Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên Chúa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên Chúa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012

Ai đọc kinh Mân Côi sốt sắng thì có thể sai khiến được cả Thiên Chúa


Lịch sử Giáo Hội còn ghi đậm nét chiến thắng oai hùng của người Công Giáo tại vịnh LEPANT do sức mạnh của Kinh Mân Côi mang lại khi Âu Châu bị người Hồi Giáo tấn công ngày 7-10-1571. Ðể kỷ niệm muôn đời chiến công rực rỡ ấy Ðức Giáo Hoàng Piô V đã thiết lập ngày Lễ Kính Ðức Mẹ Mân Côi vào năm 1573. Ðời Giáo Hoàng Clemente XI đã cổ võ khắp Giáo Hội mừng Lễ kính trọng này. Ngược dòng Lịch sử, người ta thấy Thánh Tổ Phụ Ða Minh đã nhờ Kinh Mân Côi đập tan bè rối Albigense. Bởi vì "Kinh Mân Côi, theo Ngài, là cách cầu nguyện đẹp lòng Chúa Giêsu và Ðức Mẹ nhất". Thánh Bênađô Tiến Sĩ Mật của Ðức Mẹ cũng nói "Kinh Mân Côi có sức xua đuổi ma quỷ và làm cho hoả ngục kinh hoàng khi nghe Thánh Danh Maria". Các vị Ðại Thánh cũng thừa hiểu sức mạnh vô địch của vũ khí này nên đã hăng say cổ võ mọi người năng đọc Kinh Mân Côi như Thánh Phêrô Canisiô, Thánh Philiphê Nêri, Thanh Luy đệ Monpho. Ðức Leô XIII Giáo Hoàng của Kinh Mân Côi, rất năng đọc Kinh Mân Côi nơi công cộng và truyền bá kinh này khắp nơi. Năm 1938 Ðức Giáo Hoàng Piô XI ban ơn Ðại Xá cho những ai lần hạt Mân Côi trước Thánh Thể.



Kinh Mân Côi không những là khí giới vô địch đã từng gây thảm bại cho hoả ngục và bè lũ, mà còn mang lại bao chiến công rực rỡ nơi các tâm hồn chai đá, tội lỗi, khô khan. Ngày 10-3-1515, Cha OGILIE, vị thừa sai nổi tiếng phải bước lên đoạn đầu đài Glasgow vì tội rao truyền Phúc Âm. Trong giây phút cuối cùng này, từ trên máy chém nhìn xuống thấy hàng ngàn người đang theo dõi mình, muốn trao trối lại một kỷ vật và một bảo đảm Ðức Tin, vị Tử Ðạo đã lấy ra một kỷ vật cuối cùng còn lại trong mình: một Chuỗi Tràng Hạt và cố sức ném thật mạnh vào giữa biển người. Chuỗi Tràng Hạt rơi trúng một ông Hoàng Hung Gia Lợi John od Eckersdorff, người tin lành Calvin, đang trên đường chu du học hỏi bất ngời ghé qua Glasgow. Ông vội đưa tay thộp lấy báu vật này, lòng cảm kích. Chuỗi Mân Côi cứ theo sát ông đi mọi nơi cho tới ngày ông quyết từ bỏ Calvin trở về với Giáo Hội Công Giáo.

Theo Thánh Gioan Kim Khẩu, "Thiên Chúa cai trị vũ trụ, nhưng phải thua người cầu nguyện sốt sắng". Mà Thánh Phanxicô Salê lại nói: "Cách cầu nguyện sốt sắng nhất chính là đọc kinh Mân Côi... Ai đọc kinh Mân Côi sốt sắng thì có thể sai khiến được cả Thiên Chúa". Ðó chính là lý do chúng ta gọi kinh Mân Côi là khí giới vô địch vậy.

(NolaViet)


Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

Mẹ là đường đưa đến Hòa Bình

Chỉ có đường phần rỗi duy nhất


Các con yêu dấu, hôm nay, các con bắt đầu năm mới trong ánh sáng thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa của Mẹ. Mẹ là đường dẫn các con tới hòa bình.



Nhân loại ngày nay không thể xây dựng được hòa bình, vì nhân loại cố tình  chối bỏ Thiên Chúa. Bao lâu nhân loại còn tiếp tục chối từ Thiên Chúa và chống lại lề luật Người, bấy lâu sẽ không có hòa bình. Trái lại, ích kỷ và bạo lực sẽ gia tăng và chiến tranh sẽ tiếp tục trở nên ác liệt đẫm máu.

Rất có thể thế chiến thứ ba sẽ bùng nổ, đó là thế chiến có khả năng tiêu diệt phần lớn nhân loại một cách ghê sợ, nếu nhân loại quyết không trở về cùng Thiên Chúa.



Chúa đang sẵn sàng đổ thác Thương Xót xuống cả thế hệ lạc lõng đang bị đe dọa này, chỉ cần thế hệ này ăn năn trở về vòng tay nhân hiền của Cha.

Chính Mẹ đã ca hát Lòng Thương Xót Chúa trải qua "đời nọ đến đời kia dành cho những người kính sợ Chúa" (Bài ca Ngợi khen).

Và chỉ có trở về con đường yêu mến và kính sợ Chúa, các con mới có thể được cứu rỗi.

Trong ngày đầu năm mới này, khi các con đang hân hoan mừng kính mầu nhiệm làm Mẹ Thiên Chúa của Mẹ thì Mẹ thương xót nhìn xuống các con đáng thương của Mẹ. Lòng đầy thổn thức đau đớn, Mẹ khẩn khoản nài xin các con hãy trở về cùng Chúa, hằng ngày Người chờ đợi các con như người cha chờ đứa con hoang (...).

Mẹ xin các con hãy vận động một cuộc cầu nguyện đền tạ và hy sinh. Cùng với Mẹ, các con hãy kêu xin Chúa ban ơn trở lại cho các con cái lạc xa của Mẹ.

Các con hãy gia tăng khắp nơi những buổi họp Tiệc Ly cầu nguyện để xin Chúa đổ Lòng Thương Xót như sương sa xuống sa mạc vũ trụ mênh mông này. Và các con hãy chuẩn bị để chứng kiến những điều các con chưa từng thấy.

Mẹ là đường đưa đến Hòa Bình. Qua Mẹ, toàn thể nhân loại đã được kêu gọi để trở về cùng Thiên Chúa, vì chỉ có con đường hoàn toàn trở lại này, Trái Tim Mẹ mới có thể toàn thắng.

(Trích sách To The Priests Our Lady’s Beloved Sons)


Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

Đêm cuối năm - Sấp mình với Mẹ

Họ đang say sưa trống rỗng

Hỡi con, con hãy bắt đầu năm mới này với Mẹ bằng lời cầu nguyện.

Vào lúc này bao người đang đón mừng năm mới trong vui chơi mà phần lớn là trống rỗng và trái với phẩm giá của những người đã được Con Mẹ thương yêu và cứu chuộc!

 Những con cái đáng thương của Mẹ đang say sưa trống rỗng, họ bất hạnh chừng nào! 

Phần con, con hãy tỉnh thức, con hãy cầu nguyện cho họ. Với năm mới, thời gian quyết định đã gần: những biến cố vĩ đại đang chờ đợi các con.

Vì thế, hỡi con, con hãy bắt đầu năm mới bằng việc quỳ gối cầu nguyện với Mẹ.



Sấp mình với Mẹ

Các con yêu dấu, hãy tỉnh thức với Mẹ để cầu nguyện và để tĩnh tâm.

Hãy dùng những giờ cuối cùng năm này, năm đánh dấu những biến cố quan trọng và nặng nề, vì định mệnh của nhân loại. 

Hãy phủ phục với Mẹ trong hành vi thờ lạy thẳm sâu trước Thánh Thể Chúa Giêsu. Người hiện diện thực sự giữa các con trong Thánh Thể,

để tỏ ra tình yêu đối với các con trên trái đất,

soi sáng bước đường các con đi,

an ủi  khi các con mệt mỏi,

xức dầu thơm vết thương các con,

là niềm vui trong những đau buồn,

là bình an trong những lo âu,

là bình minh mở đầu ngày mới cho con người sinh sống.

Hãy phủ phục với Mẹ trong hành vi tạ ơn sốt sắng, vì tất cả những ơn lành đã ban xuống cho các con do Tình Yêu và sự Quan Phòng săn sóc của Cha các con trên Trời.

Chính là Cha các con đã sắp đặt mọi giây phút trong cuộc đời các con như để biểu lộ Tình Yêu và Lòng Thương Xót thần linh của Người. Các con đang sống trong thời buổi thực hiện kế hoạch lớn lao của Người. Ngay cả khi các con xa lánh Người, Người vẫnkhông bao giờ bỏ các con, nhưng sửa soạn, chờ đợi, và đem các con hoàn toàn trở về với Người.

Lòng Thương Xót thần linh của Người như sương mát trên trời mưa xuống làm cho trái đất quá khô cằn này trở nên màu mỡ, và làm cho sa mạc các con đang sống nở bông thánh thiện và đầy sức sống. 

Các con sống vào thời mà phép lạ của Lòng Thương Xót Chúa đang diễn ra cho mọi người.

Hãy coi nhân loại sa ngã và bị thương tích, bị rách nát và thất bại, đe dọa và hoạn nạn, bệnh tật và dãy chết. Tự mình, thế giới không thể chỗi dậy được, trừ khi Lòng Thương Xót vĩ đại nâng nó dậy. 

Thời giờ đã đến, khi Cha trên trời sẽ giơ tay nâng lên và cứu vớt khỏi sự dữ, Người sẽ chữa lành và đem nó về vườn vui vẻ.  

 Hãy phủ phục với Mẹ trong hành vi đền tạ, vì những xúc phạm vô vàn, đã phạm đến Thánh Thần của Chúa Cha và Chúa Con.

Người kêu gào trong các con bằng những tiếng kêu gào thống thiết.

Biết bao tội ác vẫn phạm hằng ngày trên thế giới.

Luật của Thiên Chúa vẫn bị xúc phạm công khai.

Danh Thánh Người bị phạm thượng.

Ngày của Người bị tục hóa.

Giá trị của sự sống không còn được tôn trọng.

Số thai nhi bị phá cứ tăng lên mãi mãi. Họ giết người và phạm tội ác, ghen ghét và bạo động lan tràn. Chiến tranh tàn bạo và đẫm máu đột nhiên bùng nổ, đe dọa nền hòa bình toàn nhân loại.

 Thời nay, có biết bao nhiêu tội phạm chống lại Chúa Thánh Thần.

Chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện, với lòng khiêm tốn và tin cậy, nài xin ơn Chúa Thánh Thần ban xuống như sương mát, để tẩy rửa trái đất và đổi mới cả địa cầu.

Đừng dùng những giờ cuối cùng của năm này trong ồn ào và lãng phí.

 Hãy phủ phục với Mẹ trong sự cầu nguyện và thờ lạy, tạ ơn và đền tạ để xin Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần rút ngắn thời gian thử thách lớn lao mà các con đang sống, để đi vào kỷ nguyên mới đang chờ các con.

(Trích sách To The Priests Our Lady's Beloved Sons)


Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011

Thánh Giuse và Đức Mẹ lên đường xuôi Nam


Quán trọ không có chỗ cho các Ngài
Và Đức Mẹ sinh Chúa Cứu thế!


Khi Mẹ Maria đã gần tới ngày sinh, hoàng đế Rôma ban bố sắc lệnh truyền mọi người dân trong toàn đế quốc phải ghi tên vào Sổ Kiểm tra tại quê tổ của mình. Thánh Giuse và Mẹ, dù rất phiền lòng, nhưng phó thác mọi sự cho Thiên Chúa, và vui vẻ lên đường về miền Nam.

Bấy giờ là mùa đông, cuộc hành trình trở nên mệt nhọc. Vì Đôi Bạn Thánh nghèo, nên các hàng quán dọc đường xử tệ. Họ để hai vị phải nằm ngoài cửa, hoặc có lần còn dồn xuống những căn phòng nhơ bẩn; có nơi bắt ở chung với súc vật.

Sau năm ngày dài vất vả trên đường, Thánh Giuse và Mẹ đến Belem. Hai Người đi từ nhà nọ sang nhà kia xin tạm trú, nhưng người ta đều xua đuổi. Cả những chỗ thân thuộc bà con cũng khinh chê. Tính ra có tới 50 nhà, hai Đấng đến xin trọ qua đêm mà không được.



Khoảng chín giờ đêm. Thánh Cả Giuse vừa mệt mỏi vừa buồn sầu; Người không biết có còn nơi nào tạm ở được nữa, ngoài một cái hang đá ngoài thành. Mẹ Maria khuyên Người cứ vui lên mà đi. Hang này khốn khó đến nỗi ở Belem bấy giờ dù đầy dẫy người, nhưng không ai thèm ra trú ở nơi đó. Khi vào tới hang, Mẹ và Thánh Cả liền quỳ xuống, vui mừng tạ ơn Chúa.

Mẹ bắt tay ngay vào việc quét dọn hang cho sạch sẽ. Tiết  trời lạnh lắm, nên Thánh Giuse nhóm lên một đống lửa, xin Đức Thánh Nữ Trinh dùng với mình một chút lương thực. Sau khi chuyện vãn với Bạn Thánh mình một lúc, Mẹ giục Thánh Giuse đi nghỉ. Người lấy áo Người mang theo trải trên một cái máng khá rộng đặt trên nền đá hang, để làm chỗ nghỉ đêm cho Mẹ.

Mẹ quỳ bên máng cỏ, chắp tay trước ngực, mắt ngước lên trời, hồn trí cắm chặt vào Thiên Chúa, chính lúc đó là lúc Mẹ sinh Ngôi Lời  giữa lúc nửa đêm.

Chúa sinh ra khỏi lòng Mẹ như một tia sáng mặt trời thấu qua thủy tinh không làm hại sự đồng trinh của Mẹ.

Khi ấy các thiên thần đồng thanh mừng hát: "Sáng danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới  thế cho người lòng ngay".

Sau đó, Mẹ Maria thờ lạy Chúa cao cả, rồi gọi Thánh Giuse đến thờ lạy Chúa. Thánh Giuse mang khăn áo đến, Mẹ cuốn cho Hài Nhi, rồi Mẹ đặt Chúa trong máng cỏ mà Mẹ đã phủ lên một lớp cỏ khô. Trong lúc đó, theo lệnh Chúa, một con bò từ ngoài đồng chạy vào, hợp sức với con lừa nhỏ Mẹ đem theo, cả hai phục xuống trước Đấng Sáng Tạo chúng, thở hơi cho bớt lạnh.

Lời Mẹ nhắn nhủ:

Con hãy trọng ý kiến người khác hơn ý kiến con, và nhắm mắt lại tuân phục các bề trên và linh hướng của con, cả khi con biết rằng nếu theo lời các Người, kết quả sẽ ngược lại.

Ngoài ra, Mẹ còn ước mong con sẵn lòng chịu thế gian khinh chê ghét bỏ như Mẹ ở Belem. Được loài người kính nể, con có lợi gì và bị người đời chê khinh con có mất mát gì không? Đó chỉ là giả dối, là một chút bóng mau qua.

Con hãy giữ lòng con độc lập và siêu thoát mọi sự. Con hãy ở một mình con với một mình Thiên Chúa.

Trích sách Thần đô Huyền nhiệm
(Mary: The Mystical City of God)
 


Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Đức Bà là Cửa Thiên Đàng - Cửa đã mở


"Các con yêu dấu, Vui lên, vui với cả Thiên Đàng, hôm nay đang chiêm ngắm trong ánh sáng thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi, vẻ huy hoàng rực rỡ của Mẹ Thiên quốc. Mẹ là Đấng Vô nhiễm Nguyên Tội. Mẹ là phản ảnh tinh tuyền nhất của ánh sáng, của tình yêu, và sự thánh thiện của Thiên Chúa. Mẹ hoàn toàn đẹp đẽ (tota pulchra). Vì thế, Mẹ sẵn sàng làm trọn nhiệm vụ người mẹ đồng trinh là Cửa Thiên Đàng".

- Mẹ là Cửa mở niềm hy vọng:  Chính lúc nguyên tổ phạm tội, loài người biết sự thất sủng và phải chết, vì rắn quỷ đã thắng. Mẹ được tiên báo  như là Cửa mở ra cho thế giới: "Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người nữ, giữa dòng dõi mi và dòng giống người nữ. Bà sẽ đạp nát đầu mi, trong khi mi cố cắn gót chân Bà" (St 3,15).

- Mẹ là Cửa mở để ban Ơn lớn nhất:  Bằng sự cộng tác từ mẫu của Mẹ, Chúa Giêsu, Đấng Cứu thế đến với các con, lúc Người được sinh vào đời. Chính Người là Dòng dõi chiến thắng. Người sẽ mãi mãi đạp nát đầu con rắn, và mang lại chiến thắng thật trên quỷ Satan, trên sự dữ và trên sự chết.

Mẹ là Mẹ của Mùa Vọng đầu tiên, vì Mẹ là Cửa Thiên Đàng, qua Cửa này, Chúa Giêsu đến với chúng con trong bản tính nhân loại mỏng dòn và khiêm hạ.



- Mẹ là Cửa ban cho chúng con Ơn Cứu độ: Vì chúng con phải qua Cửa này để từng cá nhân đến gặp gỡ Thiên Chúa. Vì vậy, Chúa Giêsu đã đặt Mẹ làm Mẹ thật của cả loài người. Chỉ qua Cửa này, các con mới có thể vào vườn Thiên Đàng bằng sự hãm mình và thống hối, bằng đức tin và cầu nguyện, bằng khiêm tốn và trong sạch, bằng bác ái và thánh thiện. Trong vườn của Mẹ đây này, mỗi ngày, Chúa Giêsu rất vui mừng gặp các con. Chúa Giêsu gặp các con bằng với ơn thánh của Người, soi sáng cho các con bằng Lời của Người, đồng hóa các con qua Thánh Thể hiện diện thực sự của Người, đổ đầy linh hồn các con với sự sáng láng thần linh của Người, làm cho tâm hồn các con tràn niềm vui và bình an của Người.

- Mẹ là Cửa mở ra thời đại mới: Thời đại đang chờ các con, và đang đến với thế giới. Vì vậy, Mẹ được gọi là Mẹ của Mùa Vọng thứ hai. Cũng như xưa, Chúa Giêsu nhờ Mẹ mà đến với chúng con qua bản tính nhân loại mỏng dòn và khiêm tốn, thì ngày nay, qua Mẹ, Chúa Giêsu sẽ đến với chúng con trong vinh quang huy hoàng, để tái lập Vương quốc của Người trên trần gian.

Sự hiện diện của Mẹ giữa các con, ngày càng mạnh mẽ, liên tiếp và ngoại thường. Qua sự hiện diện ấy, Mẹ muốn nói với các con rằng: Các con phải ngẩng đầu lên khỏi những ách nặng nề là những tai họa lớn lao chúng con đang sống, vì giờ giải thoát đã gần tới.

- Mẹ là Cửa mở ra thời đại mới đang chờ các con: Tất cả các con, hãy vào trong Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ bằng sự tận hiến mình cho Mẹ, trong thời kì Mùa Vọng thứ hai này, hãy tỉnh thức và cầu nguyện với lòng tin cậy, chờ đợi với đuốc sáng, chờ đợi Chúa Giêsu đang đến trong vinh quang, chờ đợi bên trong Cửa Thiên Đàng của Mẹ Thiên quốc các con.

(xuanha.net)


Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

Phải tha thứ luôn luôn


Sống ở trên đời, ai cũng mong ước mình gặp được nhiều sung túc, hạnh phúc và nhất là gặp được nhiều may mắn thành công. Ai cũng muốn là mình gặp được mối tình thông cảm cho đến đỉnh cao của tiền tài, danh vọng. Ai cũng sợ thất bại, sợ gian khổ cùng cực cất đầu không lên được với những người xung quanh. Dù rằng ai cũng tự an ủi mình bằng câu: "Thất bại là mẹ thành công". Ðau khổ nhiều, con người mới thấy giá trị đích thực của hạnh phúc. Có gian nan vất vả nhiều, con người mới cảm thấy giá trị của đau khổ, mới đánh giá chính xác về sự thành công từ những nhẫn nhục, chịu đựng, âm thầm làm việc sau bao nhiêu ngày tháng. Nếu như con người từ nhỏ đến lớn sống hoàn hảo như một vị thánh, người ấy chưa chắc đã cảm thấy mình hạnh phúc nếu không phải là người đặc biệt Thiên Chúa gìn giữ. Vì thế theo thông thường chúng ta không ai thoát khỏi những lầm lỗi, không khía cạnh này thì vướng mắc khía cạnh khác, không nặng thì nhẹ, không phải khuyết điểm lầm lỗi nặng hay nhẹ, cố tình hay vô tình nhưng quan trọng là chúng ta có nhận ra được khuyết điểm sai lỗi của chính mình hay không? Và khi nhận ra được khuyết điểm sai lỗi ấy, chúng ta có sửa đổi, rút kinh nghiệm cho lần sau hay không?



Trong bài Tin Mừng của thánh sử Mátthêu (Mt 18,12-14), Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Nếu ai trong các ngươi có một trăm con chiên mà bị lạc mất một con thì người đó không bỏ chín mươi chín con trên núi để đi tìm con chiên lạc ấy sao?". Ðó là điều an ủi cho chúng ta, vì khi lầm lỗi, con người thường ít khi tha thứ hoặc có tha thứ cho nhau thì vẫn có thành kiến không tốt về người đó, nghĩa là chúng ta có ý nghĩ không tốt, bớt sự niềm nở tự nhiên trước đó.


Từ thái độ đó thường làm cho người có lỗi mang một tâm trạng tự ti mặc cảm, vì dù sao đi nữa thì trong tâm trạng đó con người cũng không có cái nhìn hồn nhiên, vui vẻ lạc quan yêu đời như trước khi họ chưa lầm lỗi. Khi đã sống trong tình trạng nghi kỵ lẫn nhau, nhìn nhau không thân thiện, chúng ta sẽ mắc vào một câu nói của một triết gia nọ: "Tha nhân là hỏa ngục của tôi". Ai cũng nhìn nhau bằng cặp mắt hận thù, ganh tị, hững hờ, chê bai lẫn nhau. Bao nhiêu cặp mắt hận thù, ganh tị, hững hờ, chê bai lẫn nhau. Bao nhiêu cặp mắt hình như cứ soi mói vào chúng ta, xét xem để rồi bắt lỗi chúng ta thì chẳng hỏa ngục là gì? Có bị như thế chúng ta mới cảm nghiệm được tình yêu bao la dung thứ của Thiên Chúa đối với chúng ta hôm nay: "Người chăn chiên sẽ bỏ chín mươi chín con trên núi để đi tìm con chiên lạc, khi tìm được rồi người chăn chiên sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không bị lạc".


Thiên Chúa đã dạy chúng ta không những phải tha thứ cho nhau bảy lần mà là bảy mươi lần bảy, nghĩa là phải tha thứ luôn luôn. Và trong một đoạn Tin Mừng khác Chúa Giêsu nói: "Nếu trong một ngày người anh em con phạm đến con bảy lần và bảy lần người ấy đến nói với con rằng tôi hối hận thì con cũng phải tha cho nó". Khi thấy điều đó khó thực hiện được nên người môn đệ của Chúa đã thưa: "Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con". Ðó là Lời Chúa nhắn nhủ dạy bảo chúng ta, còn đối với Thiên Chúa Ngài càng phải khoan dung tha thứ hơn, yêu thương chúng ta nhiều hơn nữa bằng một tình thương tha thứ vô cùng.


Trong dụ ngôn "Người Con Hoang Ðàng Trở Về" sau những tháng ngày ăn chơi trác táng thì bấy giờ nó suy nghĩ và thành tâm ăn năn thống hối trở về để xin cha tha thứ. Nhưng khi nhìn thấy con từ đàng xa, chưa kịp nghe con nói lên lời xin lỗi thì người cha đã bảo gia nhân đem áo mặc cho cậu, lấy nhẫn đeo vào tay cậu. Qua những cử chỉ yêu thương mặn nồng như thế đã nói lên tình thương của cha vẫn luôn luôn yêu thương con cái và người cha vẫn coi cậu như người con trong nhà. Vì thế, ông nói với gia nhân hãy làm thịt con bê béo để mừng con đã chết nay được sống lại. Tình thương của người cha bao la đã bỏ qua tất cả mọi lỗi lầm của đứa con hoang đàng trở về.


Trong đoạn Tin Mừng nói về một người mắc nợ ông vua như sau: Có một người mắc nợ ông vua kia đến mười ngàn nén bạc nhưng anh không có gì để trả nợ. Chủ ra lệnh bán anh và vợ con cùng tất cả gia sản anh để trả nợ. Anh liền sấp mình xuống dưới chân chủ mà van lơn: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn rồi tôi sẽ trả cho ngài tất cả". Người chủ động lòng thương trả tự do và tha nợ cho anh ta. Khi ra về anh ta gặp một người bạn mắc nợ anh ta một trăm nén bạc, anh ta tóm lấy bóp cổ người ấy mà nói: Hãy trả nợ cho ta, khi ấy người bạn sấp mình dưới chân và nói: Cho tôi khất một kỳ hạn. Nhưng anh ta không nghe, bắt người bạn đó tống giam vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Người xung quanh thấy cảnh tượng thương tâm đó thuật lại với người chủ và người chủ đã bắt trao anh cho lý hình hành hạ cho đến khi trả hết nợ một ngàn nén bạc của anh.


Chúng ta đôi khi cũng thế, lòng Chúa khoan dung yêu thương, tha thứ cho chúng ta không biết bao nhiêu, vậy mà đối với anh em ta lại xét nét, chê bai, xử tệ, không tha thứ cho nhau dù chỉ là những lầm lỗi không đáng kể gì trước mặt Chúa là người Cha đầy tình thương dung thứ.




Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con cảm nhận được lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa để chúng con đáp lại tình thương nhỏ bé của chúng con đối với Ngài. Xin Chúa cho chúng con biết tha thứ cho nhau không những bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy, nghĩa là tha thứ cho nhau luôn luôn trong suốt cuộc sống. Amen.



(Đài Chân Lý Á Châu)




Thứ Bảy, 12 tháng 11, 2011

Tín thác vào Thiên Chúa


Tuần báo Công Giáo Dân Tộc số ra ngày 15/10/1995 ở Mục Trong Tuần, có ghi một sự kiện như sau: Trong 4 năm thực hiện pháp lệnh tối cao của công dân được Hội Ðồng nhà nước ban hành ngày 7/5/1991, riêng tại Thành phố Sàigòn có 36 đơn vị chức năng đã nhận được 11.635 đơn từ, trong đó có tới 81,5% đơn từ tố cáo khiếu nại về nhà cửa, đất đai. Theo số liệu chưa đầy đủ, đơn từ tố cáo khiếu nại còn tồn đọng chưa giải quyết là 6.520 đơn. Bài báo đưa ra đề nghị: "Ðể có thể giải quyết rốt ráo những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của mọi người dân khi quyền lợi chính đáng của mình bị xâm phạm, quyết định cuối cùng của Ủy ban nhân dân các cấp chưa đủ thuyết phục, cần có một tòa án xét xử công minh".

"Cần có một tòa án xét xử công minh", lời kêu gọi trên đây không biết có nhắm đến những trường hợp quan trọng hơn, trong đó không chỉ có cái nhà mảnh đất, mà chính sự sống còn của biết bao người bị trù dập mà chẳng hề được đem ra xét xử hay không? Cần có một tòa án xét xử công minh, thiết tưởng đó là tiếng kêu cầu bình thường của người dân mỗi khi quyền lợi của họ bị vi phạm. Quả thật, công lý vẫn tiếp tục kêu la cho tới khi nào được thực thi. Nhưng đối với biết bao nạn nhân, nhiều khi người ta chỉ còn biết kêu Trời, mà Trời thì có thấu chăng? Nhiều khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi vì những tiếng kêu cầu của chúng ta: Thiên Chúa dường như vẫn câm lặng trước những bất công mà những kẻ vô tội trên khắp thế giới đang phải gánh chịu.



Chúa Giêsu thấu hiểu được tâm trạng ấy của chúng ta, cho nên trong Tin Mừng thánh sử Luca (Lc 18,1-8), Ngài kêu gọi chúng ta hãy tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa. Lý luận của Ngài trong dụ ngôn về một quan tòa bất công thật đơn giản: nếu quan tòa bất lương đến độ không kính sợ Thiên Chúa cũng chẳng kính nể người ta, mà còn phải chịu thua trước lời van vỉ của một bà góa, thì huống chi Thiên Chúa, Ðấng trọn hảo và yêu thương con người. Chúng ta tưởng Thiên Chúa câm lặng và vô cảm trước nỗi khổ đau và lời kêu cầu của con người; thật ra, công lý của Thiên Chúa không phải là công lý của loài người, lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa không phải là lẽ khôn ngoan mà chúng ta có thể thẩm định được theo tiêu chuẩn của loài người. Tư tưởng của Thiên Chúa không phải là tư tưởng của loài người. Quyền năng và tác động của Ngài vượt trên mọi tính toán, cân lường, suy tưởng và chờ đợi của chúng ta.

Ðó là ý tưởng chúng ta cần nhận ra trong Tin Mừng hôm nay. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đi vào mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương con người bằng một tình yêu mà con người không thể hiểu thấu được, do đó, không có tâm tình và thái độ nào phải đạo hơn là phó thác cho Thiên Chúa. Phó thác như Chúa Giêsu đã sống chính là biết đón nhận ý muốn của Thiên Chúa, ngay cả và nhất là khi phải trải qua nghịch cảnh, thất bại, khổ đau; phó thác như Chúa Giêsu đã sống chính là luôn tin rằng từ những mất mát, đổ vỡ và ngay cả từ tội lỗi và sự chết, Thiên Chúa vẫn luôn có thể rút ra những điều tốt đẹp cho con người.

Nguyện xin Chúa đừng để chúng ta phải rơi vào thất vọng.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết chạy đến với Chúa trong mọi hoàn cảnh: dù hạnh phúc hay đau khổ. Chúng con luôn có một thái độ tín thác và kiên nhẫn. Xin soi sáng cho chúng con, để chúng con luôn xác tín rằng Chúa luôn lắng nghe và làm những điều tốt nhất cho chúng con. Xin cho chúng con luôn vui vẻ đón nhận tất cả từ Chúa trong bình an và tin tưởng phó thác. Amen.

(Đài Chân Lý Á Châu)


Thứ Tư, 9 tháng 11, 2011

Thể hiện của tự do đích thực


Trong suốt nhiều thế kỷ, người Do thái đã phải còng lưng dưới sức nặng của lao động khổ sai bên Ai Cập. Dưới sự lãnh đạo của Môsê, Thiên Chúa đã giải phóng họ và đưa họ vào vùng đất tự do. Ðể đánh dấu cuộc giải phóng khỏi các thứ khổ sai đó, Thiên Chúa đã thiết lập một ngày trong tuần như ngày Hưu Lễ. Ðó là lý do tại sao người Do thái đã trân trọng tuân giữ ngày Hưu lễ. Nó chính là biểu trưng của tự do, bởi vì thời nô lệ, bẩy ngày trên bẩy ngày, người Do thái không thể có được một ngày nghỉ ngơi. Như vậy, nghỉ ngơi là dấu chỉ của tự do, và đó là ý nghĩa nguyên thủy của ngày Hưu lễ.

Thế nhưng, dần dà qua dòng thời gian các nhà thần học Do thái đã thay đổi ý nghĩa ấy của ngày Hưu lễ: thay vì là biểu tượng của tự do, họ đã biến ngày Hưu lễ thành một gánh nặng đầy đọa và trói buộc con người; họ đã kéo dài ngày Hưu lễ thành một bản kê khai tỉ mỉ những gì không được phép làm trong ngày Hưu lễ và như vậy dấu chỉ của tự do giờ đây chỉ còn là một hình thức nô lệ mới đối với người Do thái: thay vì là dấu chỉ của tự do đưa con người vào gặp gỡ với Thiên Chúa, ngày Hưu lễ đã trở thành một gánh nặng chồng chất trên vai con người, nhất là làm cho con người xa cách Thiên Chúa.

Ðó cũng là tình trạng của lề luật nói chung thời Chúa Giêsu. Luật lệ không còn là vì con người, nghĩa là giải phóng con người, mà trở thành gánh nặng đè bẹp con người và tách lìa con người khỏi Thiên Chúa; con người chú tâm thi hành lề luật hơn là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Thái độ của 9 người phong cùi người Do thái trong Tin Mừng thánh sử Luca (Lc 17,11-19) phản ánh tâm thức chung của người Do thái thời đó. Chúa Giêsu chữa lành 10 người phong cùi, trong đó chỉ có một người Samari không phải tuân hành luật Do thái. Theo đúng đòi hỏi của lề luật, Chúa Giêsu đã yêu cầu 9 người Do thái đến trình diện các tư tế để được xác nhận là đã khỏi bệnh, riêng người Samari không phải tuân giữ điều đó, nhưng đây lại là người duy nhất trở lại cám ơn Chúa Giêsu và ngợi khen Thiên Chúa.



Câu truyện trên cho chúng ta thấy luật lệ đã cản trở con người đến gặp gỡ Chúa Giêsu và cảm tạ Thiên Chúa. Người Samari vì không bị chi phối bởi lề luật, nên đã được tự do để nói lên tình cảm chân thật của mình, người này gần với tôn giáo đích thực bởi vì ông có tự do hơn. Thiên Chúa thi ân một cách nhưng không thì con người cũng phải đáp trả một cách tự do. Một tương quan như thế không thể có được trong một xã hội lề luật, trong đó con người chỉ biết tính toán theo thứ công bình hoán đổi. Người Do thái vốn quen thuộc với tâm thức ấy, họ tính toán chi ly về công đức của mình, họ lượng giá phần thưởng dựa trên công nghiệp của mình. Chúa Giêsu đã đánh đổ một quan niệm như thế về tương quan giữa con người và Thiên Chúa: ơn cứu rỗi mà Ngài loan báo và thực hiện là ơn cứu rỗi nhưng không, đến độ con người chỉ được cứu độ nhờ lòng tin vào lòng từ bi của Thiên Chúa, đến độ những kẻ tội lỗi là những người đầu tiên được vào Nước Chúa.

Ngày nay, có lẽ nhiều người chúng ta cũng giống như 9 người phong cùi Do thái trong Tin Mừng của thánh Luca. Họ đã bị lề luật giam hãm trong Ðền thờ để không còn có thể nói lên lời tạ ơn đối với Ðấng đã thi ân cho mình; họ xem lề luật trọng hơn điều thiết yếu của niềm tin là lòng biết ơn và niềm tín thác. Cũng như họ, có lẽ chúng ta đã tỏ ra trung thành một cách chi ly với luật Hội Thánh, nhưng nhiều lúc chúng ta vẫn còn tự hỏi: Tôi phải đọc bao nhiêu kinh? Tôi phải lần bao nhiêu chuỗi? Tôi phải ăn chay bao nhiêu lần? Tôi phải bố thí cho bao nhiêu người nghèo khó? Tính toán như thế là quên rằng Thiên Chúa như Chúa Giêsu mạc khải là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài ban ơn cho chúng ta hơn cả những gì chúng ta chờ đợi và tính toán. Một Thiên Chúa như thế, con người không thể có một tâm tình nào xứng hợp hơn là lòng tri ân, niềm tín thác. Ðó là sự thể hiện của một tâm hồn tự do đích thực, nhờ đó con người có thể vượt qua bốn bức tường nhà thờ để không ngừng gặp gỡ Chúa trong cuộc sống mỗi ngày.
Lạy Chúa, hình ảnh người phong cùi ngoại giáo sau khi được chữa lành đã quay trở lại tôn vinh Thiên Chúa, làm cho chúng con phải suy nghĩ. Chúng con được lãnh nhận biết bao ơn lành của Chúa: được làm con Chúa, được Chúa cứu chuộc, được chăm sóc dưỡng nuôi. Trong khi có biết bao anh chị em chưa được biết Chúa... Vậy mà chúng con đã vô ơn khi chúng con đã coi thường, bỏ phí những ân huệ ấy. Xin Chúa thay đổi con người chúng con, giúp chúng con tin tưởng vào Chúa. Ðể trong mọi hoàn cảnh chúng con biết nhận ra tình yêu của Chúa và nói lên lời cảm tạ tri ân. Amen.

(Đài Chân Lý Á Châu)


Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2011

Món quà cho tương lai


"Hãy dạy đứa trẻ đi con đường nó phải đi, để đến tuổi già, nó vẫn không lìa bỏ". (Châm ngôn 22,6)

Tôi nghiệm ra rằng việc chăm sóc bệnh nhân bị ung thư là một công việc đầy khó khăn. Nỗi khó khăn quen thuộc của riêng tôi trong việc làm mẹ của hai đứa con trong tuổi thanh xuân chắc hẳn là một trò tiêu khiển đáng yêu. Bất cứ khi nào bắt đầu nghĩ đến những gì liên quan đến bằng lái, giờ giới nghiêm, thứ hạng và áp lực địa vị xã hội đang áp đảo, tôi lại nhớ những gì Rebekah phải đối phó với lòng dũng cảm khiến tôi thấy những vấn đề của mình xem ra chẳng còn khó khăn chút nào!

Tôi nhớ đến ngày cô được nhận vào khu điều trị. Khi tôi duyệt lại những giấy tờ nhập viện, tôi ngạc nhiên đọc thấy cô mới 32 tuổi, được nhận vào điều trị bằng hóa chất để chữa bệnh ung thư vú đã được chẩn đoán hai tuần trước. Tôi bước vào và tự giới thiệu, còn Rebekah đôi mắt long lanh đầy tình yêu thương và lúc lắc mái tóc buộc đuôi ngựa, cô giới thiệu tôi với Warren - chồng cô - và hai con gái: Ruthie lên sáu và Hannah lên bốn. Molly, cô bé thứ ba lên hai tuổi đang nằm đu đưa trên hai chân bắt chéo của mẹ nó. Trong khi tôi điền đơn thì Rebekah mở chiếc va-li của cô, một cái khăn len quàng cổ của bà nội cô đan, một tấm áp phích vui nhộn của nhà thờ, một bức ảnh chân dung của gia đình và bên cạnh đó là cuốn Kinh Thánh cũ rách. Warren tập họp các cô con gái lại để chuẩn bị đi đón bà nội tại phi trường. Tôi giải thích với cô:

- Tôi cần chích cánh tay cô để vào hóa chất.

Giọng Rebekah run run và đôi mắt đẫm lệ:

- Tôi sẽ chịu đựng tất cả để được khoẻ lại cho chồng và các con tôi. Tôi có thể bị ói mửa, rụng tóc và mệt nhọc nhưng tuyệt đối không sợ chích!

- Vâng, cô có thể khóc nhưng đừng cử động.

Khi chiếc kim lướt nhẹ vào mạch máu, Rebekah lớn tiếng đọc:

- Chúa là mục tử tôi, tôi không thiếu thốn gì.

Khi việc truyền hoá chất đã hoàn thành tốt đẹp, Rebekah hỏi:

- Cô thích đoạn Kinh Thánh nào?

- Gioan 11,35, Chúa Giêsu khóc.



Cô trả lời với vẻ u sầu:

- Ôi! Đó là một đoạn buồn thảm...

- Đoạn Kinh Thánh đó đem lại cho tôi niềm an ủi vì biết rằng Chúa Giêsu buồn sầu khi thấy sự dữ xảy ra cho dân Ngài. Nó chứng tỏ cho tôi thấy Nhân Tính của Ngài là điều tôi cần biết khi chăm sóc người bệnh. Tôi biết Ngài có thể và sẽ chữa lành bệnh tật, nhưng để được trở lại mạnh khoẻ thì có thể gặp những phút giây buồn nản. Vì thế, tôi biết Ngài có mặt ở đó để nâng đỡ tôi trong những lúc ấy, để tôi có thể nâng đỡ các bệnh nhân.

Rebekah trả lời:

- Tôi phải chấp nhận những ý tưởng đó.

Mười tám tháng sau, Rebekah phải thường xuyên vào hoá chất và xạ trị. Một lần chiêu tia X quang vùng ngực cho thấy ung thư đã di căn không còn thuốc nào ngăn chặn được. Tôi có thể làm gì để nâng đỡ cô trong thử thách mới này? Tôi vào phòng Rebekah và thấy bừa bộn những giấy tờ, băng cassettes và một máy ghi âm. Cô bảo tôi:

- Chị Nan này, tôi đang ghi âm cho các con gái tôi để chúng biết tôi cảm thấy gì, nghĩ gì và khuyên chúng điều gì vào những dịp đặc biệt. Tôi không muốn chúng quên tôi. Chị có đề nghị nào khác không?

Tôi liếc nhìn bản liệt kê của cô: Ngày đầu tiên đến trường, bước vào tuổi mười sáu ngọt ngào, cuộc hẹn hò thứ nhất, nụ hôn đầu đời, ngày chịu phép Thêm sức... Cô để cho tôi nghe những cuộn băng đầy xúc động với những lời khuyên nhủ, khuyến khích và yêu thương của người mẹ. Mỗi khi ngày càng yếu hơn, cô đánh dấu vào những lời ghi chú của cô. Rebekah giải thích cho những cô con gái còn nhỏ rằng cô đang ghi lại những cuốn băng đặc biệt để bố chúng giữ lại dành cho chúng sau này. Cô nói cô sẽ trở về sống với Chúa và giúp Ngài chuẩn bị nơi ở cho chúng khi chúng về già. Tất cả chúng tôi biết giờ phút cuối cùng đang đến gần. Đang lúc ở nhà, tôi kinh ngạc nhận được cú điện thoại do cô y tá gọi đến. Cô ta bảo rằng Rebekah nài nỉ, van xin tôi đến đem theo một băng cassette còn mới. Điểm lại trong trí tất cả những cuộn băng đã ghi, tôi không đoán được còn chủ đề nào bị bỏ sót.

Bước vào phòng Rebekah, tôi thấy cô đang thở hổn hển trong tình trạng rất nguy ngập, cô cố gắng nói:

- Chị Nan, chị có đem theo băng cassette không?

Tôi trả lời:

- Cô hãy cố hít một hơi thật sâu. Dĩ nhiên là tôi đem theo.

Khi tôi chuẩn bị máy ghi âm, cô giải thích:

- Đây là cuốn băng quan trọng nhất của tôi:

Tôi để micro sát miệng và cô bắt đầu:

- Ruthie, Hannah và Molly, một ngày nào đó bố các con sẽ đưa về nhà một người mẹ mới. Má muốn các con làm cho người mẹ ấy cảm thấy mình rất đặc biệt. Các con sẽ làm cho má hãnh diện nếu các con ngoan ngoãn, kiên nhẫn và nâng đỡ người mẹ ấy khi vất vả chăm sóc cho từng đứa trong các con. Hãy giúp bà dọn bàn. Hãy vui vẻ đem đến cho bà những cây bồ công anh để cắm vào chiếc bình đặc biệt. Quan trọng nhất là các con hãy thường xuyên ôm hôn lấy người mẹ ấy. Má xin các con đừng đau buồn nhiều. "Chúa Giêsu đã khóc" Ngài biết các con buồn thế nào và Ngài biết các con sẽ lại được hạnh phúc thế nào. Má yêu các con lắm Hannah, Ruthie và Molly ơi! Hôn các con thật lâu, Người mẹ thứ nhất của các con.

Tôi tắt máy ghi âm. Rebekah lên tiếng:

- Cám ơn chị, bây giờ tôi có thể ngủ được rồi.

Tôi xếp lại cái gối dưới đầu cô và cuộn cái gối khác dưới lưng cô rồi im lặng đi ra.

Hai ngày sau Rebekah qua đời. Bốn năm sau, khi Warren và những cô con gái chuẩn bị đón người vợ, người mẹ mới của họ, tôi đã gởi cuốn băng qua đường bưu điện cho ông bố.

(Nan Pinkston)

***



Lạy Chúa, ai trong chúng con rồi cũng có một ngày phải đối diện với sự chết, xin cho con biết chuẩn bị chu đáo cho mình và cho những người thân trước cuộc ra đi này. Tình thương sẽ chiến thắng sự chết! Tình thương của Chúa đã cứu con khỏi sự chết đời đời. Tình thương của con để lại cho người thân sẽ giúp họ nhận biết tình thương của Chúa, và giúp họ yêu thương nhau.

Lạy Thiên Chúa, chủ tể của sự sống và sự chết, xin sử dụng con như một khí cụ yêu thương để liên kết mọi người với nhau. Amen.


Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

Hành Xử Khôn Khéo


Một đạo sĩ đi ngang qua cây dừa, một chú khỉ hái dừa ném xuống đầu ông. Ðạo sĩ lẳng lặng bổ ra lấy nước uống rồi ăn luôn cùi dừa, còn lại vỏ dừa, ông làm thành chén ăn cơm. Nét điềm tĩnh của đạo sĩ là nắm lấy mọi cơ hội trong cuộc sống để mưu ích cho mình. Ông quên đi niềm đau trên đầu của mình cũng như sự tinh nghịch của chú khỉ, để sử dụng tối đa ích lợi của trái dừa.



Khôn ngoan để luôn luôn tích cực xây dựng Nước Trời, đó là lời Chúa Giêsu nhắn nhủ qua dụ ngôn người quản lý trong Tin Mừng thánh sử Luca (Lc 16,1-8). Dụ ngôn có lẽ dựa trên một cuộc biển lận xẩy ra trong bất cứ xã hội nào. Chúa Giêsu không có ý tán thành hành vi biển lận của người quản lý; Ngài chỉ khen cung cách giải quyết vấn đề của ông: ông biết nhìn xa thấy rộng để tìm phương thế cho hoạn nạn sắp phủ xuống trên ông. Bài học có thể rút ra từ dụ ngôn chính là tận dụng thời gian, biết tất cả thành cơ may để gặp gỡ Chúa và xây dựng Nước Trời.

Thái độ của con người thường là nổi loạn, than trách, buông xuôi, bỏ cuộc. Chúa Giêsu khuyên chúng ta khôn ngoan điềm tĩnh để biến đau khổ thành cơ may đưa đến một ơn ích cao đẹp hơn. Ðạo sĩ trong câu truyện trên đây không dừng lại để rủa xả con khỉ, nhưng điềm nhiên sử dụng trọn vẹn trái dừa. Người điềm tĩnh khôn ngoan là người biết nhìn một cách lạc quan những thất bại, mất mát trong cuộc sống. Thánh Phaolô đã có cái nhìn lạc quan ấy, khi nói: "Ðối với những ai yêu mến Chúa, thì mọi sự đều dẫn về điều thiện".

Con người ngày nay rất khôn ngoan khi tính toán để tìm kiếm hạnh phúc đời này. Nhưng sự khôn ngoan đích thực thì ít có ai tìm được, hay cố gắng đi tìm. Cũng như người quản lý trong bài Tin Mừng, ông đã dùng sự khôn khéo gian manh để tìm hạnh phúc cho đời sống của ông. Qua đó, Ðức Giêsu muốn dạy chúng ta biết dùng sự khôn ngoan của mình để sử dụng gia tài Chúa ban: Sức khỏe, thời gian, tiền của... mà tìm lấy cho mình hạnh phúc vĩnh cửu.

Dưới cái nhìn của con người, loài người được xếp theo những hơn thua về tài năng, may mắn, thành công, thông minh, nhưng trong cái nhìn yêu thương của Chúa, tất cả đều là ân sủng. Chúng ta hãy tín thác cho Chúa, đón nhận mọi biến cố như lời mời gọi yêu thương, tin tưởng. Bên kia những gì chúng ta có thể ước đoán, tưởng tượng, Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta. Hãy xử thế như người quản lý trong dụ ngôn: biến tất cả thành cơ may để nhận ra tình yêu Chúa, để loan báo, chia sẻ tình yêu ấy với mọi người.
Lạy Chúa, Chúa biết con người chúng con yếu hèn, chúng con muốn theo Chúa nhưng lại chạy theo của cải vật chất, lạc thú, danh vọng ở đời. Xin tha thứ cho chúng con và ban ơn khôn ngoan, ý chí cương quyết để chúng con biết chọn Chúa, vì chính Chúa là hạnh phúc vĩnh cửu của chúng con. Amen.

(Đài Chân Lý Á Châu)


Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Giờ Chúa viếng thăm


Một diễn giả thuyết trình cho các bậc phụ huynh về thái độ phải luôn thông cảm với con cái, nhất là khi chúng còn nhỏ. Diễn giả vừa dứt lời, thì có một người mẹ phát biểu ý kiến: "Trong bài thuyết trình, ông đã nhiều lần nhắc đến những sai sót của cha mẹ không đủ kiên nhẫn để tỏ ra thông cảm với con cái. Phần tôi thì có kinh nghiệm ngược lại: tôi luôn luôn tìm cách thông cảm với con cái, nhưng chẳng những chúng không nghe lời tôi, mà còn chống lại tôi. Xin ông vui lòng cho chúng tôi biết phải làm gì nữa để con cái nghe lời chúng tôi".


Kinh nghiệm của người mẹ trên đây có thể giúp chúng ta hiểu thêm phần nào tâm tình của Chúa Giêsu đối với người Do thái và, đối với thành Giêrusalem như được ghi lại trong Tin Mừng thánh sử Luca (Lc 13,31-35). Ðó là tâm tình yêu thương của Chúa trước sự khước từ của dân Chúa. Tác giả Luca đã đưa ra nhận định chung về cuộc đời của Chúa Giêsu: "Ngài đã đến nơi nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận". Con người là tạo vật của Thiên Chúa, nhưng lại có quyền tự do từ chối Ngài, đó là cái bi thảm của cuộc đời.





Chúng ta sẽ càng cảm thông với những tâm tình của Chúa Giêsu, khi chúng ta biết rằng lúc đó Ngài đang tiến về Giêrusalem, tiến đến gần giây phút thực hiện cuộc Vượt qua của Ngài để đem ơn cứu rỗi cho mọi người, nhưng cũng chính lúc đó sự chống đối của các kẻ thù Chúa mỗi lúc một gia tăng. Những người Biệt phái, Luật sĩ, Tư tế trong dân, đang tìm cách loại trừ Chúa, ngay cả vua Hêrôđê Antipas cũng không ưa thích gì Ngài, chính ông ra lệnh chặt đầu Gioan Tẩy giả, đó là điềm không tốt cho Chúa Giêsu lúc đó đang có mặt trên phần đất thuộc thẩm quyền của ông.


Tuy nhiên, sự độc ác của con người không thể làm cho Thiên Chúa không yêu thương con người. Trái lại, Thiên Chúa đã chấp nhận trở nên yếu hèn, bị khinh chê, Ngài vẫn yêu thương con người và yêu thương cho đến chết trên Thập giá. Tuy nhiên, cái chết của Chúa Giêsu không phải là một chiến bại vĩnh viễn, bởi vì rồi đây con người sẽ trở lại nhìn nhận Thiên Chúa. Lời tiên báo của Chúa Giêsu hé mở cho chúng ta thấy viễn tượng hy vọng: "Các ngươi sẽ không còn thấy Ta nữa, cho đến lúc các ngươi nói: chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Chúa". Ðây không chỉ là lời tiên tri về cuộc khải hoàn của Ngài vào thành Giêrusalem, nhưng còn là lời tiên tri về cuộc chiến thắng cuối cùng của Ngài vào thời cánh chung, khi Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự.


Chúng ta hãy khiêm tốn nhận ra những giờ phút của ân sủng Chúa đến viếng thăm chúng ta. Ước gì chúng ta cảm nghiệm được tình yêu dịu dàng của Chúa để có thể nói lên lời tri ân chúc tụng Chúa.




Lạy Chúa, cuộc sống của chúng con không khác gì dân Do thái. Chúng con đã đón nhận biết bao ơn lành của Chúa: Cơm bánh chúng con ăn, áo quần chúng con mặc, khí trời chúng con hít thở, bao nhiêu dấu lạ chúng con được chứng kiến trong chính bản thân cũng như xung quanh chúng con. Ðáng lẽ với những hồng ân bao la ấy, chúng con sẽ nhận ra tình yêu của Thiên Chúa. Thế nhưng, đam mê bao bọc vây kín, làm chúng con không nhận ra phúc lành tràn đầy đó. Chúng con luôn sống vô ơn, bất xứng. Xin Chúa sửa dạy chúng con. Xin cho chúng con sớm nhận ra tình yêu của Chúa. Xin đừng để chúng con cứ mãi chai lì, khiến Chúa phải đau lòng. Xin Chúa đưa những con chiên lạc đàn trở về trong tình yêu thương và hợp nhất trong một đoàn chiên. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Giêsu Kitô Con Chúa, Chúa chúng con. Amen.




 (Đài Chân Lý Á Châu)




Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

Lạy Cha chúng con ở trên trời


Con gái ông Karl Marx có lần thú nhận với người bạn gái từ thủa nhỏ bà không được huấn luyện cho biết có Tôn giáo và Tín ngưỡng cũng như chính bà không cảm thấy mình có một tâm tình tôn giáo hay tin tưởng vào một thực tại vô hình nào. 


Nhưng bà tâm sự tiếp: một ngày kia bà tình cờ đọc được một kinh của người Kitô mà bà thầm mong ước là những câu kinh ấy được biến thành sự thật.


Nghe nói thế, người bạn gái của bà không khỏi ngạc nhiên và tò mò hỏi: "Kinh gì mà hay thế?". Thay vì trả lời trực tiếp câu hỏi này, người con gái ông Karl Marx chậm rãi đọc bằng tiếng Ðức: "Vater unser im Hinmel - Lạy Cha chúng con ở trên trời". 



***


Có một Giám Mục kia trên đường kinh lý giáo phận, ghé thăm gia đình một bà lão. Người ta nói bà là một tấm gương cho cả lòng soi chung. Trong khi thăm, vị Giám Mục hỏi: 


- Bà thường hay đọc sách đạo đức nào nhất? 


- Thưa Ðức Cha con không biết đọc, bà cụ trả lời. Nghe nói thế, vị Giám Mục tiếp tục hỏi: "Nhưng bà hay cầu nguyện cơ mà?". Thấy Giám Mục đã biết bí quyết của mình, bà cụ thật thà thưa: 


- Thưa Ðức Cha, con chỉ biết tràng hạt thôi: Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Tin Kính. Một ngày con khởi sự đọc đến mười lần nhưng thường thì con không đọc xong. 


- Tại sao thế? Vị Giám Mục muốn biết. Bà cụ thuật tiếp: 


 - Tại vì khi con bắt đầu đọc: Lạy Cha chúng con. Con bỗng không hiểu sao Chúa có thể tốt lành đến mực cho phép một bà già hèn mọn như con được gọi ngài là Cha. Ðiều đó làm cho con phải khóc và rồi con không thể nào đọc tiếp hết chuỗi được. Nghe thuật lại kinh nghiệm trên, vị Giám Mục khuyến khích:  


- À, này bà cụ, đó là lời cầu nguyện trị giá bằng tất cả những lời cầu nguyện của chúng tôi. Bà cứ tiếp tục và luôn cầu nguyện theo câu đó. 


Tục ngữ Việt Nam có câu: "Gần chùa gọi bụt bằng anh". Ðó là tâm tình thông thường của con người. Bởi lẽ những thực tại dù to lớn đến đâu, nếu đã trở nên những công việc hằng ngày thường bị hạ thấp giá trị.


Kinh Lạy Cha là kinh quen thuộc và tuyệt vời nhất đối với người Kitô hữu chúng ta. Mỗi ngày chúng ta đọc nhiều lần kinh này, thế nhưng chúng ta đã có thái độ thế nào? Người ta có lý để bảo rằng chúng ta đọc kinh một cách máy móc, thiếu hồn sống. Sỡ dĩ như vậy là vì chúng ta chưa ý thức đủ tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta, chưa đi vào quan hệ mật thiết với Thiên Chúa, như con cái đối với cha mình.


Ước gì Kinh Lạy Cha giúp chúng ta ý thức thật sâu đậm về sự thật: Thiên Chúa là Cha chúng ta, như bà cụ đơn sơ trong câu chuyện trên đã cảm nghiệm được, đồng thời giúp chúng ta sống và thực hành những gì chúng ta luôn miệng cầu khẩn trong kinh Lạy Cha.

Ước gì những giây phút dành riêng để gặp gỡ, tiếp xúc với Chúa, giúp chúng ta càng thêm gắn bó, yêu mến và dấn thân thực thi Thánh Ý Chúa trong đời sống chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã dạy cho chúng con biết phải cầu nguyện thế nào cho đẹp lòng Cha. Xin giúp chúng con biết siêng năng cầu nguyện với tâm tình con thảo, đơn sơ và phó thác tất cả trong tay Cha. Ðể từ cuộc sống cầu nguyện và kết hợp liên lỉ với Cha, chúng con sẽ được Cha nhận lời và ban cho chúng con lương thực, sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu. Amen.



 (Đài Chân Lý Á Châu)




Thứ Năm, 29 tháng 9, 2011

Tôn kính các tổng thần Micae, Gabrie, Raphae


Thiên Chúa có nhiều cách tỏ ra Ngài thương yêu chúng ta, một trong những cách qua các thiên thần. Chúa sai các thiên thần đến giúp ta khi ta cần sự phù hộ. Micae, Gabrie, Raphae là ba sứ giả của Chúa.

   Tổng Thần Micae có nghĩa là "Ai bằng Thiên Chúa".  Ngài xua đuổi Tổng thần Luxiphe và bọn ngụy thần ra khỏi Thiên Đàng và giam cầm chúng trong hỏa ngục.

    Tổng Thần Gabrie có nghĩa là "Sức mạnh của Thiên Chúa".   Ngài giải nghĩa cho tiên tri Daniel thời kỳ xuất hiện của Đấng Cứu Thế.  Ngài đưa tin cho ông Giacaria về con trẻ Gioan tiền hô. Ngài loan tin Mẹ Maria về Ngôi Lời nhập thể.

  Tổng Thần Raphae nghĩa là "Thiên Chúa chữa lành". Ngài dẫn đường và bênh đỡ cho Tobia trong cuộc hành trình đòi nợ theo lệnh người cha mù lòa,  và giúp đỡ gia đình ông trong cơn hoạn nạn (Tobit 12,15).



Giáo dân cầu cùng tổng thần Micae để thắng cơn cám dỗ, cầu cùng tổng thần Raphae để được làm trọn ý Chúa, cầu cùng tổng thần Raphae để xin ơn lành bệnh.

Cám ơn Chúa đã thương yêu ta qua các tổng thần mà chúng ta tôn kính hôm nay (29/9).

 KINH TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE 


(Đức Thánh Cha Leo XIII)


Lạy Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, Đấng bảo vệ chúng con trong cơn chiến đấu, xin phòng ngự chúng con khỏi gian tà và nanh vuốt của quỷ dữ. Chúng con khiêm cung nài xin Chúa đánh phạt nó; và kính xin Ngài, lạy Hoàng Thân của Triều Đình Thiên Quốc, nhờ vào quyền lực của Thiên Chúa, xin Ngài hãy xua đuổi Satan, và tất cả mọi thần dữ, những kẻ đang rình rập khắp thế gian để hủy hoại các Linh Hồn, mà ném chúng xuống hỏa ngục. Amen.

Nguồn: xuanha.net

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2011

Tôn kính Thiên Chúa


Hãy tôn kính Chúa! Hãy quỳ cách khiêm cung. Đừng đứng một cách kiêu ngạo trước Nhan Thánh Chúa. Ai cũng có thể đứng trước mặt Chúa, nhưng để quỳ khiêm cung trước Nhan Chúa thì ít người có thể làm được. Các bạn cần quỳ. Bởi thiếu lòng khiêm nhường nên nhiều người Công Giáo đã rời bỏ Giáo Hội và không đi dự Lễ hay rước Lễ! Đó là một trách nhiệm lớn lao!



Tinh thần hy sinh phải được sống lại. Các linh mục cần mặc tu phục của mình khi ra đường phố để tỏ lòng tôn kính Chúa. Lẽ ra có nhiều linh mục cần phục vụ khi giáo dân cần các ngài, nhưng vì các ngài không mặc tu phục, nên người ta không tìm được các ngài. Vậy xin các linh mục và các tu sĩ hãy trở lại việc mặc tu phục và các giáo dân sẽ có thêm lòng tôn kính các linh mục và tu sĩ hơn.


Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Gặp gỡ Thiên Chúa qua bí tích Hoà giải


Hoà giải là gặp gỡ Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô Đấng Cứu Thế, Ngài luôn hiện diện trong Giáo Hội của Ngài và đặc biệt hơn qua các Bí Tích. Bí Tích Hoà giải cũng như Bí Tích Thánh Thể là Mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô đem lại cho chúng ta sự bình yên và giao hoà với Thiên Chúa.

Thiên Chúa Cha tha tội cho chúng ta qua Bí Tích Giải tội còn gọi là Bí Tích Hoà giải. Thật vậy, việc cố ý phạm tội trọng làm cho người tín hữu xa rời cuộc sống tràn đầy hồng ân Thiên Chúa và qua đó đã tách họ ra khỏi sự Thánh thiện mà họ được mời gọi. Giáo Hội nhận nơi Chúa Kitô quyền được tha tội. Nhân danh Ngài mà tha tội (Mt 16,19 _ Ga 20,23).



Tại sao phải xưng tội?

Bởi vì chúng ta là tội nhân, nghĩa là chúng ta suy nghĩ và hành động một cách nào đó trái với Tin Mừng.

Ai cho mình là người không có tội thì họ là người nói dối hay kẻ mù quáng. Qua Bí Tích Hoà giải Thiên Chúa là Cha tha thứ cho con cái. Bí Tích Hoà giải cũng đồng thời đem lại kết quả là việc Hoà giải giữa anh chị em với nhau.

Xưng tội như thế nào?

Việc xưng tội không phải lúc nào cũng dễ dàng, chúng ta không biết phải xưng gì? Chúng ta cho là không cần thiết phải đến xưng tội với Linh mục.

Việc xưng tội đòi hỏi phải định hướng những tư tưởng, lời nói, việc làm có thể làm chúng ta xa rời Tin Mừng.

Để xưng tội nên, chúng ta phải theo một tiến trình:

1-      Cầu xin ơn Chúa Thánh Thần giúp mình nhớ tội

2-      Xét mình

3-      Ăn năn tội

4-      Dốc lòng sửa đổi

5-      Xưng tội với Linh mục

6-      Làm việc đền tội

Xưng những tội gì?


Ai muốn được Hoà giải với Thiên Chúa và với Giáo Hội cần phải xưng tội với Linh mục mọi tội trọng chưa xưng mà mình còn nhớ được sau khi xét mình một cách cẩn thận. Dù không bắt buộc xưng các tội nhẹ vẫn được Giáo Hội khuyến khích.



Nếu trong Giáo Hội không có việc tha tội, sẽ không có hy vọng được sống đời đời, và sự giải thoát đời đời. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội ơn lớn lao dường ấy. (Th. Augustinô)




XÉT MÌNH                                                     

  • Đối với Thiên Chúa:


-          Tôi chỉ nhớ đến Thiên Chúa những khi cần đến Ngài thôi sao?

-          Tôi có tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật và ngày Lễ buộc không?

-          Tôi có đọc kinh sáng tối không?

-          Tôi có xúc phạm đến Danh Thánh Chúa, Đức Mẹ và các Thánh không?

-          Tôi có kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ không?

-          Tôi có xấu hổ khi xưng mình là người Công Giáo không?

-          Tôi có chống lại ý định của Thiên Chúa không?

-          Tôi có đòi Ngài phải thi hành ý muốn của tôi không?

  • Đối với tha nhân:


-          Tôi có biết tha thứ, lòng bao dung giúp đỡ tha nhân không?

-          Tôi có phán đoán một cách quá đáng trong tư tưởng và bằng lời nói không?

-          Tôi có nói hành nói xấu người khác không?

-          Tôi có vu cáo, khinh dể trẻ em và những người hèn mọn không?

-          Tôi có ghen ghét nóng nảy đưa đến hậu quả làm mất tính công minh không?

-          Tôi có trung thực và công bằng với mọi người không?

-          Tôi có xúi giục người khác làm điều xấu không?

-          Tôi có ăn cắp của người khác không?

-          Tôi có tôn trọng luân lý đời sống vợ chồng và đời sống gia đình như Tin Mừng dạy không?

-          Tôi có chu toàn bổn phận giáo dục con cái không?

-          Tôi có phá thái, tôi có tạo điều kiện cho việc phá thai không?

-          Tôi có tôn trọng môi trường sống không?

  • Đối với bản thân:


-          Tôi có ăn uống, hút thuốc quá đà không?

-          Tôi có lo lắng quá đáng về sức khoẻ về của cải không?

-          Tôi dùng thời giờ như thế nào? Tôi có lười biếng không? Tôi có ham muốn được người khác phục vụ không?

-          Tôi có mục đích trả thù không? Tôi có nuôi lòng oán hận không?

-          Tôi có yêu thích và vun trồng sự trong sáng tâm hồn trong tư tưởng và trong việc làm không?

-          Tôi có bao dung, khiêm tốn xây dựng bình yên không?

Lời nguyện sám hối:

 Lạy Chúa! Con thật lòng ăn năn thống hối vì con đã xúc phạm đến Chúa. Bởi vì Chúa là Đấng rất tốt lành, là Đấng rất đáng yêu mến. Tội lỗi con đã làm mất lòng Chúa.

Con quyết tâm với sự trợ giúp của ơn Thánh Chúa, từ nay con sẽ không xúc phạm đến Chúa nữa và thật lòng ăn năn sám hối.

Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. Xin thương xót con là kẻ tội lỗi.

Lạy Chúa Giêsu, nhờ mầu nhiệm sự chết và Phục Sinh của Chúa, xin giải thoát con khỏi tội lỗi và ban cho con sự bình an của Chúa để con có thể thực hiện lòng Bác ái đức Công bình và Chân Lý.

Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các Linh Hồn.


Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Ý nghĩa dấu Thánh Giá

LÀM DẤU THÁNH GIÁ




Hít vào: Làm dấu trên đầu: NHÂN DANH CHÚA CHA giữ hơi lại...

Thở ra: Làm dấu trên tim: VÀ CHÚA CON để yên...

Hít vào: Làm dấu trên mình: VÀ CHÚA THÁNH THẦN giữ hơi lại...

Thở ra: Chấp tay: AMEN.

Làm dấu Thánh Giá là một cách tuyên xưng đức tin rõ ràng, vững mạnh của những người theo Chúa.

Thánh Lễ bắt đầu bằng dấu Thánh Giá, là một trong những dấu hiệu Kitô giáo cổ xưa nhất, và là dấu hiệu tuyệt hảo của người Kitô hữu.

Khi làm dấu Thánh Giá, chúng ta nhận biết mình thuộc về Chúa Kitô, bày tỏ niềm tin của chúng ta vào Chúa Kitô đã chết trên Thánh Giá vì chúng ta, chúng ta nói lên lòng ước muốn đón nhận sự phong phú khôn lường của Thánh Giá và ước muốn liên kết đời sống chúng ta với đời sống của Chúa Kitô chết trên Thánh Giá. Vậy, Thánh Giá quả là dấu chỉ sự cứu độ, sự cứu chuộc và sự phục sinh. Dấu Thánh Giá còn nhắc chúng ta về bí tích Thánh Tẩy của mình, bởi chúng ta đã được rửa tội "nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần".



Dấu Thánh Giá là biểu thức của chính đức tin Kitô giáo, đó là sự hiện hữu của Thiên Chúa tình yêu được mạc khải bởi đời sống của Chúa Kitô. Do đó người ta hiểu tại sao các Kitô hữu thường làm dấu Thánh Giá và luôn luôn bắt đầu một nghi thức phụng vụ bằng dấu Thánh Giá.

1/ Dấu Thánh Giá đơn:

Khi làm dấu Thánh Giá, bàn tay phải được đưa lên vầng trán và đọc: "Nhân Danh Cha; rồi bàn tay trái được đưa xuống trước ngực và đọc: Và Con; sau đó bàn tay được đưa sang bờ vai bên trái rồi sang bên phải, đang khi đọc: Và Thánh Thần; sau cùng chắp hai bàn tay lại trước ngực và đọc: Amen".

Chúa Cha là Đấng Tạo Dựng muôn loài muôn vật và Ngài thấy mọi sự đều tốt đẹp. Mà mọi hành động của con người đều phát xuất từ suy nghĩ là đầu óc của chúng ta. Nên chúng ta làm Dấu trên trán là xin Chúa soi sáng cho mọi viêc chúng ta làm được tốt đẹp.

Chúa Con đã đổ hết Máu và Nước mình ra vì chúng ta. Đó là lưỡi đao đâm thâu cạnh sườn Người. Chính vì thế mà chúng ta làm ở ngực là xin cho được lòng yêu mến "Mến Chúa yêu người và ngược lại".

Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa. Ngài ban cho chúng ta bảy ơn thánh của Ngài. Nên làm hai vai là xin được ơn Mạnh khỏe - làm việc gì cũng được Ngài kết hợp và Thánh hóa.

2/ Dấu Thánh Giá kép:

Người Công giáo Việt Nam khi đọc kinh tối sáng, khi đọc kinh cầu cho thân nhân đã qua đời, thường hay làm dấuhình Thánh giá 3 lần: trên trán, trên môi miệng và trên ngực.
Và trong Thánh Lễ, trước khi nghe lời Chúa trong Phúc âm, chúng ta cũng làm dấu Thánh Giá "kép" trên trán, trên môi miệng và trên ngực.

Dấu Thánh Giá "kép" mang ý nghĩa gì và tại sa làm dấu "kép" này?
1- Vẽ dấu Thánh Giá trên trán, chúng ta muốn nói: Vâng, con nghe hay đọc lời Chúa với sự hiểu biết của trí khôn con.

2- Trên môi miệng, chúng ta cũng muốn biểu lộ: Và con còn muốn qua môi miệng loan truyền Lời Chúa mà con đã nghe, đã đọc.

3- Rồi trên ngực, chúng ta muốn tuyên xưng: Con xin tin và yêu mến Lời Chúa.

Alpha
(The way of Jesus)


Thứ Bảy, 10 tháng 9, 2011

Thiên Chúa muốn tôi làm gì bây giờ?

Ai muốn bắt chước Ðức Mẹ luôn luôn tìm Thánh Ý Chúa và "xin vâng". "Hãy thành sự cho tôi theo ý Ngài".

Xin Chúa giúp mỗi nguời chúng ta biết sống theo ý Chúa như Mẹ Maria xưa, để chuơng trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nơi mỗi nguời chúng ta.




Khi Chúa Kitô sống trong tôi, tôi cũng tìm lương thực nội tâm trong Thánh Ý Thiên Chúa. Sống theo Thánh Ý Chúa mang ích lợi cho tôi bởi vì Ngài che chở tôi và Ngài muốn làm vinh hiển cho tôi. Nhưng theo vết chân Chúa Kitô tôi không tìm Thánh Ý Chúa vì "ích lợi" này mà vì tôi yêu thương Ngài.



Ðây là một trái tim mới, là một con người mới trong tôi. Vì thương yêu Thiên Chúa, thánh I-Nhã muốn biết Thiên Chúa kêu mời ngài làm gì. Từ từ qua kinh nghiệm nhiều năm trời tìm Thánh Ý Chúa, thánh I-Nhã được Chúa ban một khả năng đặc biệt để tìm kiếm Thánh Ý Chúa.

Ðây cũng là khả năng đặc biệt Thiên Chúa ban cho nhà Dòng thánh I-Nhã sáng lập và cho những ai muốn kết thân với Chúa Kitô dưới sự hướng dẫn của ngài: "Luôn luôn phục vụ Thiên Chúa vì tình yêu".

CÁCH TÌM THÁNH Ý CHÚA

Chúng ta không có thể tìm Thánh Ý Thiên Chúa cách trực tiếp, ngay trong trái tim Ngài bởi vì trong đời này chẳng ai có thể gặp gỡ Thiên Chúa cách trực tiếp.

Chúng ta cũng không có thể tìm hiểu Thánh Ý Chúa như một kế hoạch Ngài soạn thảo sẵn và dành cho chúng ta. Thánh Ý Chúa cũng không phải là một chương trình gồm có những biến cố sẽ xảy ra cho mình và những hành động Ngài mong muốn chúng ta thực hiện.

Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta có quyền mở trái tim mình cho những ý muốn, niềm hy vọng và tình yêu chúng ta muốn lựa chọn. Chính Ngài là Ðấng tôn trọng quyền tự do đó.

Chúng ta tìm Thánh Ý Chúa trong các kinh nghiệm sống. Khi giữa Thiên Chúa và chúng ta có một tình thân mật, một mối liên hệ sống động, chúng ta sẽ nhìn nhận những tác động vui buồn nội tâm. Qua những tác động nội tâm đó chúng ta sẽ nhận ra Thiên Chúa mong chúng ta làm gì, làm như thế nào.

Không biết Thiên Chúa dành cho chúng ta những gì trong tương lai, nhưng mỗi lần chúng ta tuân theo các tác động của Chúa có một kết quả. Nhìn lại các năm trời vừa qua chúng ta sẽ khám phá ra một đường hướng, một kế hoạch kỳ lạ, đầy khôn ngoan, lòng nhân từ và vinh quang. Chúng ta tin rằng đó là kế hoạch Thiên Chúa dành cho chúng ta.

Chúng ta tìm những "tác động" nội tâm. Có thể là tác động vui, cũng có thể là tác động buồn. Khi chúng ta bước theo Thánh Ý Chúa thường Ngài ban cho chúng ta bình an và niềm vui nội tâm. Khi chúng ta theo ý mình và từ chối tiếng kêu mời của Thiên Chúa, chúng ta cảm thấy u buồn như thanh niên giàu có không dám "nghe" tiếng kêu mời của Chúa Kitô.

Tìm Thánh Ý Chúa là luôn luôn mở lòng cho Ngài, là sống trong tình thân mật với Ngài. Như Ðức Mẹ, Ðức Mẹ chẳng biết Thiên Chúa dẫn Mẹ đi đến đâu. Nhưng trong mỗi hoàn cảnh và biến cố, Ðức Mẹ lắng nghe và đón nhận ý muốn Thiên Chúa. Ðức Mẹ giữ trong lòng các biến cố để tìm hiểu đường lối và Thánh Ý Chúa.

Chúng ta tìm Thánh Ý Chúa trong các liên hệ với anh em, trong cách chúng ta tiếp xúc với họ. Trong tình thân mật với Chúa chúng ta sẽ tìm cách phục vụ, cách tiếp xúc với họ theo Thánh Ý Ngài.

Những kẻ biết nhận ra Thánh Ý Chúa, như thánh Gioan, sẽ nhận ra Ngài trước. Trong các ngã ba, trong các xung đột, lúc phải tìm một hướng đi, có kẻ nhận ra Thánh ý Chúa trước, giúp người khác cũng nhận ra Ý Ngài.

XÁC ÐỊNH THÁNH Ý CHÚA

Làm sao chúng ta có thể xác định chúng ta thực sự theo Thánh Ý Chúa chứ không phải theo ý mình?

Thiếu tình thân mật với Thiên Chúa chúng ta dễ suy luận và nhận định các vấn đề theo ý riêng, do quan niệm bản thân. Tưởng rằng đang phục vụ Thiên Chúa thực sự chúng ta có thể âm mưu ích lợi và danh vọng riêng.

Khi gặp sóng gió và thử thách chúng ta mới có thể biết đường lối chúng ta đang theo và động lực đang thúc đẩy chúng ta là do tình yêu Thiên Chúa hay do tự ái riêng.

Khi gió thổi mạnh và nước tuôn đến chúng ta mới có thể biết ngôi nhà được xây dựng trên cát hay trên tảng đá.

Lúc thành công, mọi người đứng vững, hăng hái hoạt động. Nhưng lúc gặp hiểu lầm, thất bại và bị sỉ nhục những kẻ muốn phục vụ một mình Thiên Chúa mới tiếp tục hoạt động và bình tĩnh dấn thân tiếp.

Chúa hỏi các môn đệ: "Bạn muốn gì?". 

Phúc cho môn đệ có thể đáp trả lại: "Con mong muốn nhận biết Chúa Kitô, và sức mạnh phục sinh của Người, con mong muốn thông phần vào sự thương khó của Người và nên giống Người trong sự chết với niềm hy vọng con cũng sẽ được sống lại từ các kẻ chết". (Phil 3:10-11)

(Lm Julian Elizaldé, S.J)


Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Thiên Chúa yêu thương con người vượt trên tất cả

Với tựa đề: "Nơi Chúa, họ tin tưởng", tuần báo Kinh Tế Viễn Ðông số tháng 6/1996 dành hai trang để nói về sự hồi sinh tôn giáo tại Việt Nam. Tựa đề của bài báo lấy lại dòng chữ mà người Mỹ vốn cho in trên đồng tiền của họ: "Nơi Chúa, chúng tôi đặt tin tưởng". Nếu với người Mỹ, Chúa là một ngôi vị cá biệt, thì Chúa theo tạp chí Kinh Tế Viễn Ðông lại là thể hiện của một nhu cầu tôn giáo cơ bản nhất của con người, không gì có thể dập tắt nổi.






Thiên Chúa là tình yêu và là tình yêu cho bạn




Con người khao khát Thiên Chúa, hay đúng hơn Thiên Chúa đã tạo dựng con người, với nỗi khao khát vô biên ấy. Con người không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa, hay đúng hơn chính Thiên Chúa không ngừng lôi kéo con người đến với Ngài. Thiên Chúa yêu thương con người, tình yêu của Ngài vượt trên mọi thước đo, mọi dự đoán, mọi tưởng tượng của con người, đó là tất cả những gì Chúa Giêsu đã đến để mạc khải cho con người.



Tin Mừng trong thánh sử Mátthêu (Mt 9,18-26) ghi lại một vài cử chỉ của Chúa Giêsu đối với con người: một vị kỳ mục đến xin Ngài cứu đứa con vừa chết, người đàn bà mắc bệnh loạn huyết chi khấn thầm và sờ đến gấu áo của Ngài, cả hai đại diện của đủ mọi tầng lớp mà Chúa Giêsu gặp gỡ hàng ngày. Ngài không loại trừ bất cứ hạng người nào, bất cứ giai cấp nào trong xã hội, bởi vì tất cả đều là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa. Vị kỳ mục đã tìm đến với Chúa, người đàn bà đã len lỏi giữa đám đông để sờ vào Ngài, đó là hình ảnh của sự tìm kiếm mà con người không ngừng thực hiện để đến với Chúa. Nhưng thật ra, chính Thiên Chúa mới là Ðấng đi bước trước để đến với con người. Phép lạ đã diễn ra như một kết quả của lòng tin: "Ðức tin của con đã cứu chữa con", nhưng cũng chính niềm tin đã giúp con người khám phá ra phép lạ Thiên Chúa không ngừng thực hiện vì yêu thương con người.


Qua một cơn hải trình cam go, những người có niềm tin đã nhìn vào sự sống sót của mình như một phép lạ của tình thương. Những giờ phút hãi hùng trong cuộc sống, những thử thách phải trải qua, những đau khổ phải gánh chịu, đó là những phách mạnh trong bản trường ca về tình yêu Thiên Chúa. Có trải qua những giờ phút ấy, chúng ta mới nhận ra được cánh tay đỡ nâng của Chúa.


Xin Chúa cho chúng ta một đức tin sáng suốt để chúng ta không ngừng nhận ra tình yêu của Chúa và dâng lời cảm tạ Chúa.


(RVA)




Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Lời nguyện tuyệt vời dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi

Hãy dâng lên Thiên Chúa Ba Ngôi với lời nguyện đặc biệt dưới đây cho tất cả các nhu cầu của bạn, của gia đình bạn, của những người cần lời cầu nguyện của bạn. Hãy cầu nguyện cho mọi người, cho thế giới và hơn hết là cho các Linh Hồn trong Luyện Ngục bằng lời cầu nguyện:

Vinh Danh, Ngợi Khen, Cảm Tạ và Thờ Lạy Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần Thiên Chúa. Tự muôn đời và chính hiện nay, luôn mãi đến thiên thu vạn đại. Amen.

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

Nụ cười trong cung lòng Thiên Chúa


Theo lời yêu cầu của các đệ tử, một vị linh sư Ấn Ðộ đã kể lại kinh nghiệm về các giai đoạn đời tu của ông như sau:

- Giai đoạn đầu tiên của ta là được Thiên Chúa cầm tay dẫn đến xứ sở của hoạt động. Ta đã ở lại đây nhiều năm.

Tiếp đó Ngài đã trở lại và đưa ta đến xứ sở của niềm đau. Tại đây trái tim của ta đã được thanh tẩy khỏi mọi dính bén với của cải trần thế.



Sau đấy Ngài dẫn ta đến miền đất của cô đơn. Ở đấy mọi ti tiện nhỏ bé của bản thân ta đều bị thiêu hủy hết, và ta đã có thể đi vào xứ sở của thinh lặng. Trước mắt ta, mầu nhiệm của sự sống và của sự chết đều được tỏ bày.

Nghe thế các môn đệ bèn hỏi:

- Phải chăng thầy đã đạt tới giai đoạn cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của thầy?

Vị linh sư bình thản trả lời:

- Chưa đâu. Một ngày nọ Thiên Chúa đã nói với ta như sau:

"Lần này Ta đưa con vào thăm cung của đền thánh để con được đi vào cung lòng của Ta".

Thế là ta đã đến xứ sở của nụ cười.

*


*     *


Người Tây Phương thường nói: "Một vị thánh buồn là một vị thánh đáng buồn".

Niềm hoan lạc, sự vui tươi phải chăng không là nét cốt yếu trên khuôn mặt vị thánh?

Kinh Thánh đã nói: "Thiên Chúa là đấng làm hoan lạc tuổi xuân con". Thiên Chúa làm cho con những hoan lạc bởi vì Ngài chính là niềm vui. Ði vào cung lòng Thiên Chúa là tìm được nụ cười muôn thủa của niềm hân hoan đó.

Nụ cười không chỉ là biểu hiệu của niềm vui. Nó còn là một thách thức trong một hoàn cảnh bi đát. Ðó là nụ cười của bà Sara, bật lên giữa cảnh già nua son sẻ. Thực tế, khi Thiên Chúa cho bà biết sẽ thụ thai mặc dầu đã già lão, thì bà Sara đã bật cười.

Thiên Chúa thường khơi dậy những nụ cười như thế. Tư tưởng của Ngài, hành động của Ngài đều là những nghịch lý đối với con người.

Là lời của Thiên Chúa, là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng là sự nghịch lý nhập thể. Cả cuộc sống, lời rao giảng, nhất là cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là một chuỗi những nghịch lý trước con mắt của người đời.

Người đời chạy theo tiền của, danh vọng quyền bính, thì Chúa Giêsu lại tuyên bố: "Phúc cho những ai nghèo khó".

Người đời thích gây bạo động và hận thù, Chúa Giêsu lại dậy: "Phúc cho những ai hiền lành và xây dựng hòa bình".

Người đời cho rằng cái chết là một bất hạnh tột cùng, là tận điểm của cuộc sống, là kết liễu của tất cả. Chúa Giêsu lại dậy: đó là khởi đầu của hạnh phúc, là cửa ngõ đưa tới sự sống lâu dài.

Thánh Phaolô đã diễn tả cái nghịch lý cao vời ấy của Thiên Chúa bằng lời khẳng định sau đây:

"Ðiều mà thế gian cho là yếu hèn, thì đó lại chính là sức mạnh của Thiên Chúa... Những gì người đời cho là điên dại, thì đó chính là lẽ khôn ngoan của Thiên Chúa".

Ðấy cũng phải là xác tín của chúng ta. Với niềm xác tín ấy chúng ta sẽ vượt qua được con đường đầy nghịch lý giữa cuộc sống trần gian này để đạt tới cung lòng của Thiên Chúa, ở đó chúng ta sẽ gặp được nụ cười muôn thủa diễn tả niềm hạnh phúc vô biên của Ngài dành sẵn cho chúng ta.

Radio Veritas Asia