Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Một linh hồn lang thang


Nghe đến hai chữ lang thang, có lẽ trong chúng ta ai cũng hình dung ngay đến hình ảnh của những người không nhà không cửa, không nơi trú ngụ. Có thể đó là hình ảnh của một người hành khất đang lê bước trên lề đường hoặc góc phố nào đó, có thể đó là hình ảnh của những em bé mồ côi vất vưởng nơi đầu đường xó chợ, cũng có thể đó là hình ảnh của những nạn nhân chiến tranh, lũ lụt, đang lâm vào cảnh nhà tan cửa nát.


Cho dù trí óc chúng ta mường tượng đến hình ảnh nào đi chăng nữa thì tất cả chỉ là điều bất hạnh mà thôi. Dẫu rằng vẫn còn hiện diện trên cõi đời này hay là đã rời bỏ cõi đời này ra đi, thì không một người nào hay một động vật nào muốn lang thang cả. Con người phải làm việc rất vất vả để có được một nơi trú ẩn an toàn cho thể xác, nhưng còn nơi trú ẩn cho linh hồn của mình thì sao? Chúa Giêsu đã từng nhắc nhở chúng ta: "Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn mình thì nào có ích gì?" (Mt.16:25)



Bài viết này xin được đề cập đến sự lang thang của những linh hồn đã khuất ngoài tầm nhìn của chúng ta. Đó là linh hồn của những người đã rời bỏ cõi đời này ra đi vĩnh viễn. Những người mà thân xác của họ đang an nghĩ ngàn thu dưới lòng đất lạnh, cơ thể của họ có lẽ đã hoặc đang mục nát mất rồi, nhưng linh hồn của họ thì bất tử. Sách giáo lý công giáo dạy rằng: Con người sau khi chết thì linh hồn sẽ đến gặp Chúa để chịu phán xét, sau đó linh hồn được lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục hoặc vào luyện ngục để chờ thanh luyện. Thế nhưng tại sao vẫn còn có những linh hồn lang thang?


Những linh hồn lang thang này đôi khi nhập vào thân xác người này hay người nọ để quấy phá làm cho cuộc sống của họ thật khổ sở. Phải chăng còn có những linh hồn chưa được rửa tội, vì thế mà họ phải lang thang để chờ được cứu rỗi? Từ đầu năm 2005 đến nay, tại giáo xứ của tôi đã có tất cả 13 trường hợp người sống bị hồn người chết về nhập. Những người này đã được thân nhân đem đến nhà thờ Bắc Hải, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng để xin tôi chữa trị.

Thú thật với qúy độc giả, từ xưa tới nay tôi chưa bao giờ có dịp chứng kiến nhiều linh hồn người chết đi lang thang nhập vào người sống như vậy. Khi được Tòa Giám Mục Cần Thơ phân công về phụ trách giáo xứ truyền giáo Bắc Hải này, tôi nghĩ rằng mình chỉ có thể góp phần vào công việc truyền giáo như một vị chủ chăn bình thường mà thôi. Không ngờ Chúa lại muốn tôi truyền giáo luôn cả những người đã khuất, những người chưa hề được biết Chúa lúc tại thế. Đúng như trong sách tiên tri Isaia đã viết : "Nhu trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy" (Is 55:8-9).

Đến muôn đời tôi xin dâng lời cảm tạ hồng ân Thiên Chúa, niềm vui của tôi là niềm vui của những môn đệ sau khi được Chúa Giêsu sai đi thực tập truyền giáo đã hân hoan trở về trình báo: ” Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng khuất phục chúng con”. Đức Giêsu bảo các ông: “Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực kẻ thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời “ ( Lc. 10, 17- 20).

Trước đây, tôi đã viết một bài về chủ đề “Rửa tội Cho Người Đã Khuất”, chuyện kể về 3 trường hợp đã xảy ra tại giáo xứ truyền giáo Bắc Hải của tôi. Hôm nay, tôi xin được kể tiếp về một trường hợp nữa. Ước mong rằng khi đọc xong bài này, qúy vị sẽ nhớ đọc thêm vài kinh, dâng thêm lời cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi, vì Chúa Giêsu đã phán: "Điều gì con làm cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta" (Mt. 10, 42).

Và sau đây, tôi xin được phép trình bày sơ lược về những sinh hoạt tại giáo xứ truyền giáo nhỏ này để qúy vị có thể hiểu rõ hơn về những sự việc kỳ lạ đã hoặc đang xảy ra nơi đây:

Bắc Hải là một họ đạo vùng quê, xa xôi, hẻo lánh, cũng là thí điểm truyền giáo của hạt Đại Hải, giáo phận Cần Thơ. Giáo dân là một thành phần tổng hợp từ nhiều nơi đi di dân kinh tế về vùng đất này sau ngày 30.4.1975. Đời sống kinh tế của người dân nơi đây còn rất thấp và bấp bênh, cơm gạo phải chạy lo từng ngày, từng bữa mà vẫn chưa đủ no. Nhà ở thì làm bằng tranh vách lá, sơ sài và rách nát. Có cái đã xiêu vẹo và ẩm thấp vói những điều kiện vệ sinh rất tồi tệ và dơ bẩn. Nhiều mái nhà hay nói đúng hơn là nhiều mái chòi vì nó quá thấp bé, phải khom người xuống mới chui vào lọt. Cuộc sống của họ còn cơ cực và khốn khổ hơn vì thiếu nguồn nước sạch để tiêu dùng. Các con sông và kinh rạch đầy những thứ rác rưởi bẩn thỉu, do các con vật chết mà người dân bỏ xuống sông, do các đàn vịt thả nuôi dập dìu trên dòng nước, do các nguồn nước bẩn của các chuồng heo chảy xuống, do các thứ nước thuốc xịt sâu, xịt cỏ trên các cánh đồng ruộng chảy về khiến cho người dân vì nghèo phải xử dụng nguồn nước sông nên thường mắc nhiều chứng bệnh như kiết lỵ, tiêu chảy, đau bụng, nhức đầu, ghẻ lở …

Mỗi tuần vào ngày thứ bảy và Chúa Nhật, họ đạo thường lo đón tiếp từ 100 đến 150 người mới vào đạo và đang tìm hiểu đạo, họ từ trong những thôn xóm rất xa tề tựu về nhà thờ để học hỏi giáo lý và tham dự Thánh lễ. Nhà thờ họ đạo phải lo cho họ hai bữa ăn chiều thứ bảy và sáng Chúa Nhật, lo tiền xăng, tiền xe cho họ đi và về, lo tiền mua thuốc, lo mua sắm mùng, mền, chiếu, gối và các vật dụng cần thiết khác cho việc truyền giáo, hầu mong thực hiện lời dạy của Chúa Giêsu: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” ( Mc. 9,41).

Trong số những người lương đến nhà thờ để học đạo này có một số người bị hồn người chết về nhập khiến cho cuộc sống của họ rất khổ sở: nước da người nào người nấy xanh xao, vàng vọt, cặp mắt thất thần vì mất ăn mất ngủ. Những người bị ma nhập này đã đi chạy chữa ở rất nhiều nơi, đến với nhiều thầy bùa, thầy Pháp, đã tốn kém rất nhiều tiền nhưng không khỏi, nay họ đến nhà thờ để xin theo Chúa và học đạo để mong được cứu chữa. Với những người có thành tâm theo Chúa thật sự, sau một thời gian học giáo lý đầy đủ, được tôi rửa tội thì hồn ma đã xuất ra và không còn về quấy phá nữa.

Tiếng lành đồn xa, cho đến sáng thứ bảy ngày 27/8/05, người ta dẫn đến một người đàn bà gầy còm để gặp tôi. Bà tên là Nguyễn thị Gấm, năm nay 77 tuổi. Bà Gấm là một trong những nạn nhân của hồn người chết về nhập từ lúc bà mới 40 tuổi. Suốt 37 năm bà đã bị hồn của người chị tên là Nguyễn thị Lan, chết lúc 9 tuổi về nhập quấy phá, hành hạ, làm bà rất đau khổ. Bà Gấm đã được các con bà đưa đi đủ hết các thầy bùa, thấy pháp, nhưng không chữa trị được, hoặc có khi được khỏi một thời gian rồi bị nhập lại.

Lúc đứa con gái dẫn bà đến gặp tôi van nài xin trừ tà ma cho bà. Tôi nói ngay:

- Tôi có trừ ma bắt quỉ cho ai bao giờ đâu. Ở đây chỉ có những trường hợp hồn ma về nhập, gặp tôi nói chuyện, tôi đề nghị rửa tội cho nó, nó đồng ý, thế là sau khi rửa tội thì nó không còn về nữa, chỉ có vậy thôi. Còn trường hợp của bà ở dây, tôi chưa gặp hồn ma thì làm sao nói chuyện được. Tôi vừa nói xong câu này thì hồn ma đã nhập vào bà Gấm và nói:

- Lan đây nè, cha ơi!

Sự kiện xảy ra quá bất ngờ. Lúc bấy giờ có gần 20 bà hiền mẫu trong họ đạo đang ăn mừng lễ Thánh Monica đều thấy và chứng kiến. Tôi hỏi:

- Lan ở đâu mà về đây?

Hồn người chết trả lời:

- Lan ở với anh Điều ở Long Mỹ. Anh Điều không cúng Lan nữa, nên Lan về nhập vào em của Lan là bà Gấm. Lan không chịu đi dâu, cha phải thật mạnh đánh Lan nhừ tử Lan mới chịu đi. Ông Cha ở Phụng Hiệp trừ Lan mà Lan không sợ. Bà Gấm theo đạo nhưng Lan không theo đâu. Lan sẽ theo bà Gấm hoài chừng nào bà rửa tội mới thôi.

Thấy chuyện lạ, tôi đi lấy máy chụp hình bà Gấm, hồn người chết nói ngay:

- Cha chụp chứ không thấy Lan đâu

Tôi nói:

- Nếu Lan không chịu theo đạo, không chịu rửa tội thì Lan ra đi để cho bà Gấm được học đạo chứ, vì bà Gấm là em của Lan, Lan không thương bà sao? Lan hành hạ bà khổ sở bao nhiêu năm rồi còn gì.

Hồn người chết hỏi:

- Cha muốn cho Lan ra ở đâu? Lan sẽ ra ở hai mắt cho bà Gấm mù luôn.

Tôi không chịu nên mới nói rằng:

- Lan vô đường nào thì ra đường đó chứ!

Bấy giờ hồn ma tên Lan đưa hai tay cho tôi. Nó nói:

- Cha bắt Lan đi Lan mới đi.

Tôi liền nắm lấy hai tay bà Gấm và bóp mạnh, thế là hồn ma xuất ra. Tưởng như vậy là xong, tới đêm thứ bảy, rạng sáng Chúa Nhật, nó lại nhập vào lúc 3 giờ sáng. Mọi ngưòi đánh thức tôi dậy, tôi vừa đến chỗ bà Gấm nằm ngủ thì hồn ma nói ngay:

- Lan nhập nữa rồi cha ơi!

Tôi giận quá mới nói lớn:

- Tại sao Lan đã hứa với cha không nhập nữa mà nhập hoài vậy?

Hồn người chết trả lời:

- Lan nói dóc lắm, cha đừng nghe

Tôi la lên:

- Vậy Lan có chịu ra không?

Tôi lấy xâu chuỗi hạt tròng vào cổ bà Gấm rồi xiết mạnh, hồn ma hét lên một tiếng lớn và xuất ra. Trưa Chúa Nhật hồn ma còn nhập lại hai lần nữa. Một trong hai lần ấy là lúc bà Gấm đang cầu nguyện trong nhà thờ. Người ta chạy ra để kêu tôi vào. Tôi lấy xâu chuỗi trói hai tay của nó lại, nó mới chịu xuất ra. Trước khi xuất ra, hồn người chết biết nói:

- Lan sợ cha lắm cha ơi!

Tôi nói:

- Lan sợ thì đi luôn đi, sao còn trở lại nữa?

Hồn người chết trả lời:

- Chừng nào cha rửa tội cho bà Gấm, Lan mới đi luôn

Tôi nói:

- Cha sẽ cha rửa tội cho con luôn

Hồn người chết trả lời:

- Lan không chịu, không có theo

Thế là nó xuất ra khỏi bà Gấm. Sau đó hồn ma xuất ra luôn tới ngày thứ năm, 1/9/05, thì nhập lại tất cả 4 lần. Một trong những lần ấy là vào lúc 6 giờ tối, bà Gấm đang ngồi nói chuyện chơi với những người khác trong khuôn viên nhà thờ, tôi đi đến hỏi thăm. Tôi nói:

- Thế nào cha cũng rửa tội cho hai người, Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Thị Gấm cùng một lần.

Vậy là hồn ma lại nhập vào bà Gấm, nó hét một tiếng lớn:

- Không, Lan không chịu rửa tội đâu. Cha nói gì Lan nghe biết hết.

Tôi trả lời:

- Không chịu cũng rửa

Hồn người chết nói:

- Nếu cha rửa tội cho Lan, Lan sẽ nhảy lên nóc nhà thờ

Tôi nói:

- Được, Lan thich nhảy thì nhảy thử coi. Xong tôi bấm mạnh huyệt cổ bà Gấm, thế là hồn ma xuất ra. Trong thời gian ấy, tôi và một số giáo dân trong giáo xứ đang làm tuần cửu nhật, ăn chay thêm để cầu nguyện cho bà Gấm, vì mỗi lần bị hồn ma nhập thì thân hình ốm o, gầy còm của bà ta run rẩy trông tội nghiệp, khổ sở lắm. Thấy tình hình không xong, bà Gấm bằng mọi giá xin cho được theo đạo rồi mới dám về. Còn hồn ma thì nói phải rửa tội cho bà Gấm thì nó mới xuất, nên tôi đã quyết định sáng thứ bảy, 3/9/05, sẽ rửa tội cho Bà Gấm và hồn ma Nguyễn thị Lan, cho dù nó không muốn.

Thế là sáng hôm đó, tôi kêu mời mọi người hiệp dâng thánh lễ sốt sắng để cầu nguyện cho bà Gấm. Ngay sau thánh lễ, tôi đã rửa tội cho bà ấy có sự hiện diện của đông đảo bà con giáo dân. Nghi lễ Rửa Tội diễn ra trang nghiêm và sốt sắng, đến phần ban Bí Tích Thêm Sức thì người bà Gấm bắt đầu run run nhưng vẫn còn đứng được. Đến khi mọi sự đã xong, tôi mời gọi dẫn bà đến để dâng mình cho Đức Mẹ thì bà té ngửa ra, mồ hôi chảy đầm đìa, chân cẳng xụi lơ, ngất xỉu và không hay biết gì. Hồn ma đã chịu xuất ra. Bà Gấm lã người khoảng 15 phút mới hoàn hồn tỉnh lại bình thường. Sau đó tôi cho bà ở lại nhà thờ tới sáng Chúa Nhật, 4/9/05, rồi mới về nhà.

Kể từ khi đưọc rửa tội, khuôn mặt bà Gấm lúc nào cũng rạng rỡ và cười vui. Bà thật sự an tâm và không còn sợ hãi nữa. Bà hứa quyết tâm cùng với gia đình sẽ theo Chúa mãi mãi. Từ đó đến nay mọi sự êm xuôi, bà Gấm trở về đời sống bình dị, yên ổn của mình với lòng cảm tạ vô biên vào tình thương của Thiên Chúa, của họ đạo Bắc Hải đã dành cho bà. Thưa quý vị, đúng như Chúa Giêsu đã phán: "Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời” (Mt 5: 16).

Lm. Nguyễn Minh Văn

Có linh hồn mồ côi không?





1- Giáo lý Công giáo nói chung "người đã qua đời"

*Trong sách giáo lý Giáo hội Công giáo do ĐGH Gioan Phaolô 2 ban hành năm 1992 chỉ viết "Những ai chết, những người được chọn, những người đã qua đời "

"Những ai chết trong ân sủng và tình nghĩa Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hầu đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui Thiên đàng" (GLCG số 1030)

"Giáo hội gọi Luyện ngục là cuộc thanh tẩy cuối cùng này của những người được chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị kết án trầm luân.(số 1031)

"Ngay từ những thời gian đầu, Giáo hội đã tôn trọng việc tưởng nhớ những người đã qua đời, và dâng lời cầu khẩn cho họ, nhất là dâng thánh Lễ, để họ được thanh tẩy và tiến vào phúc chiêm ngưỡng Thiên Chúa (Công đồng Lyon 2 năm 1274). Giáo hội cũng khuyên làm việc bố thí, hưởng các ân xá và làm các việc đền tội để giúp những người đã qua đời".(số 1032)

Giáo hội cổ động cầu cho "các linh hồn", không những cầu trong Lễ Cầu hồn (lễ 1, lễ 2, lễ 3 ngày 2 tháng 11 hàng năm), mà cầu trong cả tháng 11, cầu hằng ngày trong Thánh lễ ":

Trong thánh lễ hằng ngày, trong kinh Nguyện Thánh Thể 2 viết:

-Xin nhớ đến tôi tớ Chúa là T...mà (hôm nay) Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa....

-Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã ly trần trong tình thương của Chúa...

Giáo hội soạn những bài lễ riêng cầu cho linh hồn ĐGH, giám mục, linh mục, ông bà, cha mẹ, thân nhân, ân nhân, các tín hữu...

2- Có những linh hồn bị bỏ quên, người CGVN gọi là các linh hồn mồ côi

*Theo văn hóa, người Việt nam thấy có, hiểu rõ và rất thương cảm hoàn cảnh các em mồ côi, nhất là mồ côi mẹ.

"Mồ côi cha, con ăn cơm với cá,  Mồ côi mẹ, con liếm lá gặm xương (Ca dao ).

"Mấy đời bánh đúc có xương,  Mấy đời dì ghẻ có thương con chồng" (Cd)

Trẻ em mồ côi cha mẹ thì dễ thấy (mồ côi vì chiến tranh, mồ côi vì cha mẹ bỏ tại nhà thương, tại cổng chùa, cạnh thùng rác...). Trong xã hội đã có những nhà nuôi trẻ mồ côi...

Còn những linh hồn mồ côi là những linh hồn nào?

Đó có thể là những linh hồn trẻ em bị mẹ phá thai? những người lính chết ngoài chiến trận,  những người tù cải tạo đã bị bắn chết bí mật, những người vượt biên đã chết chìm trong đại dương..., mà người nhà chưa biết rõ tin, hoặc những người chết có sổ sách khai tử, nhưng con cái lại thờ ơ không hề cầu nguyện, xin lễ cho bao giờ, còn nhiều và còn rất nhiều...linh hồn bị bỏ quên.

Vì thế, việc cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi vì là một điều rất nên có, một truyền thống tốt đẹp của giáo dân Việt Nam rất đáng trân trọng, khuyến khích, vừa theo văn hóa, vừa theo tình thương, vừa theo luật tự nhiên "Nay ta thương người, mai Chúa soi cho người khác thương ta".

Người Công giáo Việt Nam tốt lành xin rất nhiều lề cầu cho các linh hồn mồ côi trong Tháng Cầu hồn. Đối lại, họ cũng được các linh hồn trả ơn rất nhiều phần hồn phần xác.

*Sau đây là vài truyện chứng minh có linh hồn mồ côi (hay linh hồn bị quên lãng):

 1/ Trong hạnh tích nữ tu Catherine de Saint Augustine có kể truyện sau này:

Trong miền nữ tu ở, có một phụ nữ tên là Maria, từ thiếu thời đã sống một cuộc đời rất mực buông tuồng. Lớn lên cũng chẳng sửa mình. Người miền ấy chán ngấy vì những phóng đãng của nàng, họp nhau trục xuất nàng ra khỏi thành phố, cho ở trong một cái hang ngoài vùng họ. Ở đó, nàng mắc một bệnh ghê hồn: từng mảng thân thể rơi rụng dần. Sau ít lâu nàng chết không được chịu các phép Bí tích, không được một người nào đoái hoài. Xác nàng được người ta chôn táng ngoài đồng, không một lễ nghi tôn giáo. Bốn năm sau, một hôm có linh hồn ở luyện ngục hiện về với nữ tu, nói:

- Tôi khổ quá bà ơi! Bà cầu nguyện cho mọi người đã chết; có mỗi mình tôi đáng thương nhất bà lại chẳng hề thương cảm!

Nữ tu hỏi:

- Hồn là ai?

- Tôi là Maria, tội lỗi đáng thương, đã chết ở ngoài hang đá.

Nữ tu Catherine ngạc nhiên kêu lên:

- Sao? Chị cũng được rỗi ư?

- Vâng, tôi được rỗi nhờ tình thương của Mẹ Maria. Trong giây phút cuối cùng đời tôi, thấy bị mọi người bỏ rơi và đầy tội lỗi ghê gớm, tôi nhớ đến Mẹ Thiên Chúa. Tự đáy lòng, tôi kêu xin: "Ôi Mẹ, là nơi nương ẩn của mọi người trơ trọi, xin thương xót con. Người ta từ bỏ con hết cả rồi, chỉ còn có Mẹ là hy vọng độc nhất của con đó thôi. Xin Mẹ đến cứu lấy con!" Tôi chẳng cầu nguyện uổng công. Chính nhờ Mẹ cầu bầu mà tôi được thành tâm thống hối, ăn năn tội cách trọn và thoát khỏi hoả ngục.

Rồi nàng xin nữ tu dâng lễ cầu cho mình được giải thoát khỏi luyện ngục. Ít lâu sau, nàng hiện về sáng láng như mặt trời, nói với nữ tu:

- Tôi lên trời đây, tôi sẽ ca tụng tình thương vô biên của Chúa. Xin cám ơn bà.

(Thánh Anphongsô, Vinh quang Ðức Mẹ tập 1, tr 37 / Mẹ ơn Cứu rỗi tr. 88-90)

 2/ Trong hồ sơ xin phong thánh cho Cha Domenico di Giesu Maria, qua đời năm 1630 tại Roma, có ghi lại câu chuyện sau đây.

Cha Domenico là đan sĩ dòng Kín Carmelô. Theo thói quen của dòng, các đan sĩ thường đặt trong phòng riêng một quan tài thật bằng gỗ. Chiếc quan tài giúp đan sĩ vừa suy niệm về sự chết vừa nhớ cầu nguyện cho những người đã qua đời.

Khi Cha Domenico đến sống tại một đan viện ở Roma, thì trong căn phòng dành cho ngài, đã có đặt một quan tài. Một đêm, Cha Domenico nghe rõ từ quan tài phát ra tiếng nói thật lớn gần như là tiếng thét: Không ai nhớ đến tôi!

Tiếng nói lập lại nhiều lần và vang ra xa nên tất cả dãy phòng cạnh Cha Domenico đều nghe rõ. Cha Domenico rất kinh hãi. Cha nghĩ đến hiện tượng ma quỷ quấy phá các đan sĩ. Cha liền quỳ xuống, tha thiết cầu xin Chúa soi sáng cho biết phải làm gì. Sau đó, Cha lấy Nước Thánh và rảy lên quan tài. Lần này, cũng cùng tiếng nói, khẩn khoản:- Nước Thánh! Nước Thánh nữa đi - Xin thương, xin thương xót!

Cha Dominico liền hỏi tiếng nói là ai và muốn gì? Người chết trả lời:
- Con là một người Đức, đến Roma hành hương các Nơi Thánh và qua đời tại đây. Xác con được chôn từ lâu năm tại nghĩa trang thành phố Roma. Trong khi Linh Hồn con còn bị giam cầm nơi Lửa Luyện Hình, chịu nhiều hình khổ đớn đau, để thanh tẩy các tội đã phạm. Nhưng con bị mọi người quên lãng. Không còn ai nhớ đến con để làm việc lành phúc đức và cầu nguyện cho con. Vậy xin Cha hãy động lòng thương xót, rảy Nước Thánh liên tục trên con, và nhất là xin Cha hãy khẩn cầu cùng THIÊN CHÚA Nhân Từ, xin Ngài sớm giải thoát con ra khỏi Chốn Luyện Hình.

Cha Dominico liền hứa sẽ đặc biệt cầu nguyện cho người quá cố mồ côi. Cha ăn chay, hãm mình và cầu nguyện thật nhiều cho ông.

Chỉ mấy ngày sau, người chết hiện ra trong phòng Cha Dominico, báo tin cho ngài biết ông được lên Thiên Đàng và hứa sẽ đền đáp ơn ngài cách bội hậu.
(”L'Aldilà .. Stupenda realtà”, Editrice Comunità, 1992, trang 38-39) Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

 3/ Bà Maria Valtorta (1897-1961) là phụ nữ Công Giáo người Ý. Bà được người mẹ từ Luyện ngục hiện về ngày 4-10-1949 khuyên như sau:


- Con cứ cầu nguyện cho mẹ y như Mẹ còn bị giam ở đây. Bởi vì nơi Lửa Luyện Ngục, có rất nhiều Linh Hồn bị quên lãng, bị bỏ rơi, thuộc đủ hạng người, cấp bậc, đặc biệt là các bà mẹ. Cần phải yêu thương và nghĩ đến tất cả mọi người. Bây giờ mẹ mới hiểu rõ điều đó... Cũng chính bây giờ đây, Mẹ không còn than trách Chúa nữa, nhưng hiểu rằng, Thiên Chúa là Đấng Xét Xử Chí Công! (Maria Valtorta, ”I Quaderni dal 1945 al 1950”, Centro Editoriale Valtortiano, 1987, trang 523-525.)

3- Các linh hồn mồ côi cần cầu nguyện

Những người còn sống, còn có thời giờ lập công nghiệp, còn có thể cầu cho các linh hồn Luyện ngục. Ngược lại, các linh hồn Luyện ngục bây giờ đã hết thời giờ lập công,  dù phải chịu nhiều đau khổ.

Như lời Chúa Giêsu đã có lần nói: "Đêm đến, không ai có thể làm việc được" (Ga 9,4).

 - Cần cầu cho Cha mẹ đã qua đời:

Có những cha mẹ khi còn sống, thương lo cho con phần xác đầy đủ, sung sướng hơn con người ta, do đó phạm lỗi công bằng, bác ái, ngày nay đang phải thanh tẩy trong Luyện ngục. Con cái còn sống Chúa cho làm ăn khá giả, giầu có bạc triệu, nhưng không hề cầu nguyện, xin lễ cầu cho cha mẹ bao giờ. Thật đáng buồn. Coi chừng "Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đó". Sau này họ bị con cái bỏ quên!

Vào thập niên 90, một bà mẹ CG Việt nam định cư bên Hoa kỳ gọi điện thoại về tòa báo TTĐM bang Missouri than thở như sau:

Bà bảo cậu con trai lớn:

- Hôm nay ngày giỗ bố đấy, con đi lễ cầu cho bố. Người con cưng của bà trả lời:

- Ai lên thì lên, ai xuống thì xuống, cần gì phải cầu.

Đau lòng chết được, bà mẹ tức mình nói:

- Biết vậy tao để mày ở nhà với Việt cộng cho rồi, vất vả đưa mày đi Mỹ làm gì.  Sau này tao chết, mong gì được lời cầu nguyện của mày!

Có người bạo miệng nói rằng "Chúa nhân từ thương xót vô cùng", Chúa cũng tha hết. Chúa đâu có ác độc như vị thần nghiêm khắc, đứng chờ phạt từng chút từng chút ???.

Đúng, Chúa thương xót vô cùng, nên ta mới đọc: "Nếu Chúa chấp tội, nào ai rỗi được, bởi Chúa tôi hằng có lòng lành...".

Nếu Chúa không có lòng lành thì Chúa chẳng cho Con Một xuống thế gian, chịu chết chuộc tội.

Nếu Chúa không có lòng lành thì  loài người phạm đến Chúa sẽ bị phạt sa hỏa ngục hết.

Chúa, Đức Mẹ lòng lành, thương xót luôn tìm mọi cách cứu giúp, giảm bớt hình phạt cho các linh hồn luyện ngục, đau khổ.

Nhưng có lẽ họ không biết hay không nhớ rằng: Chúa có 9 phẩm tính. Chúa lòng lành, thương xót vô cùng, nhưng Chúa cũng công bằng vô cùng.

Nếu không công bằng thì những việc tốt nhỏ mọn của họ chỉ có Chúa biết, Chúa sẽ quên, không thưởng công.

Nếu không công bằng thì những người làm ác bất công cho họ, Chúa bỏ qua, không phạt. Chắc chắn không.

Đàng khác, dù Chúa có cho một linh hồn còn nhơ bẩn lên Thiên đàng thì linh hồn đó cũng không dám lên nơi thanh sạch vô cùng.

Thử hỏi người vừa cầy ruộng ở ngoài đồng về, có dám để thân mình hôi hám, quần áo lấm lem như vậy vào dự tiệc bên cạnh đức vua, hoàng hậu, cả triều đình bá quan văn võ...không?

    - Cũng xin cầu cho các linh mục mình quen biết:

Trong số các linh hồn mồ côi, cũng có những linh hồn Linh mục mồ côi (người ta thường nói: "Cha chung không ai khóc").  Nếu đã nhớ tới bậc cha mẹ sinh ra phần xác, cũng xin thương nhớ tới những Linh mục đã giúp đỡ phần hồn. Chúa đã nhờ họ rửa tội cho ta, giải tội cho ta, chứng kiến hôn phối...Là con người yếu đuối dại dột, họ được ban nhiều ơn, nhưng cũng có nhiều khuyết điểm, thiếu sót, nên họ sẽ bị đòi nhiều. Tin mừng theo Thánh Luca viết rõ ràng: "Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều...  Hễ ai đã được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều, và ai được trao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn". (Lc 12,47- 48).

* Bà Đáng kính Frances Thánh Thể kể lại rằng: "Một số bà sơ đạo đức dòng Carmelô chịu khổ 20 năm, 40, 50 năm. Một Giám mục chịu khổ 55 năm bởi thiếu cẩn thận trong một số điều. Một linh mục bị phạt 40 năm cũng chỉ bởi thiếu cẩn thận trong khi thi hành nhiệm vụ.(Luyện ngục, nơi thanh tẩy cuối cùng, Chương 4, Luyện ngục bao lâu)

"Các linh mục sau khi qua đời cũng rất dễ trở thành những linh hồn mồ côi. Linh mục là người tế lễ hằng ngày để thờ phượng Chúa và xin ơn tha tội cho người tội lỗi. Tuy nhiên thường không mấy ai nghĩ rằng linh mục cũng cần lời cầu nguyện vì người ta cho rằng linh mục phải thánh thiện hơn giáo dân. Rồi khi một linh mục nằm xuống vĩnh viễn thì thường ông bà cố thân sinh cũng như các anh chị đã ra đi trước, không còn mấy ai để nhắc nhở cho các cháu chắt cầu nguyện cho nữa. Như vậy phải chăng linh mục khi chết rồi, có thể trở thành những linh hồn mồ côi chăng? (Tư tưởng của Linh mục Trần Bình Trọng).

* Việc cầu nguyện cho người quá cố luôn luôn cần thiết. Thiên Chúa đưa linh hồn người quá cố lên thiên đàng là do quyết định của Chúa.

Nếu người quá cố được lên thiên đàng rồi mà ta vẫn cầu nguyện, thì theo Tín điều các Thánh Cùng Thông công (hiệp thông), những ơn ích của lời cầu nguyện đó sẽ được chuyển cho những linh hồn khác nơi luyện ngục.

*Chúa phán với bà thánh Gêtrudê rằng:"Mỗi lần con cứu được một linh hồn ra khỏi luyện ngục, thì Cha vui mừng như con đã cứu chính Cha ra khỏi nơi ấy".


Linh mục. Mark

Tỉnh mộng trở về


Đất trời lồng lộng bao la,
Bao dung tình Chúa cho ta say nhìn.
Bâng khuâng bóng ngã đồi sim,
Tâm tôi ớn lạnh, con tim dại khờ.

Đêm thanh ánh nguyệt huyền mơ,
Tuổi xuân trôi nổi con thơ lạc đường.
Bóng đêm tội lỗi tơ vương,
Say đèn xanh đỏ vấn vương bụi đời.


Ồn ào ong bướm lả lơi,
Không còn nhớ đến quê trời chờ mong.
Đời ta vất vã long đong,
Bỏ quên tình Chúa đi rong hết ngày.


Cuộc đời một thoáng mây bay,
Nhớ về quá khứ hây hây thấm buồn.
Thời giờ lặng lẽ trôi luôn,
Chạy theo ma quỷ diễn tuồng ngu ngơ.


Tỉnh rồi mới thấy dại khờ,
Đời đâu có đẹp như mơ đèo bồng.
Ngày tàn đêm đến mênh mông,
Êm đềm im lặng tôi ôm lạnh lùng.


Ánh trăng bán nguyệt mông lung,
Ngàn sao lấp lánh muôn trùng trên cao.
Giờ nầy lòng thấy nao nao,
Bỏ bê tình Chúa làm sao quay về.


Lương tâm lên tiếng tỉ tê,
Bài học đồi tím Can-vê mong chờ.
Giê-su Anh Cả vẫn chờ,
Tỉnh đi kẻo phải bơ vơ ngày về,


Cha chờ Mẹ đời vỗ về,
Bí tích Hòa giải cận kề bên con.
Tìm về bên Chúa là hơn,
Tình thương của Chúa trải muôn ngàn đời.


         Nam Giao



Chuyện Tình Chuồn Chuồn


Thành phố nhỏ yên tĩnh và xinh đẹp, hai người yêu đắm say, mỗi bình minh đều đến bờ biển ngắm mặt trời mọc, và mỗi chiều đi tiễn bóng tà dương ở bãi cát. Dường như những ai đã gặp đôi tình nhân đều nhìn theo với ánh mắt ngưỡng mộ.

Một ngày, sau vụ đâm xe, cô gái trọng thương im lìm nằm lại trên chiếc giường bệnh viện, mấy ngày đêm không tỉnh lại.

Buổi sáng, chàng trai ngồi bên giường tuyệt vọng gọi tên người yêu đang vô tri vô giác; đêm xuống, chàng trai tới quỳ trong giáo đường nhỏ của thành phố, ngước lên thượng đế cầu xin, mắt không còn lệ để khóc than.

Một tháng trôi qua, người con gái vẫn im lìm, người con trai đã tan nát trái tim từ lâu, nhưng anh vẫn cố gắng và cầu xin hy vọng. Cũng có một ngày, thượng đế động lòng.

Thượng đế cho chàng trai đang gắng gượng một cơ hội. Ngài hỏi: "Con có bằng lòng dùng sinh mệnh của con để đánh đổi không?" Chàng trai không chần chừ vội đáp: "Con bằng lòng"

Thượng đế nói: "Ta có thể cho người con yêu tỉnh dậy, nhưng con phải đánh đổi ba năm hoá chuồn chuồn, con bằng lòng không?" Không chần chừ chàng trai vội đáp: "Con bằng lòng"

Buổi sáng, cánh chuồn rời Thượng đế bay vội vã tới bệnh viện, như mọi buổi sáng. Và cô gái đã tỉnh dậy!

Chuồn chuồn không phải người, chuồn chuồn không nghe thấy người yêu đang nói gì với vị bác sĩ đứng bên giường.

Khi người con gái rời bệnh viện, cô rất buồn bã. Cô gái đi khắp nơi hỏi về người cô yêu, không ai biết anh ấy đã bỏ đi đâu.

Cô ấy đi tìm rất lâu, khi cánh chuồn kia không bao giờ rời cô, luôn bay lượn bên người yêu, chỉ có điều chuồn chuồn không phải là người, chuồn chuồn không biết nói. Và cánh chuồn là người yêu ở trước mắt người yêu nhưng không được nhận ra.

Mùa hạ đã trôi qua, mùa thu, gió lạnh thổi những chiếc lá cây lìa cành, cánh chuồn không thể không ra đi. Vì thế cánh rơi cuối cùng của chuồn chuồn là trên vai người con gái.

Tôi muốn dùng đôi cánh mỏng manh vuốt ve khuôn mặt em, muốn dùng môi khô hôn lên trán em, nhưng thân xác quá nhẹ mỏng của chuồn chuồn cuối cùng vẫn không bị người con gái nhận ra.

Chớp mắt, mùa xuân đã tới, cánh chuồn cuống cuồng bay trở lại thành phố tìm người yêu. Nhưng dáng dấp thân quen của cô đã tựa vào bên một người con trai mạnh mẽ khôi ngô, cánh chuồn đau đớn rơi xuống, rất nhanh từ lưng chừng trời.

Ai cũng biết sau tai nạn người con gái bệnh nghiêm trọng thế nào, chàng bác sĩ tốt và đáng yêu ra sao, tình yêu của họ đến tự nhiên như thế nào, và ai cũng biết người con gái đã vui trở lại như những ngày xưa.

Cánh chuồn chuồn đau tới thấu tâm can, những ngày sau, chuồn chuồn vẫn nhìn thấy chàng bác sĩ kia dắt người con gái mình yêu ra bể xem mặt trời lên, chiều xuống đến bờ biển xem tà dương, và cánh chuồn chỉ có thể thỉnh thoảng tới đậu trên vai người yêu, chuồn chuồn không thể làm gì hơn.

Những thủ thỉ đắm say, những tiếng cười hạnh phúc của người con gái làm chuồn chuồn ngạt thở.

Mùa hạ thứ ba, chuồn chuồn đã không còn thường đến thăm người con gái chàng yêu nữa. Vì trên vai cô ấy luôn là tay chàng bác sĩ ôm chặt, trên gương mặt cô là cái hôn tha thiết của anh ta, người con gái không có thời gian để tâm đến một cánh chuồn đau thương, cũng không còn thời gian để ngoái về quá khứ.

Ba năm của Thượng đế sắp chấm dứt. Trong ngày cuối, người yêu ngày xưa của chuồn chuồn bước đến trong lễ thành hôn với chàng bác sĩ.

Cánh chuồn chuồn lặng lẽ bay vào trong nhà thờ, đậu lên vai người mà anh yêu, chàng biết người con gái anh yêu đang quỳ trước Thượng đế và nói : "Con bằng lòng!". Chàng thấy người bác sĩ lồng chiếc nhẫn vào tay người con gái. Họ hôn nhau say đắm ngọt ngào. Chuồn chuồn để rơi xuống đất một hạt lệ đau đớn.

Thượng đế hỏi: "Con đã hối hận rồi sao?" Chuồn chuồn gạt hạt lệ nói: "Con không!"

Thượng đế hài lòng nói: "Nếu vậy, từ ngày mai con có thể trở thành người được rồi!"

Chuồn chuồn soi vào hạt nước mắt nhỏ, chàng lắc đầu đáp: " Hãy để con cứ làmchuồn chuồn suốt đời..."
(Sưu tầm)



Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Câu chuyện về tình Anh - Em


Ngày xưa trong một ngôi làng nọ có hai anh em nhà nông tính tình rất chăm chỉ và siêng năng. Người anh đã lập gia đình, sống với vợ và con. Riêng người em vẫn còn độc thân. Khi cha mẹ họ qua đời, nhà cửa điền sản được chia đều cho hai anh em. Họ trồng lúa thơm và quả tần, đến vụ trúng lớn, nông sản thu hoạch được hai anh em chia đều và ai nấy chở về cất vào kho lẫm của mình. 

Đêm đến, người em nằm thao thức nghĩ thầm "Ta còn độc thân sống sao cũng được. Riêng anh hai ta vợ con đùm đề, tất nhiên cuộc sống sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Ta nên sớt một nửa nông sản mới thu hoạch đem biếu cho anh hai mới hợp lẽ". Càng nghĩ càng khó dỗ giấc, nằm lăn lộn mãi, người em sợ anh sẽ từ chối không chịu nhận phần mình nhường, nên ngay trong đêm, người em lén chở đồ tới bỏ vào kho của anh.

Người anh ngụ ở gần bên cũng không sao chợp mắt được. Do cứ mãi nghĩ: "Ta có vợ con, bề gì cũng dễ xoay sở. Còn chú nó có một thân một mình, sống bần hàn cô đơn. Ta là anh thì phải biết lo cho em mình chứ! Phải lấy một nửa nông sản trong kho ra chia cho chú nó mới được..."Ngẫm nghĩ,lại sợ em từ chối không chịu nhận, thế là nhân lúc trời chưa sáng người anh đã ba chân bốn cẳng mang đồ qua lén bỏ vào kho của em.

Sáng hôm sau, khi họ đến thăm kho thì thấy kho mình chẳng vơi đi chút nào, họ nghĩ: "Chắc mình nằm mơ thấy biếu tặng rồi tưởng đã làm". Thế là tối hôm sau họ lại tái diễn màn biếu lén biếu trộm như đêm trước.

Ngày thứ hai rồi thứ ba trôi qua, lần nào kiểm kho cũng thấy tràn đầy, thế là họ liên tục diễn lại động tác cũ. Để rồi mỗi sáng thức dậy, họ thắc mắc, ngỡ ngàng, kết luận chắc là mình..."Biếu trong mơ"

Đêm thứ năm, khi hai anh em lo mang đồ qua cho nhau thì họ trạm chán nhau giữa đường. Họ hiểu ra, buông rơi đồ và ôm chầm lấy nhau khóc ròng.
Từ đó hai anh em không phân chia, tách rời gì nữa, họ cùng sống chung với nhau trên mảnh đất cha mẹ để lại.

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Chiếc Nhẫn Kết Hôn


Trao Em chiếc nhẫn kết hôn,
Là Anh đã gởi tâm-hồn cho Em.
Khi xa, Anh nhớ ngày đêm,
Khi gần, Anh thấy thương thêm bội phần!
Dẫu rằng Mình có xa, gần,
Tình Mình vẫn thắm, trao thân trọn đời!
Cho dù trời, đất đổi dời,
Cho dù sóng gió cuộc đời truân-chuyên,
Đôi Mình vẫn trọn lời nguyền;
Chung chăn, chung gối, chung thuyền tình yêu!
Hiệp dâng lên Chúa sớm, chiều,
Tâm-hồn trong-trắng cao-siêu cuộc tình.
Khấn xin với Chúa Thiên Đình;
Cho cùng được hưởng trường sinh bên Ngài!


Joseph Duy-Tâm



Rộng Mở Tấm Lòng


Hãy ngước lên cảm tạ tình yêu Chúa
Ban cho đời những cây lúa trổ bông
Không ngần ngại bước đi trong ơn gọi
Áo chùng đen giải tội cho người đời


Hãy cúi xuống mà thương người khiếm khuyết
Đang đớn đau rên xiết giữa dòng đời
Đừng lưỡng lự nhận lời mời giúp đỡ
Cửa thiên đàng rộng mở đón thiện nhân


Hãy lắng nghe bước chân người tàn tật
Trên vỉa hè những khuôn mặt khổ đau
Tiếng than thở từ sau màn đêm xuống
Họ cô đơn mong muốn được tình người


Hãy chấp nhận những điều không thể nhận
Đừng để lòng buồn giận lúc bi ai
Mà thương cảm thiên tai vừa tàn phá
Người ngậm ngùi sỏi , đá cũng xót xa


Hãy thương mến trẻ em vừa mất mẹ
Không có cha vất vả sống từng ngày
Ông , bà lão hao gầy vì cơn bệnh
Đang khó khăn cố vịn hết kiếp người


Xin Chúa giữ cánh đồng thêm nở rộ
Cho con người tỉnh ngộ biết thương nhau
Người giàu có biết trao tình nhân loại
Kẻ lạc đường về lại với nhà Cha


Hãy thiện đãi bản thân mình từng phút
Để Chúa Trời chúc phúc bản thân ta


Sưu tầm