cỏ muôn màu muôn sắc, sông nước trong mát. Nhưng Moisê cũng phải im lặng không dám mở miệng khen ngợi.


Ðến gần bờ sông, Moisê thấy một đứa bé đang chìm dần xuống nước, trong khi đó người mẹ trên bờ sông không biết làm gì hơn là khóc than thảm thiết.


Moisê không cầm lòng được trước cảnh tượng đáng thương đó, liền buột miệng nói:


Thầy không thể làm gì để cứu đứa bé được chăng?


Thầy giáo bảo Moisê hãy giữ im lặng.


Moisê cắn lưỡi giữ yên, nhưng cảm thấy áy náy trong tâm hồn. Ông tự nghĩ, không lẽ thầy mình lại có tấm lòng chai đá như vậy hay sao? Hay là chỉ vì bất lực không thể cứu giúp người gặp cảnh khó khăn được? Mặc dù Moisê không dám nuôi những tư tưởng xấu về thầy mình, nhưng lại rất khó mà xua đuổi những tư tưởng ấy đi.



Hai thầy trò lặng lẽ tiếp tục tiến về phía biển. Ðứng trên bờ biển, Moisê thấy chiếc thuyền nhỏ lao đao, vật lộn với sóng lớn và đang chìm dần với cả nhóm thủy thủ. Moisê kêu lên:


Lạy thầy, xin hãy nhìn xem kìa, chiếc thuyền nhỏ đang chìm dần.


Một lần nữa thầy giáo ra hiệu cho Moisê phải giữ im lặng. Moisê không dám nói gì thêm nữa, nhưng trong lòng không khỏi phân vân lo lắng.


Khi hai thầy trò trở về nhà, Moisê liền đem sự việc đến bàn hỏi cùng Chúa.


Chúa phán: thầy con làm như vậy là có lý, đứa bé chết đuối trong nước sông, nếu không chết, lớn lên nó sẽ là tên tướng giặc gây chiến giữa hai quốc gia, và hàng ngàn người vô tội sẽ phải chết thảm thương. Còn chiếc thuyền nhỏ ngoài biển kia đang chở theo một bọn cướp hung dữ, chúng đang dự bị tấn công một làng nhỏ gần vùng biển. Nếu chúng không bị đắm thuyền, thì chúng sẽ cướp phá và giết hại dân làng vô tội.


Các bạn thân mến!


Các bạn đã nghe được tiếng nói của im lặng bao giờ chưa? Nó không phải là điều nghịch nghĩa. Sự thầm lặng nói với tiếng nói thâu suốt tâm lòng con người. Lời lẽ của nó thân tình và quan trọng. Quan trọng, bởi vì những lời lẽ đó dẫn đưa chúng ta đến chỗ suy tư với chính mình, lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên, của vạn vật và của Chúa trong tâm hồn ta nữa.


Tiếng nói của thầm lặng thúc đẩy chúng ta tìm hiểu sự chân thật, đồng thời cũng chỉ bảo chúng ta cách đối thoại với thực tại đang chờ đón ta. Sự thầm lặng sẽ giúp ta không bị hoa mắt trước những ảo mộng hão huyền, không bị mỏi mệt vì tiếng ồn ào huyên náo.


Thỉnh thoảng chúng ta cũng cần phải rút lui và chính mình trong chốc lát, cho dù chỉ một vài phút để nghỉ ngơi tinh thần, để khám phá ra sự thật trong thinh lặng, để định hướng đi và đi vững vàng hướng dẫn bánh lái của cuộc đời ta.


Lạy Chúa, này đây con xin ở im lặng trước nhan thánh Chúa, con nhìn Chúa và con biết rằng Chúa cũng đang nhìn con. Chúa thấu tỏ mọi sự, xin hãy nói và con sẽ lắng nghe với tất cả tâm hồn, tất cả trí khôn con. Xin hãy truyền cho sóng gió của dục vọng, của ham muốn trong đời con, phải lặng tĩnh để tâm hồn con trở nên phẳng lờ, trong sáng có thể phản ảnh dung nhan Chúa, để con biết nhìn mọi sự việc với cái nhìn của Chúa, cái nhìn của lòng tin yêu Chúa, phó thác trong sự quan phòng đầy khôn ngoan của Chúa. Amen.


Nguồn:RVA