Hiển thị các bài đăng có nhãn tha thứ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tha thứ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Yêu thương nhau

[caption id="attachment_4302" align="aligncenter" width="500"] “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12)[/caption]

(CN 6 PS B)


(Cv 10,25-26.31-35.44-48; 1 Ga 4,7-10; Ga 15,9-17)

Thiên Chúa là Tình Yêu. Chúa Giêsu truyền dạy: Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con. Chúa Giêsu đã tóm kết các giới răn của đạo cũ và mới vào hai điều: yêu Chúa và yêu người. Chúng ta không xa lạ gì với giới răn cao trọng này. Tình yêu là một mầu nhiệm. Chúng ta thuộc lòng các giới răn: Yêu Chúa, yêu tha nhân như chính mình và yêu thương cả kẻ thù. Thánh Gioan nói: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” (1 Ga 4,7). Ai trong chúng ta cũng biết yêu, vì chúng ta được sinh ra trong tình yêu. Nhưng chẳng ai định nghĩa được tình yêu. Chỉ những người đang yêu mới hiểu và cảm nhận được ý nghĩa của tình yêu.

Trong văn học, người ta dùng ca dao, tục ngữ, châm ngôn, thi phú, ca nhạc và văn thơ để ca ngợi và đánh bóng từ ngữ ‘tình yêu’. Tình yêu có nhiều mức độ như chúng ta có cảm tình, ưa, chịu, hợp, khoái, thích, thương, chuộng, mến… rồi yêu. Tình yêu cũng có nhiều cấp bậc. Tình yêu gia đình và con cái, tình yêu trai gái, yêu quê hương xứ sở, yêu quốc gia dân tộc, yêu giáo hội và yêu thương nhân loại. Chúng ta chẳng có thể kể ra hết các loại yêu vì chúng ta đang đan xen chằng chịt trong tình yêu. Thật rất khó để hình dung một tình yêu tinh tuyền không đối tượng. Chúng ta chỉ có thể cảm nhận một tình yêu qua những hành vi cử chỉ được biểu lộ. Tình yêu gắn kết giữa trái tim, ý chí, trí khôn và đối tượng yêu.


Quan sát thế giới chung quanh, có bao nhiêu điều và bao nhiêu người mà chúng ta thật sự yêu thích? Những người hàng xóm láng giềng, chúng ta gặp gỡ và chào hỏi nhau hằng ngày. Chúng ta cũng chẳng yêu và chẳng ghét họ. Có nhiều người cùng dân tộc, màu da, tiếng nói, nói chung, chúng ta cũng chỉ có chút cảm tình, chúng ta có thể biết nhau và hiểu nhau, nhưng nói là yêu nhau thì chắc là không. Những người bạn cùng sinh hoạt trong một nhóm hội, một cộng đoàn, một giáo xứ, chúng ta cũng chẳng quan tâm nhiều lắm. Nếu nói yêu thích thì không hẳn, nhưng chúng ta có chút tình cảm thân thương, liên đới và sự gắn bó gần gũi.

Chúng ta thử giới hạn lại trong đời sống đại gia đình, trong đó có cha mẹ, vợ chồng, con cái và anh chị em là những người sống gần gũi nhất, chúng ta thật sự yêu thương họ bao nhiêu. Trong gia đình, đôi khi anh chị em chúng ta còn tranh dành, cãi cọ, phiền trách và giận hờn nhau. Tình yêu dành cho những người thân thường được biểu lộ qua sự quan tâm, lo lắng, cảm thông, tha thứ, hy sinh và chăm sóc cho nhau. Hãy tự vấn xem chúng ta có đối xử tốt, tôn trọng, quý mến và yêu thương nhau thật tình không? Gia đình chính là tổ ấm của tình yêu.

Tất cả mọi thứ tình yêu trên đời đều tương đối và vô thường. Tình yêu cha mẹ con cái được kể là sâu đậm nhất. Tình yêu vợ chồng rất cao quý thật đáng khâm phục và tôn trọng. Trong cuộc đời, đã có những cặp vợ chồng sống trung tín tới tuổi già và tóc bạc răng long. Chính họ đã biết lo lắng, thông cảm, tha thứ và hoàn thiện lẫn nhau. Họ đã dám hy sinh cho nhau và cho con cái, cao quí nhất vẫn là tình phụ và mẫu tử. Qua mọi thời, đã và đang có nhiều gia đình sống trong an vui và hạnh phúc yêu thương.

Đời thường người ta đề cao tình yêu trai gái và tình yêu lứa đôi là cao đẹp và gắn bó nhất. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta thấy có rất nhiều anh chị lúc đầu yêu nhau tha thiết quyết định đi đến hôn nhân, nhưng rồi sau một thời gian chung sống, nhiều cặp vợ chồng cũng có những đổ bể, ly thân, ly dị và thù ghét nhau. Theo dõi tin tức xa gần, chúng ta nghe biết đã có những người dám tự tử vì yêu. Trong những trường hợp này, có lẽ họ đã đặt nền tảng tình yêu trên nền cát và sự chọn lựa không cân xứng. Vì không chiếm hữu được hoặc bị mất người yêu, nên đã tự tử. Đây có thể là một thứ tình yêu bồng bột, tình yêu Solonpas, tiếng sét ái tình và tuyệt vọng vì yêu.

Chúng ta suy về ý nghĩa đích thực của chữ YÊU. Tình yêu quanh quyện trong lòng mọi lúc và ở mọi nơi. Yêu nhau ở xa thì nhớ, ở gần thì thương. Thương nhau là muốn ôm ấp, muốn ngắm nhìn, muốn chia sẻ, muốn lo lắng chăm sóc và muốn ở bên cạnh. Xem ra tình yêu rất bao la, nhưng cũng rất giới hạn. Chúng ta nói rằng chúng ta yêu thương mọi người, nhưng thực sự chúng ta chẳng yêu thương ai tròn đầy. Chỉ nói tiếng yêu cho đẹp thôi. Làm sao gọi là tình yêu, khi làm việc gì cũng so sánh, chành cạnh, phân biệt hơn thua và còn lạm dụng lẫn nhau để tiến thân. Tuy nhiên xét cho cùng, về mặt tích cực của tình yêu gia đình, vì có yêu thương nên mới có ghen và vì có yêu nhau nên có những sự góp ý, chỉnh sửa, cấm cản, cằn nhằn và tranh cãi cũng là để giúp nhau nên hoàn thiện. Mỗi người hãy tự hỏi ai là người chúng ta yêu thương nhất và chúng ta đã đối xử với người đó thế nào?

Chúng ta có thể tìm mẫu tình yêu chân chính và cao quí nơi Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cho chúng ta một giải đáp của tình yêu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Chúa Giêsu đã hy sinh hiến mình trên thập giá để cứu độ chúng ta. Chúng ta biết rằng hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Chúa Giêsu đã chết cho kẻ tội lỗi là chúng ta. Tình yêu của Chúa vượt trên mọi thù hành, ganh ghét, bách hại, tù đầy và giết chóc. Tình yêu thí mạng của Chúa cao vượt mọi thứ tình yêu. Chúa mời gọi chúng ta hãy yêu như Chúa yêu.

Có lẽ phần đông trong chúng ta sống giới luật yêu thương cách ơ hờ như khách bàng quan. Đôi khi chúng ta cũng cảm thông và động lòng trắc ẩn chia sẻ chút ít cơm áo, tiền bạc giúp đỡ những người đau khổ và cùng khốn trong một vài trường hợp. Việc bác ái của chúng ta còn bị cân đo đong đếm và rất giới hạn. Làm phước nhưng muốn được phước báo ngay, cần phải có lời cám ơn, đăng tên hoặc muốn được nêu danh khen ngợi. Tình yêu của chúng ta bị giới hạn trong sự ích kỷ riêng tư và thiếu vị tha. Chúng ta thường muốn sống trong tình yêu trao đổi cân xứng. Thật ra yêu nhiều thì cho nhiều và cho nhiều là yêu nhiều. Tình yêu vị tha được nhận biết và trân quí khi chúng ta có từ bi tâm và hiến mình vì người khác.

Trong Giáo Hội, không thiếu những vị đã học bài học yêu nơi Chúa. Các ngài đã dám xả thân vì bạn hữu như các vị: Cha Thánh Đamien Molokai, tông đồ người hủi tại Hawaii; Thánh Francis Xavier hiến dâng cuộc đời đem tin mừng cho các dân tộc Á Châu; Đức cha Jean Cassaigne đã hiến thân mình nơi trại cùi Di Linh, Việt Nam. Chân phước Têrêxa thành Calcutta hy sinh một đời phục vụ những kẻ cùng khốn tại Ấn Độ và qua mọi thời đại, đã có rất nhiều mẫu gương của các đấng bậc và anh chị em đáng yêu kính đã dõi theo bước chân của Thầy Chí Thánh để xả thân vì yêu. Các ngài đã học yêu thương như Chúa đã yêu các ngài.

Lạy Chúa, chúng con muốn yêu Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết tâm hồn và hết sức cùng yêu thương anh chị em như chính mình. Chúng con ước muốn yêu và được yêu, nhưng lòng chúng con vẫn thờ ơ và chìm đắm trong tham sân si mà thiếu lòng bao dung. Chúa còn mời gọi chúng con hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho họ. Cầu nguyện cho kẻ thù thì chúng con có thể làm, nhưng tha thứ và yêu họ thì chúng con cứ khất lần. Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở lòng, mở trí và ban thêm sức mạnh để chúng con biết yêu và yêu như Chúa đã yêu chúng con.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Rửa chân

[caption id="attachment_3915" align="aligncenter" width="468" caption="“Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”"][/caption]

Rửa chân là bổn phận phục vụ và là công việc của tôi tớ (hoặc nô lệ). Ngày xưa, tôi tớ phải rửa chân cho chủ. Việt Nam không “lệ” rửa chân, nhưng tôi tớ lại phải khom lưng hoặc nằm xuống cho chủ bước qua.

Rửa chân là một cách phục vụ của tôi tớ. Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa nhưng Ngài đã hạ mình để làm việc của tôi tớ mà rửa chân cho người khác, dù Ngài đã xác định: “Tôi tớ không trọng hơn chủ” (Ga 13:16a; Ga 15:20) và “kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi” (Ga 13:16b). Trước khi các Giáo hoàng ký các văn bản, truyền thống Giáo hội có “cách nói” khiêm nhường thật tuyệt vời: “Tôi tớ của các tôi tớ”.

Có lẽ chân đi nhiều nên phải rửa. Tay muốn phạm tội mà chân không đi thì cũng… “bó tay”. Rửa chân còn có nghĩa là yêu thương, khiêm nhường, phục vụ và tha thứ.

Rửa chân là yêu thương


Trong Phúc âm, thánh Gioan ghi chép lại nghi lễ rửa chân do chính Chúa Giêsu thực hiện vào đêm cuối đời Ngài trên thế gian. Đây là điểm khác so với các Phúc âm nhất lãm. Rửa chân người khác là hành động yêu thương. Nghi thức rửa chân chỉ có trong Phúc âm của thánh Gioan – là “chàng trai trẻ” tự xưng “người môn đệ Chúa yêu” (Ga 13:23; Ga 19:26; Ga 13:23; Ga 20:2; Ga 21:7 & 20), và vì thế mà thánh Gioan cũng rất thích nói về tình yêu. Người rửa chân là “người thực hành yêu thương”, còn người được rửa chân là “người được yêu thương” – và cũng có trách nhiệm yêu thương người khác.

Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, như thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8). Tình yêu ấy là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, là khối tình cuồng si không ai hiểu thấu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10). Tình yêu có lý lẽ riêng của con tim mà lý trí không thể hiểu hết, nó có những nghịch lý vừa “kỳ diệu” vừa “dễ thương” và khả dĩ chấp nhận. Thánh Gioan phân tích: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo (1 Ga 4:12). Đại văn hào Victor Hugo cũng có ý tưởng độc đáo:“Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết vì yêu lại là sống trong tình yêu. Quá ngược đời, và lạ thật! Người đời còn nhận ra như vậy, huống chi Thiên Chúa.

Rửa chân là khiêm nhường

Người có lòng yêu thương thì luôn sống khiêm nhường. Mà khiêm nhường chính là nền tảng mọi nhân đức. Rửa chân người khác là động thái chứng tỏ sự khiêm nhường, khi chúng ta làm vậy là chúng ta vâng lời mà thực hành mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền dạy. Chúa Giêsu quan tâm công việc mà người ta cho là hèn hạ đó, thế nên chúng ta cũng phải noi gương mà làm với sự vui vẻ và lòng khiêm nhường, khi đó chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa để hiểu đúng và làm đúng. Ý nghĩa sâu sắc này sẽ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của gương Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay.

Có vẻ lạ khi 3 tác giả phúc âm kia (Mátthêu, Máccô và Luca) tập trung vào Bánh và Rượu mà Chúa Giêsu biến thành Mình Máu Ngài lúc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều tối ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối cuối cùng của đời Ngài. Tông đồ Gioan lại có cái nhìn hoàn toàn khác. Chúng ta biết rằng “người môn đệ Chúa yêu” ghi lại đầy đủ các hành động và lời nói của Chúa Giêsu, còn các tác giả kia không ghi lại. Câu trả lời có thể đơn giản là Gioan cảm thấy nghi thức rửa chân cần được thuật lại trong Tân ước. Mặt khác, Gioan có thể nhận thấy có sự nối kết trực tiếp giữa việc rửa chân và “việc làm khác thường” của Đức Kitô trong cuộc đời Ngài, trong cái chết của Ngài và sự sống đời sau.

Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Chúa Giêsu một cách trọn vẹn, không chỉ rửa chân cho người khác mà còn cúi xuống hôn chân người được rửa chân. Một động thái “kỳ lạ” gây ấn tượng rất sâu sắc và thật là dễ thương!

Rửa chân là phục vụ


Người có lòng khiêm nhường thì luôn sẵn sàng phục vụ người khác. Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20:26). Ngài không nói cho có lệ, không nói suông, mà chính Ngài đã nêu gương và xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28).

Nghi thức rửa chân được ghi lại trong Ga 13:1-17 cho chúng ta một cái nhìn mới về tính cách của Đấng Cứu Độ. Khi nào chúng ta áp dụng bài học “độc nhất vô nhị” này trong đời sống, chúng ta sẽ có thể hiểu hơn về lý do có người vẫn cố gắng đi tìm hạnh phúc mà chưa đạt được trọn vẹn, còn có người lại may mắn đầy ắp niềm vui sướng – như người Việt Nam nói: “Sướng từ trong trứng sướng ra” hoặc “đẻ bọc điều”. Đây cũng là một bí ẩn mầu nhiệm của cuộc đời, một dạng “vô cực”.

Chúa Giêsu đã làm công việc mà người ta cho là hèn hạ, đó là rửa chân, nhưng không phải là rửa chân cho người trên mà là rửa chân cho người dưới quyền mình. Rõ ràng là Ngài không muốn được phục vụ mà chỉ muốn phục vụ. Tuy nhiên, đó cũng chính là mệnh lệnh của Ngài: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-16).

Thánh Luca cũng nói đến việc đó trong buổi tối lễ Vượt Qua: “Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. Đức Giêsu bảo các ông: Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ (Lc 22:24-27).

Qua hành động, Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng Ngài không đòi hỏi chúng ta làm gì cho Ngài, dù Ngài là Thủ lĩnh và Đại huynh của chúng ta, đáng lẽ Ngài phải được người khác phục vụ, thế mà Ngài lại phục vụ họ – tức là chúng ta, và Ngài không chỉ muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải vui vẻ phục vụ nhau. Như vậy, chắc chắn sự phục vụ là thực chất của việc lãnh đạo.

Chúa Giêsu thích phục vụ, cả đời Ngài rong ruổi khắp nơi để phục vụ người khác – đặc biệt là những người nghèo khổ. Điều này được xác định qua mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và tông đồ Phêrô trong trình thuật Ga 13:6-10:“Chúa Giêsu đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa với Ngài: “Thưa Chúa, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô lại thưa:“Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”. Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Vừa sợ không được chung phần vừa khoái chí, ông Phêrô phấn khởi: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa”. Chúa Giêsu cười rất hiền: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa, toàn thân người ấy đã sạch”. Và Ngài “láy” một câu quan trọng:“Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”.

Rửa chân là tha thứ

Người mau mắn phục vụ thì dễ dàng tha thứ. Vì cảm nghiệm được ơn tha thứ nên muốn tha thứ, muốn rửa mình và rửa người khác. Ở đây, động từ “rửa” không chỉ là làm cho sạch mà còn là tha thứ. Phàm cái gì bẩn thì phải rửa, dù bẩn theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. Thánh vương Đa-vít cũng đã cầu nguyện: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy”(Tv 51:4).

Rửa sạch là việc cần làm ngay, tha thứ cũng là việc cần làm càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt. Có lần ông Phêrô hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18:21). Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22). Không chỉ vậy, chúng ta còn phải yêu thương, tha thứ, cầu nguyện và làm ơn cho cả kẻ thù nữa (Mt 5:44; Lc 6:27). Khó quá, nhưng không được phép không làm!

Tha thứ mỗi ngày 1 lần cũng khó rồi, nhất là khi “sự xung đột” trầm trọng, huống chi mỗi ngày tha thứ 7 lần. Giáo hoàng Phêrô nghĩ mình có thể tha thứ 7 lần là “ngon” lắm rồi, ai dè… “bị hố”!

Chúng ta thực sự may mắn nên có thể tạ ơn vì luôn tận hưởng hồng ân tha thứ mỗi khi chúng ta cần đến Lòng Thương Xót của Chúa. Nếu chúng ta không biết tha thứ thì chúng ta là người đầy tớ không biết thương xót đồng loại (x. Mt 18:23-35), nghĩa là chúng ta vừa ích kỷ vừa độc ác nên không thể được Thiên Chúa tha thứ!

Lòng Chúa Thương Xót quá lớn nên ơn tha thứ của Ngài cũng vô cùng, vẫn cầu xin Chúa Cha thương chính những kẻ đã dã tâm giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Tạm kết

Cuối cùng, chúng ta phải ghi nhớ lời Chúa Giêsu nói về việc rửa chân: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 13:17). Chúa Giêsu nhấn mạnh đến việc thực hành chứ không bảo chúng ta nghe biết cho vui tai.

Ngài chú ý cách thực hành tích cực, và chúng ta chắc chắn sẽ hạnh phúc nếu chúng ta thực hành điều Ngài đã làm. Ngài biết rằng sự đố kỵ, ghen ghét, bực tức, và thiếu lòng tha thứ làm chúng ta bị hạn chế và ngăn cản sự phát triển tâm linh của chúng ta. Nếu chúng ta cho phép những điều đó xảy ra, cuối cùng chúng sẽ hủy diệt chúng ta.

Khi tham dự phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta hãy suy niệm những bài học Chúa Giêsu đã làm, chúng ta sẽ cố gắng khiêm nhường và cảm nghiệm niềm hạnh phúc khi noi gương Thầy Chí Thánh Giêsu trong việc phục vụ nhau bằng cách tha thứ lẫn nhau.

Vậy thì chúng ta đích thực là môn đệ của Chúa Giêsu, như Ngài đã tâm sự:“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15:15). Là thân phận tôi tớ, thậm chí chỉ đáng làm nô lệ, thế nhưng chúng ta lại được Chúa Giêsu gọi là bạn hữu và là môn đệ. Còn hạnh phúc nào hơn?!

Lạy Chúa, xin rửa chúng con được sạch. Xin giúp chúng con biết chân thành yêu thương, luôn sống khiêm nhường, vui vẻ phục vụ và mau mắn tha thứ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Sức Mạnh Của Thập Giá

[caption id="attachment_3891" align="aligncenter" width="480" caption="Không có giếng nào sâu hơn tình yêu của Thiên Chúa..."][/caption]

Vào năm 1856, các nhà khảo cổ đã thực hiện một cuộc khám phá đầy thú vị tại đồi Palatino ở Rôma. Khi đào bới lớp đất bao phủ một trại lính Rôma cổ, trên vách một bức tường họ tìm thấy một cây thập giá được một người lính nào đó dùng đinh hay mũi dao cắt một cách vụng về trên tường. Bên cạnh thập giá là hình một chàng thanh niên giơ tay chào kính thập giá. Trên thập giá có vẽ hình một người nhưng đầu là hình một con lừa. Dưới hai bức hình người ta thấy có viết hàng chữ: “Alexandre Menos thờ lạy Chúa của hắn”.

Các nhà khảo cổ cho rằng có thể bức tranh đã được thực hiện khoảng giữa những năm 123 và 126 sau công nguyên. Nếu sự phỏng đoán về niên biểu này đúng thì đây có lẽ là hình vẽ về thập giá cổ xưa nhất và đồng thời cũng là một thập giá bị nhạo báng. Người ta có thể đọc được ý tưởng đàng sau hình vẽ ấy như sau: “Nếu Thiên Chúa mà chết trên thập giá thì đây là một hành động yếu hèn, khờ dại như hành động của một con lừa. Và cả những người thờ lạy Thiên Chúa trên thập giá cũng là những kẻ ngu dại như lừa”.

Vào năm 1870, các nhà khảo cổ đã tìm được câu trả lời mà họ nghĩ là của một chàng thanh niên mang niềm tin Kitô tên là Alexandre Menos. Ở một cột trụ bằng đá dựng hình một vị thần vốn là thần của chiến tranh, người ta lại đọc được dòng chữ như sau: “Alexandre Menos vẫn vững tin”.

***


Quả thật, hình ảnh của một Thiên Chúa chịu treo trên thập giá là một hình ảnh khủng khiếp. Hình ảnh này tự nhiên gợi lên sự yếu nhược và khờ dại, nhưng Thánh Phaolô lại biện hộ cho hành động mà người đời cho là điên rồ ấy như sau: “Tiếng nói của thập giá đối với những kẻ hư hỏng là điên rồ. Còn đối với những người được cứu rỗi, tức chúng ta, thì đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Thật vậy, người Do Thái đòi hỏi phép lạ. Người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan. Còn chúng tôi thì giảng về Chúa Kitô chịu đóng đinh vào thập giá. Người Do Thái cho đó là điều xấu xa, còn những người ngoại giáo thì cho là dại dột. Nhưng với tất cả những ai được Thiên Chúa tuyển chọn thì Chúa Kitô chịu đóng đinh là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa”.

Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta chiêm ngưỡng sự khôn ngoan và sức mạnh ấy của Thiên Chúa. Từ thập giá ấy chúng ta cũng múc lấy sự khôn ngoan và sức mạnh để vác lấy chính thập giá của mỗi người chúng ta. Một người đàn bà tại trại tập trung Ðức quốc xã đã viết một lời nguyện và cài vào thi thể của đứa con gái nhỏ của mình.  Người đàn bà cầu nguyện như sau:

“Lạy Chúa, xin Chúa không chỉ nhớ đến những người thiện chí mà cũng thương đến những kẻ ác tâm, nhưng xin Chúa đừng nhớ đến tất cả những khổ đau mà họ đã gây ra cho chúng con. Xin Chúa hãy nhớ đến những hoa quả mà chúng con đã có được nhờ những đau khổ này, đó là tình bạn, sự trung thành, tính khiêm tốn, lòng can đảm, trái tim quảng đại, tâm hồn cao thượng đã đâm chồi nẩy lộc từ những khổ đau ấy. Và khi chúng con ra trước toà Chúa, xin cho những hoa trái ấy trở thành bảo chứng của ơn tha thứ dành cho họ”.

Bexitanbul, người thiếu nữ cũng chết trong cùng một trại tập trung đã thề nguyền không bao giờ thù ghét những cai tù đã từng đánh đập hành hạ cô. Trong cơn hấp hối, người thiếu nữ này đã thốt lên như sau: “Chúng ta phải nói với mọi người những gì mà chúng ta đã học được ở đây. Chúng ta phải nói với họ rằng không có giếng nào sâu hơn tình yêu của Thiên Chúa”.

Những lời trên đây đã xuất phát từ miệng của những con người đã bị chính người đồng loại của mình đày vào tầng đáy của địa ngục trần gian. Họ đã tìm thấy sức mạnh và lẽ khôn ngoan của thập giá.

Lạy Chúa Giêsu,
Chiêm ngắm và hôn kính Thập Giá Chúa trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, xin cho chúng con cũng biết đến kín múc sức mạnh và lẽ khôn ngoan từ thập giá Chúa. Xin cho chúng con biết đón nhận thập giá mỗi ngày và đi theo chân Chúa với tất cả những tín thác và tin yêu.

 R. Veritas

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Tại sao Ngài bị đóng đanh?

[caption id="attachment_3850" align="aligncenter" width="462" caption="“Ngài bị đóng đanh vì yêu thương tôi và yêu thương bạn?”"][/caption]

Tại sao Ngài bị đóng đanh?” Có lẽ đây là câu hỏi mà cả người yêu lẫn người ghét Ngài đều muốn có câu trả lời. Nhưng trải qua hơn 2.000 năm sau bản án bất công dẫn đến cái chết nhục nhã của Ngài trên thập giá, câu hỏi này vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng, ít nhất là theo sự hiểu biết về tri thức của con người. 



Nhưng để tìm được câu trả lời thoả đáng, có lẽ chúng ta cần phải trả lời được câu hỏi mà chính Ngài lúc sinh tiền đã hỏi các môn đệ mình. Ngài đã có lần hỏi các ông: “Người ta bảo Con Người là ai?” (Mt 16,13). Thánh Kinh cho biết, trước câu hỏi ấy các Tông đồ đã tỏ ra lúng túng. Họ vay mượn ý kiến của người này, người khác để nói về Ngài. May mắn có Phêrô đã trả lời đúng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (Mt 16,16). Nói Phêrô may mắn trả lời đúng, vì thực sự chính ông cũng chẳng hiểu điều ông nói, vì sau đó khi có dịp để hiểu về Đức Kitô như thế nào thì ông đã tỏ ra rất thiếu sót. Do ở sự thiếu sót ấy, Ngài đã gọi ông là Satan. Bởi vì điều ông xưng tụng Ngài là Đức Kitô và việc ông ngăn cản Ngài đừng hoàn tất sứ vụ của Đức Kitô là những gì hoàn toàn trái ngược. Ngăn cản không để Ngài hoàn thành sứ vụ của Đức Kitô là một cám dỗ nghiêm trọng mà chỉ có Satan mới xúi giục Phêrô nghĩ như vậy và nói ra như vậy.

Để hoàn tất sứ mạng của Đức Kitô thì Ngài phải chấp nhận đau khổ, phải chấp nhận cực hình, và chịu tử hình trên thập giá. Và đây là lý do để Ngài phải chịu đóng đanh. Đối với những ai yêu mến Ngài thì thương cảm, và biết ơn Ngài, vì nhờ cái chết nhục nhã ấy đã giải thoát họ khỏi án phạt muôn đời, khỏi vòng nô lệ của Satan, và được sống trong tự do của con cái Chúa. Ngược lại, đối với những kẻ ghét Ngài, những ai tưởng rằng niềm tin vào Ngài là những nhận thức và cảm thức lỗi thời, lạc hậu, mê tín thì ghét bỏ Ngài, xua đuổi Ngài, hoặc ít là làm ngơ. Các trường phái tư tưởng từ vô thần, duy tâm, duy lý, duy vật, hiện sinh, ngay cả đến lý thuyết Cộng sản có khi chia rẽ nhau về nhiều điều, nhưng hợp nhau trong sự coi Ngài là kẻ thù chung. Vì đối với những người theo các tư tưởng này, thập giá chính là cái cớ cho họ vấp ngã. Một sự nhục nhã, vô lý đến độ không thể chấp nhận được. Nguyên nhân chính vẫn là Satan luôn xúi giục con người đừng chấp nhận Ngài là Đức Kitô, Đấng đã bị đóng đanh chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại. 

Tại sao người ta ghét Ngài? 

 
Trong cuộc đời Ngài, sự yêu và sự ghét đã tỏ lộ cách mãnh liệt, hơn bất cứ trong cuộc đời người nào khác. Chính Ngài đã biết và đã tiên báo mình sẽ được yêu mến cũng như bị khinh chê, nhạo báng. Ngài cho biết người ta sẽ thờ phượng Ngài cũng như sẽ khinh dể Ngài. Ngài sẽ được yêu mến nhiệt tình và bị ruồng bỏ cực độ. Ngài cũng tiết lộ cho biết cuộc song đấu này sẽ kéo dài cho đến ngày thế mạt.  
 
Khi nói Ngài sẽ bị thế gian ghét bỏ nhưng thế gian đây phải hiểu là tinh thần thế tục, những lý thuyết mâu thuẫn với tinh thần Phúc Âm. Ngài vừa sinh ra đã được cụ già đáng kính Simêon nói với mẹ Ngài rằng Ngài sẽ là dấu hiệu gây sự chống đối. Điều mà Thánh Gioan sẽ diễn tả sau này: “Ngài vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Ngài tác thành, và thế gian đã không nhận biết Ngài. Ngài đã đến nhà Ngài, và các gia nhân Ngài đã không tiếp nhận Ngài” (Ga 1,10-11).

Ngài đã làm gì nên tội để phải chết? Ngài hiền hoà, khiêm nhượng hết lòng. Ngài chữa các thương tật, lại bị đả thương. Ngài cho kẻ chết sống lại, lại bị giết chết. Ngài cải ác khuyến thiện, mà lại bị đóng đinh thập giá. Ngài đem sự sống thần linh hoà giải loài người, mà bị kẻ thù hạ sát vũ nhục. Chúng ta hãy nhìn vào những người đã lên tiếng đả đảo, kêu án và vui mừng khi thấy Ngài bị đem đi để đóng đanh vào thập giá. Họ là những Pharisiêu, luật sĩ, kinh sư và thượng tế. Họ căm thù Ngài vì Ngài đã nặng lời nguyền rủa và phơi bày ra ánh sáng những hành vi, lối sống đạo đức giả, lòng tham lam và ham mê quyền lực của bọn họ. Bọn họ chính là đại diện của tinh thần Satan, tinh thần và lối sống thế tục.

Tổng trấn Philatô đã không tìm được lỗi nào để kết án Ngài, nhưng dưới sức ép của bọn người này, ông đành phải tuyên án Ngài. Điều khiến cho chúng ta giờ đây phải suy nghĩ, đó là Philatô đã có ý định đánh đổi Barabba một tội phạm khét tiếng để lấy Ngài. Nhưng rồi vì không muốn Ngài sống, nên bọn luật sĩ, kinh sư và thượng tế đã bằng mọi cách xúi giục dân chúng để chọn Barabba. Ở một nghĩa nào đó, Ngài đã chết thay cho Barabba, và tên cướp này được sống là vì cái chết của Ngài.
 
Nhìn xa hơn nữa, Barabba đây cũng chính là hình ảnh của nhân loại tội tình. Tội phản nghịch đến Trời, tội phạm đến tha nhân, và tội phạm đến chính con người của mình. Tội của những tư tưởng, lời nói, và hành động chống lại với Tin Mừng của Ngài. Và có thể nói, cái chết của Ngài là vì chúng ta và cho mỗi người chúng ta. Chỉ có điều là rất nhiều lần chúng ta không biết hoặc không quan tâm đến cái chết đó. Những lần đó là những lần chúng ta xúc phạm đến Ngài qua anh chị em của Ngài. Là những lần chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ trước tiếng mời gọi của lương tâm. Những lúc như vậy chúng ta cũng đã bỏ Ngài, chọn Barabba, và cũng đã đóng đinh Ngài. 
 
Tại sao người ta yêu mến Ngài?
 
Ngược dòng lịch sử, chưa có người nào khi đã chết, còn được người ta yêu mến đến mức tế tự, cầu xin! Đó là lý do tại sao trong mọi thời đại, thập giá và cái chết của Ngài vẫn thấm đậm nước mắt tình yêu. Nhiều người vẫn hăm hở chạy đến với Ngài. Như Phaolô xưa, họ cũng tuyên xưng: “Ai sẽ tách biệt chúng tôi ra khỏi tình yêu Đức Kitô? Tôi tin rằng dù sự sống hay sự chết, dù thiên thần, lãnh thần hay quyền thần; dù tương lai hay sức mạnh; dù sự cao sâu hay bất cứ sự vật nào, có sức tách biệt chúng tôi ra khỏi tình yêu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi!” Vì tất cả những người này đều ý thức được rằng Ngài đã chết vì họ, vì yêu thương họ, và vì muốn giải thoát họ khỏi hệ luỵ của Satan và của tội lỗi!
 
Có một khoảnh khắc nào trong thinh lặng, một mình trong một góc giáo đường hay ngay trong phòng khách, phòng làm việc của mình, bạn đã đưa mắt nhìn lên cây thập giá để tự hỏi lòng mình, hoặc hỏi những người quen đọc Thánh Kinh, quen tham dự Thánh Lễ, và quen thực hành sống đạo rằng “tại sao Ngài lại bị đóng đanh” chưa? Bạn hãy làm thử một lần xem sao, và bạn sẽ nhận được những câu trả lời chất chứa ngọn lửa tình yêu Chúa Giêsu trong trái tim bạn cũng như trong họ. Hãy đến gõ cửa một dòng nữ ẩn tu, như Dòng Cát Minh, Dòng Clara, hoặc Dòng Biển Đức, Dòng Châu Sơn, Dòng Phước Sơn để hỏi: “Tại sao các đan sĩ này vào dòng, có phải vì thất tình chăng? Có phải vì họ không có khả năng sống một cuộc sống hạnh phúc, thành công như trăm ngàn người khác không?” Và câu trả lời chắc chắn là “không”. Họ làm thế chính là do sự khát khao một tình yêu toàn hảo. Đó là điều đã dẫn họ cũng như chúng ta đến với Đấng đã dựng nên ta và chịu chết vì ta. Vì thiếu Ngài chúng ta không thể hạnh phúc được. Ngài đã tìm kiếm trái tim hèn yếu của chúng ta. Khác tất cả các trái tim đã từng sống động, Trái Tim Ngài đã được yêu mến trên hết mọi sự, hơn cả sự sống nữa. Văn hào Pascal đã kết luận: “Chúa Giêsu đã muốn được người ta yêu mến. Ngài đã đạt, vậy Ngài là Thiên Chúa”. Còn Thánh Augustine thì than thở: “Chúa đã dựng nên cho tôi một trái tim, và nó không ngừng thổn thức cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”.
 
Một điều xem như hiển nhiên là khi bạn yêu thập giá  Đức Kitô, bạn cũng bằng một cách nào đó chấp nhận bị đóng đanh trên đó. Và đây là lời tiên tri Ngài đã nói trước: “Đầy tớ không hơn chủ được. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, thì họ cũng bắt bớ các con” (Ga 15,20). Trong thực tế, chính đời sống lương thiện, đời sống bác ái, công bằng của bạn đã là một sự thua thiệt trước mắt thế gian. Và thế gian sẽ không tha cho bạn, vì lối sống và hành vi của bạn đi ngược lại với những gì mà thế gian thường suy nghĩ và hành động. Hai mươi thế kỷ đã qua, sự ghét Ngài vẫn chưa nguôi. Và sự thù ghét mà thế gian đổ trên đầu những ai yêu mến Ngài vẫn chưa chấm dứt, vì thập giá Ngài là một chướng ngại vật làm cản trở tội lỗi, tính ích kỷ, lối sống vô thần và tinh thần thế tục. 

Tóm lại, nếu bạn hỏi Chúa Giêsu câu hỏi: “Tại sao Ngài bị đóng đanh?” Chắc chắn bạn sẽ không được nghe Ngài trả lời. Sự im lặng của Ngài trên thập giá chính là câu trả lời đầy đủ và ý nghĩa nhất. Còn nếu bạn hỏi tôi: “Tại sao Ngài bị đóng đanh?” Tôi sẽ trả lời bạn rằng: “Ngài bị đóng đanh vì yêu thương tôi và yêu thương bạn?” Hãy thử nghĩ lại xem, nếu không có cái chết của Ngài lúc này bạn và tôi sẽ còn ra như thế nào. Đức Tổng Giám mục Fullton Sheen đã nói rất chí lý: “Chỉ có sự gì thuộc về Thiên Chúa, mới được yêu mến vô cùng, hoặc bị ghét bỏ vô cùng”. 
  

Trần Mỹ Duyệt

Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Ý nghĩa cái chết của Chúa

[caption id="attachment_3789" align="aligncenter" width="504" caption="“Tôi thấy bình minh của thế giới đang bắt đầu ló dạng qua Thập giá Đức Kitô”"][/caption]

Có một làng nọ hay xảy ra nạn ăn cắp, vị quan ra chỉ thị: nếu ai ăn cắp sẽ bị đánh 10 roi. Luật được phổ biến nhưng vẫn bị ăn cắp. Quan tăng 20 roi. Lại vẫn không hết nạn ăn cắp trong làng. Quan mới tăng 30 roi. Bất ngờ người ta khám phá ra mẹ của quan chính là thủ phạm. Thương mẹ lắm, nhưng vì luật phải thi hành, nên quan cho lính bắt trói mẹ lại và cho đánh 30 roi. Tuy nhiên, khi bắt đầu đánh, quan cởi đồ áo ra và nằm trên người mẹ để chịu đòn thay cho mẹ.

Tác giả câu chuyện kết luận: đó là giây phút đẹp nhất, giây phút vĩnh cữu, giây phút giữa tình yêu và công lý gặp nhau!

Câu chuyện trên đây giúp chúng ta hiểu phần nào ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Thập giá là chữ T nói tới 3 ý nghĩa qua ba chữ T khác: Tội, Tình và Tha Thứ.

1. Chúa chết là vì tội ta

Cũng như vị quan đã chịu đòn thay cho mẹ mình, Chúa Giêsu chịu khổ nạn và chết trên thập giá vì tội của ta.

Nhìn lên Thập giá Chúa, chúng ta ý thức về tội của ta và tội của cả nhân loại. Như dân Do Thái nhìn lên con rắn đồng treo trong sa mạc, họ nhớ lại tội đã xúc phạm đến Thiên Chúa (x. Ds 21,4b-9).

Đức Giêsu chịu treo trên thập giá là vì tội lỗi nhân loại. Thánh Phêrô viết những lời thật ý nghĩa: “Tất cả tội lỗi của chúng ta, Đức Giêsu đã mang vào thân thể mà đưa lên cây Thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính” (2 Pr 2,24a). Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi của con người. Người chịu chết để con người được sống. “Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành” (2 Pr 2,24b). Nhìn ngắm Đức Giêsu trên thập giá, chúng ta ý thức về thân phận yếu đuối mỏng giòn và tội lỗi của mình. Như lời sách ngắm dạy: “Ơ tội Adong cùng tội tôi độc dữ hơn mọi giống thuốc độc, vì làm cho Chúa chẳng hay chịu sự gì khó, mà rày chịu trăm nghìn sự khốn khó, Chúa chẳng hay chết, bởi gánh tội tôi cho nên chịu chết làm vậy”.

Cái chết của Chúa là cái chết thay, chết vì tội lỗi của chúng ta. Chính vì thế, hy tế trên thập giá được tái diễn trong Thánh lễ khi linh mục đọc lời truyền phép: “Này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con... Này là Máu Thầy sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội”.

2. Chúa chết vì tình thương ta

Con người phạm tội đáng phải chết. Nhưng Thiên Chúa yêu thương và không bỏ rơi con người. Ngài tìm mọi cách cứu sống. Thập giá là lời chứng hùng hồn về tình yêu lớn lao đó: Thánh Gioan quả quyết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,17). Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại chính Con Một dấu yêu của Ngài. Đức Giêsu đã tự nguyện chết cho con người được sống: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15,13). Đây là tình yêu ở dạng thức cao cả nhất, tuyệt vời nhất - agape: một tình yêu dám hy sinh mạng sống vì người khác. Giờ Chúa chết là giờ đẹp nhất, giờ của công lý và tình yêu gặp gỡ nhau! Nhìn lên Đấng chịu đóng đinh trên thập giá, chúng ta cảm nhận tình thương của Chúa thật bao la.

3. Chúa chết để tha thứ cho ta

Thập giá không có Đức Kitô trở thành khổ giá, nhưng thập giá có Đức Kitô trở thành Thánh giá, là nguồn ơn cứu độ, là công cụ hoà giải giữa Thiên Chúa với loài người và giữa loài người với nhau. Qua Thánh giá, Đức Kitô chứng tỏ rằng tình yêu chiến thắng tất cả - amor vincit omnes. Lòng tha thứ lớn lao hơn sự hận thù và khoả lấp mọi tội lỗi. Nhờ Thánh giá mà chúng ta được tha thứ, được cứu độ và được làm con cái của Thiên Chúa. Per crucem et passionem tuam, libera nos, Domine: nhờ Thánh giá và cuộc khổ nạn của Ngài, xin giải thoát chúng con, lạy Chúa!

Trong đêm tối lao tù của Đức quốc xã, Thánh Edit Stein suy ngắm Thập giá Chúa và thốt lên rằng: “Tôi thấy bình minh của thế giới đang bắt đầu ló dạng qua Thập giá Đức Kitô”. Bình minh đó là bình minh cứu độ, bình minh hoà giải và tha thứ mà Thập giá Đức Kitô mang lại cho loài người.

Kết luận

Như thế, thập giá là chữ T nói với chúng ta 3 chữ T khác: Tội, Tình Yêu và Tha Thứ.

Nếu tội lỗi dẫn ta tới cái chết và huỷ diệt, thì tình yêu làm cho ta sống và hy vọng.

Nếu ai đó thấy mình quá tội lỗi, quá bất xứng, thì hãy tin rằng: Tình yêu Thiên Chúa bao giờ cũng lớn hơn tội lỗi con người.

Nếu ai đó đã hơn một lần thất vọng và quỵ ngã vì những lầm lỡ cuộc đời, thì hãy ngước nhìn lên Thập giá Chúa vì Thập giá là chìa khoá thiên đàng cho các tội nhân.

Per crucem et passionem tuam, libera nos, Domine! Nhờ Thánh giá và cuộc khổ nạn của Ngài, lạy Chúa, xin giải thoát chúng con!

Lm. Nguyễn Văn Hương

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Từ Trên Thập Giá

[caption id="attachment_3744" align="aligncenter" width="540" caption="“Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc, 23, 46)"][/caption]

Bảy lời sau cùng của Chúa Giêsu trên Thập tự


 1. “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ” (Lc 23, 34).

Câu nói đầu tiên của Chúa Giêsu trên thập giá là lời tha thứ, lời của một trái tim chan chứa yêu thương. Chúa chịu chết để mong xóa đi mọi tội lỗi của ta, để ta được nên tinh tuyền và thánh thiện nhờ tình thương của Ngài (Ep 1, 4). Dù tội lỗi của chúng ta có lớn lao đến mức độ nào chăng nữa thì cũng nằm trong tình yêu thương tha thứ của Ngài.

Trái tim biết tha thứ là trái tim của TC : một trái tim kết nối và hiệp thông, một trái tim của nhân nghĩa và chính trực, một trái tim của an vui và hòa bình

Chúa tha thứ cho chúng ta cũng là mong chúng ta hãy biết tha thứ cho nhau (Lc 6, 37; Mt 6, 14-15). Không có gì là không thể tha thứ được với một tâm hồn muốn sống trong hạnh phúc yêu thương, như Chúa đã yêu thương ta.

2. Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng (Lc 23, 43).

Chúa chết đi là để trao ban Thiên đàng cho người tội lỗi biết thật lòng ăn năn sám hối. Chúa mong muốn cứu rỗi ta còn hơn chính ta mong muốn. Hãy nói lên tiếng nói đón nhận Ngài từ chính con tim mình, để Ngài có thể trao ban cho ta tất cả.

Dù đang phải khốn khổ, nhưng người trộm lành vẫn biết hướng đến nỗi khốn khổ của người bên cạnh. Tấm lòng nhân ái đó đã giúp ông nhận ra Chúa Giêsu, Đấng biến nỗi đau thương của ông thành vinh phúc ngàn đời.

Một cách nào đó Chúa cũng đang chịu đau thương cùng với chúng ta, bên cạnh chúng ta. Đừng quay gót với những nỗi đau của mình, nhưng hãy bước ra khỏi chính mình để nhìn xuống với tâm tình cảm thông với anh em, và nhìn lên với tấm lòng cậy trông vào Chúa.

Điều quan trọng không phải là những lỗi lầm, nhưng sự nhận thức và thái độ phía sau những lỗi lầm mới là đáng kể. Mọi sự đều tùy thuộc vào tấm lòng. Giữa những đau thương ta cần có được tấm lòng chân thật và khiêm tốn như người trộm lành.

 3. “Thưa Bà, đây là con của Bà”.(Ga 19, 26).

Qua Thánh Gioan, Chúa trối phú ta làm con Đức Maria, một người nữ tuyệt vời có một không hai trong nhân loại. Mẹ là kho tàng thiêng liêng vô giá mà TC đã làm nên cho con người, là tình yêu thẳm sâu và cao quí nhất của Chúa Giêsu mà Ngài trao lại cho ta. Hãy đón nhận ân ban bao la này với lòng cảm mến chan chứa suốt cuộc đời ta.

Qua Chúa Giêsu tử nạn, Mẹ sinh ra ta bằng máu lệ trong đau đớn nhục nhằn, trong trái tim bị đâm thâu tan vỡ, để cho ta một đời sống mới trong vòng tay yêu thương của Mẹ. Hãy phó thác tất cả cuộc sống cho Mẹ với lòng tin tưởng và tha thiết mến yêu.

Từ nay, trên con đường bước đi theo Chúa với những vui buồn có Mẹ có con, sướng khổ Mẹ con chia sớt. Có Mẹ là có tất cả những gì con mơ ước. Với Mẹ mọi sự đều có thể. Nơi Mẹ mọi cái nơi con sẽ được tinh luyện trong sáng. Vì Mẹ con vui bước dấn thân sống cho mọi người.Trong Mẹ con tiến vào cõi hạnh phúc ngàn thu cùng với Chúa Giêsu.

4“Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46).

“Eli! Eli! Lamma sabacthani?”. Tiếng kêu than này trong ngôn ngữ Do Thái phô diễn một mầu nhiệm kinh khủng về sự kiện : Thiên Chúa từ bỏ Thiên Chúa. Thiên Chúa dường như đã không còn là TC nữa khi Ngài bị tước đoạt trần trụi vì tội lỗi chúng ta. Kinh nghiệm bỏ rơi cho thấy Chúa Giêsu đang ở mức độ tột cùng của mọi nỗi cô đơn : bị loài người từ bỏ không nói chi, nhưng dường như bị TC từ bỏ. Thiên Chúa vẫn có đó như mặt trời vẫn soi sáng ở không trung, nhưng áng mây đen dầy đặc của tội lỗi nhân loại đã che kín sự hiện diện của Ngài. Dù còn những người thân yêu đứng bên cạnh, nhưng sự hiện diện của họ chẳng thể bù lấp phần nào sự cảm nhận trống vắng TC trong tâm hồn. Điều đó cho hiểu rằng, khi con người đánh mất TC là niềm ủi an duy nhất của đời mình thì tình trạng sẽ ra kinh khủng như thế nào.

Trong nỗi đớn đau và cô đơn khủng khiếp Chúa Giêsu đã đền tội cho 3 hạng người : hạng người từ chối TC; hạng người nghi ngờ sự hiện diện của TC; hạng người lãnh đạm với TC. Cả 3 hạng người này đều hiển hiện một cách nào đó trong lối sống của mỗi người, và hậu quả bi thảm của nó mang tính cách nền tảng nhân sinh :

- Khi từ chối TC, đời sống của con người trở thành hư vô, và mọi sự trong đó chỉ còn phi lý và vô nghĩa, “cuộc đời đáng nôn mửa” (Jean Paul Sartre).

- Khi nghi ngờ sự hiện diện của TC, con người trở nên nghi ngờ chính mình; không thể thiết lập tương quan với TC thì tương quan với tha nhân chỉ còn là vá víu; ý nghĩa và giá trị cuộc sống bị lung lay; bản thân con người dễ trở thành miếng mồi ngon cho sự dữ hoành hành.

- Khi đã lãnh đạm với TC thì cuộc sống và mọi cái trong đó đều trở nên trơ trọi. Trong sự lãnh đạm đó, tình yêu không thể phát sinh, nên hạnh phúc cũng không thể thành hình. Trong tâm trạng đó mọi cái đều trở nên vô hồn, hoang vu và trống rỗng, và cuối cùng, con người là sự bế tắc cho chính mình. Chính vì thế mà tiếng kêu than của Chúa Giêsu đã vang lên từ trong cô đơn sâu thẳm của lòng người, cho con người và vì con người.

5Tôi khát (Ga 19, 28)

Trong đau đớn và tủi nhục, trong sầu thương và cô đơn tận cùng, Chúa Giêsu khao khát tình yêu. Chúa muốn nhận chịu tất cả vì tình yêu. Dù biết rằng yêu là chấp nhận tang thương, đổ máu, Chúa cũng vẫn tha thiết yêu cho tới cùng, vì con người là chóp đỉnh công trình tình yêu của Ngài : “Vì Ngài mà muôn vật được tạo thành”.

Mỗi người chúng ta nằm trong cơn khát của Chúa Giêsu. Tình yêu Ngài đã trút cạn cho ta, nên Ngài khao khát chính ta. Ngài đang chờ trái tim ta mở rộng cho nỗi khao khát của tình yêu Ngài. Lạ lùng thay ! một Thiên Chúa lại khát khao con người. Đó là điều không thể tưởng, nhưng có thật, cũng giống như mầu nhiệm Chúa làm người.

Thiên Chúa là Tình Yêu, mà Tình Yêu là cơn khát khôn nguôi, là dòng chảy khôn xiết, là sức mạnh khôn lường, là sự da diết khôn tả. Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô là như thế trong cuộc đời mỗi người chúng ta. Có điều trớ trêu thay, nhiều khi chúng ta không dám tin là như vậy, nhưng thực sự mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa là như thế. Hãy tin ! hãy cảm thụ cơn khát của Chúa Giêsu trên thập giá từ chính trái tim mình, để ta không còn sống bâng quơ và hững hờ trước ngọn lửa tình yêu đang bốc cao như thiêu đốt chính Ngài trong cơn khát vô cùng.

6. “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19, 30)

Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi sự theo ý muốn của Chúa Cha trong kế hoạch cứu chuộc nhân loại. Ngài đã làm tất cả những gì cần phải làm của một trái tim yêu thương đến tận cùng. Ngài đã hoàn tất để chúng ta bước vào sự khởi đầu của một đời sống mới. Tuy nhiên một cách thiêng liêng vô hình, mỗi linh hồn xa lạc vẫn còn là một đồi Canvê hành hình, mỗi tội phạm vẫn là một Thập Giá mới treo thân Chúa não nề.

Con người và thập giá là hai hình ảnh không thể tách rời trong cuộc sống nhân loại. Ngày nào con người còn là thập giá còn. Con người không thể coi thập giá như sự đối chọi nghiệt ngã của đời sống mình, nhưng phải coi như một sự tương tác để tồn tại và hình thành chính mình trong một sự sống mới mà Chúa Giêsu đã làm nên. Con người và thập giá, tuy không tương đồng tương ứng, nhưng tương khắc tương sinh theo cách thức của TC.

Chúa Giêsu đã rời khỏi thập giá để cho ta bước lên, không phải thập giá của hận thù nhưng là thập giá của tình yêu, không phải thập giá của người tử tội bị ruồng bỏ trong cô đơn nhưng là thập giá của người công chính được ôm ấp vào lòng của TC. Đó là thập giá của niềm vui và ân phúc, thập giá của chiến thắng và vinh quang, vì được hiến thân cho người mình yêu. Theo ý nghĩa đó trong cuộc đời ta, nếu không có ngày thứ sáu thụ nạn, sẽ chẳng bao giờ có Chúa nhật phục sinh; không có tủi nhục thì không có vinh quang; không có chiến đấu thì không có chiến thắng; không có khao khát thì không có no thỏa; không dám chết thì không thể sống lại. Chúa sẽ thực hiện và bảo toàn mọi diễn biến đó trong cuộc đời ta, chẳng có gì phải lo sợ. Có ai lại lo sợ khi mình đang được yêu.

7. “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc, 23, 46)

Chúa Giêsu đã qui hướng mọi sự về Cha, đã trao phó tất cả cho cha, và cuối cùng dâng trong tay Cha chính sự sống của mình. Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí (Ga 19, 30).

Tâm tình hiếu thảo của Chúa Giêsu đã đạt đến mức độ tối hảo trong việc làm vinh danh Cha. Tình thâm nghĩa thiết thật cao dày khôn sánh, đẹp quá tình nghĩa Cha Con thật thắm thiết đậm đà. Cha được rạng rỡ nơi Con, Con được tôn vinh nơi Cha, và Thánh Thần là Tình Yêu kết nối trong sự hiệp thông duy nhất. Nhiệm cục cứu độ là công trình tình yêu của TC Ba Ngôi muốn kết hiệp mọi người nên một trong sự sống Thần Linh  Thiên Chúa bây giờ và mãi mãi.

Nhờ Chúa Giêsu, con xin phó thác cuộc đời con vào lòng thương xót của Thiên Chúa, với tất cả lòng tin yêu, thờ lạy và cảm tạ đến muôn đời. Amen.

Lm. Thái Nguyên

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Xin lỗi, tha thứ và cảm ơn



Xin lỗi
1. Xin lỗi cho những lời hứa tôi đã không thể nào thực hiện, dẫu rằng biết sẽ làm cho ai đó thấy thất vọng...

2. Xin lỗi cho những phút tôi vô tâm, thờ ơ với nỗi đau của bạn...

3. Xin lỗi vì những ích kỷ, những vụng về, những hiểu lầm của tôi đã làm phiền đến bạn.

4. Xin lỗi vì những lời nói, hành động dù vô tình hay cố ý tôi đã làm tổn thương đến bạn hay bất cứ ai.

5. Xin lỗi vì nhiều lúc tôi không giúp được bạn và về những điều tôi muốn mà không dám làm...

6. Xin lỗi vì những lần bất hòa, những cãi vã, những mâu thuẫn,...

7. Xin lỗi bản thân vì đôi lúc, chính mình khiến mình đau khổ và nghĩ xấu về người khác...

8. Xin lỗi vì tôi đã cố gắng mà vẫn chưa làm được nhiều điều tốt đẹp cho cuộc đời và cho xã hội.
9. Xin lỗi vì tôi đã làm cho nhiều người thất vọng, hụt hẫng, mệt mỏi...

10. Xin lỗi vì tôi đã quá khác, quá thay đổi, vì đã không thể làm khác được...

Xin lỗi tất cả mọi người!



Tha thứ

1. Tha thứ cho những dối gian mà người khác dành cho tôi.

2. Tha thứ cho những gì xấu xa nhất mà người khác đã nghĩ về tôi.

3. Tha thứ cho những ai làm tôi khóc, đau lòng và rạn vỡ.

4. Tha thứ cho sự không chân thành, thờ ơ, dẫu tôi đã dùng cả trái tim để quan tâm, lo lắng và đối xử.

5. Tha thứ cho những khi bạn thờ ơ, lạnh nhạt với những khó khăn của tôi.

6. Tha thứ cho những ai mà tôi thật sự trân trọng, lại chỉ giả vờ trân trọng tôi.

7. Tha thứ cho chính bản thân mình, vì có đôi khi thật tệ.

8. Tha thứ cho những lỗi lầm quá khứ của tôi, của bạn và của mọi người, để chúng ta có thể đổi mới, sửa đổi (những cái xấu thành tốt) và hướng tới tương lai tốt đẹp!

9. Tha thứ cho hết tất cả những ai làm tôi tổn thương, bởi những gì không vui nếu vứt bỏ được thì nên là như thế, để chính mình thanh thản.
Con người ai cũng có khuyết điểm, sai lầm, nên cách tốt nhất là quên được thì hãy quên, tha thứ cho người để người tha thứ lại cho mình.


Cảm ơn
1. Cám ơn những người đã luôn tin tưởng tôi, dẫu tôi biết mình không đáng được nhiều như thế!

2. Cám ơn những điều bạn và mọi người đã làm cho tôi, vì tôi.

3. Cám ơn bạn đã luôn chân thành với tôi, những gì mà bạn cho tôi như nụ cười, lời nói của bạn...

4. Cám ơn bạn và bất kỳ ai đã luôn quan tâm, sẵn sàng lắng nghe và thấu hiểu những gì tôi nói.

5. Cám ơn những va vấp, những giọt nước mắt để tôi trưởng thành hơn, cứng cáp hơn.

6. Cám ơn những dối gian, những ích kỷ, nhỏ nhen mà người khác dành cho tôi, để tôi có thể tỉnh táo hơn.

7. Cám ơn cuộc sống đã cho tôi những phút giây vui vẻ, bình yên, dầu ít nhưng thật sự hạnh phúc.

8. Cám ơn chính tôi đã không bỏ cuộc, đã biết đứng dậy và vượt qua.

9. Cám ơn những người đã trao truyền niềm tin cho tôi, giúp tôi hiểu và biết thêm về cuộc sống và tình người.

10. Cám ơn tất cả mọi người, những người đã từng giúp tôi, đã từng bên tôi, cho tôi thêm niềm tin và giúp tôi thêm vui vẻ...


Những được mất của một năm đã không còn quan trọng, bởi chẳng thể làm lại từ đầu, nhưng năm cũ với tôi sẽ luôn có một vị trí nhất định, đánh dấu những ký ức của tôi, những cố gắng thiện lành mà tôi đã đạt được.

Cám ơn cuộc đời đã cho tôi thêm một năm tươi đẹp nữa để yêu thương, được yêu thương, và làm thêm được nhiều điều tốt đẹp nữa cho tôi, cho bạn, và cho mọi người.

Nguồn: TĐM

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Nỗi đau của sự tha thứ

[caption id="attachment_3390" align="aligncenter" width="518" caption="Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em (Ga 15,12)"][/caption]

Đã bao lần trái tim bạn thương tổn, lòng bạn cay đắng, cáu gắt, bực dọc, bạn cảm thấy lòng dạ nóng bừng khi nghĩ về một người nào đó? Đã bao lần niềm tin của bạn vào tình bằng hữu bị đổ vỡ? Bao lần bạn cảm tấy mình bị coi thường, bị xúc phạm, bị lợi dụng, bị lừa dối... và rồi bạn tự hứavới lòng sẽ không bao giờ tha thứ cho một ai đó?

Hôm nay tôi chia sẻ với bạn về tình yêu thương. Bởi, tình yêu thương luôn song hành với sự tha thứ.

Có một câu chuyện kể rằng:

Người đầy tớ nọ mắc một món nợ khá lớn với chủ mình. Đến kỳ hẹn, ông chủ gặp người để tính sổ. Nhưng người vốn khó khăn, không có tiền để hoàn cho chủ. Nhìn thấy hoàn cảnh túng ngặt không lối thoát của người đầy tớ, ông chủ cảm thông và đồng ý tha hết số nợ lên đến cả trăm đồng tiền vàng cho anh ta. Anh ta vui mừng lắm, cảm ơn người chủ rối rít.

Ít ngày sau, đầy tớ này tình cờ gặp lại một người bạn cũ, là người trước đây có vay mượn của anh 5 xu chưa trả. Anh ta liền túm lấy cổ áo bạn và đòi cho bằng được dù bạn mình đang trong cơn túng thiếu. Chuyện này đến tai ông chủ - là người đã từng tha số nợ một trăm đồng tiền vàng. Ông chủ cảm thấy thất vọng về sự hẹp hòi của anh đầy tớ, bèn nói rằng: “Ta đã thương xót anh và tha món nợ lớn cho anh, lẽ nào anh lại không lấy đó làm gương để thương xót bạn mình mà xoá đi số nợ ít ỏi đó? Vậy ta sẽ không xoá nợ cho anh nữa vì anh chẳng xứng đáng được hưởng ân huệ.” Nói rồi, ông chủ sai người tống giam đầy tớ vào ngục cho đến chừng nào trả xong số nợ.

Đây là câu chuyện rất quen thuộc trong Kinh Thánh mà Chúa Jesus đã kể để dẫn chứng cho bài học về sự tha thứ. Chúa Jesus còn nói tiếp, rằng: “Nếu ai không hết lòng tha thứ cho anh em mình, thì Thượng Đế cũng sẽ đối xử với kẻ đó y như vậy.”

Chúng ta cũng giống như đầy tớ kia, đã được Chúa tha thứ mọi tội lỗi trong đời, và chính Ngài thậm chí đã trả giá cho sự tha thứ đó bằng cái chết trên thập tự. Nên nếu có ai đó làm ta thương tổn, khiến ta đau lòng, thất vọng đến nỗi không thể tha thứ, thì xin hãy nhớ rằng, chính Chúa Jesus cũng đã từng đau lòng gấp trăm ngàn lần hơn khi ta liên tiếp làm buồn lòng Ngài bởi những thói hư tật xấu trong cuộc sống. Nhưng Ngài vẫn yêu thương ta vô điều kiện, và đã tha thứ cho ta “bảy mươi lần bảy”, sau đó thì tiếp tục yêu thương, tiếp tục buồn và tiếp tục tha thứ, sửa trị ta ngày một tốt hơn.

Nhưng liệu rằng ta có đủ xứng đáng để nhận lãnh sự tha thứ đó, khi mà lòng ta vẫn còn cố chấp với những sai phạm của anh em, bạn bè? Làm sao ta có thể vừa cầu xin Chúa tha tội cho mình mỗi tối, vừa lấy lòng căm giận mà đoán xét anh em? Làm sao ta có thể hát ca ngợi tình yêu thương của Chúa khi mà chính bản thân ta chưa thực sự bày tỏ yêu thương với người lân cận? Chúa đang phán với lòng ta điều gì? “Sao ta có thể tha tội cho con, khi mà chính con không chịu giảng hoà với anh em của con?” Đúng thế, tình yêu thương trong Chúa Jesus là tình yêu thương thực tiễn chứ không phải bằng lời nói suông. Chúa muốn ta yêu thương và tha thứ trước, sau đó Ngài sẽ yêu thương và tha thứ cho chúng ta. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng, điều kiện để Chúa yêu thương tha thứ chúng ta nằm ở việc làm của chính mình, mà Chúa đã yêu thương ta từ trước bằng lòng nhân từ vô điều kiện; Ngài chỉ muốn chúng ta noi theo Ngài để xứng đáng tiếp tục được nhận lãnh yêu thương từ Ngài và ban phát tình thương đó cho mọi người. Vì tình yêu thương không bao giờ hư mất.

Bạn sẽ nói gì? “Nó không tôn trọng tôi, nên tôi không thể coi nó là bạn nữa.” Hay là: “Không đâu, anh ta / cô ta đã sỉ nhục tôi, làm tôi không còn mặt mũi nào mà nhìn mọi người nữa. Sao tôi có thể làm hoà với một kẻ hồ đồ và có ý muốn hạ nhục tôi như vậy?” Hoặc giả có những lỗi lầm đau đớn và thê thảm: “Chính hắn đã hại chết cả nhà tôi, làm sao tôi có thể tha thứ và bỏ qua cho hắn được?”

Thật là khó phải không? Lý do gì để ta tha thứ khi mà lòng ta vẫn còn đó một hàng rào kẽm gai cay nghiệt của sự hận thù cay đắng đang từng ngày một siết chặt trái tim, làm rít lòng, làm chảy máu và nhắc nhở chúng ta hoài về một nỗi đau? Lý do gì để ta tha thứ khi mà ta đã coi họ như thù nghịch?

Lý do chỉ có một.

Không phải vì chúng ta yêu thương.

Nhưng vì Chúa đã yêu ta trước.

Tôi còn nhớ một triết lý rất sâu sắc trong quyển: Xoa dịu tấm lòng bất an, nói rằng: Tha thứ là một mạng lệnh phải làm, chứ không phải việc ta nên làm hay không.

Đó là một mạng lệnh, mà đã là mạng lệnh thì sẽ có những khó khăn, những đánh đổi, hy sinh và mất mát. Chấp nhận tha thứ, có vẻ như ta đang chấp nhận phản bội lại chính mình. Khi ta tha thứ, cái tôi của ta sẽ phản kháng và lên tiếng: “Sao lại tha thứ dễ dàng như vậy? Sao có thể bỏ qua những gì mà nó đã gây ra? Sao lại tha thứ cho một kẻ đáng ghét và đáng chết như vậy? Sao không trả thù nó, khiến nó phải đau khổ, phải ân hận, phải trả giá cho những gì đã gây ra?...” Nhưng cũng cùng lúc đó, Chúa Jesus sẽ mỉm cười với ta, và chính Ngài là Đấng hiểu rõ hơn ai hết những đau đớn của sự tha thứ trong lòng ta. Làm sao mà không đau cho được, khi chính ta đang tạo ra mâu thuẫn trong lòng. Những mũi giáo của tình cảm liên tục đâm vào cái khiêng của lý trí trong ta sẽ tạo ra đau đớn đến chết được, thất vọng đến chết được…; và trong nỗi đau, ta cảm thấy việc tha thứ là một sai lầm bởi chính trái tim ta chưa thực sự bao dung với kẻ đã gây ra lầm lỗi.

Tôi tin rằng, chính Chúa Jesus sẽ thấu hiểu rõ những chinh chiến, giằng xé trong tâm tưởng chúng ta khi quyết định tha thứ. Chính Ngài sẽ có cách để chữa lành và xoa dịu, khiến chúng ta nhẹ nhàng hơn từng ngày qua sự tha thứ đó. Tha thứ không phải là việc của một sớm một chiều, mà là một quá trình nhân nghĩa. Quan trọng là ta có chấp nhận đi đến quyết định tha thứ hay không.

Sự tha thứ chỉ có ý nghĩa khi lòng ta vẫn còn đau, càng có giá trị hơn nữa khi chính sự tha thứ đó khiến ta đau đớn. Bạn đừng đắn đo và hoang mang  trước nỗi đau của sự tha thứ, vì chính Chúa Jesus cũng đã để lại một gương cho ta noi dấu, đó là Ngài đã từng đau đớn khôn tả trên thập tự, chỉ để tha thứ cho ta.

Sưu tầm

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Lời tỏ tình

[caption id="attachment_3011" align="aligncenter" width="286" caption="“Lạy Chúa, con yêu mến Chúa”"][/caption]

Thế là họ chia tay nhau sau vài năm ngắn ngủi bước vào đời sống vợ chồng. Gặp lại anh khi vừa mới ly dị, tôi không nhận ra người sếp trẻ, đẹp trai, giỏi giang và hoạt bát của mấy năm về trước.  Khuôn mặt anh già nhiều so với thời gian, cặp mắt chất chứa vẻ u buồn chán nản và phảng phất nét bất cần đời của kẻ bị thất bại trên tình trường. Cuộc ly dị chớp nhoáng của đôi vợ chồng son chưa kịp có con đã để lại nơi anh nhiều dấu ấn, nhiều điều lưu luyến chưa kịp nói ra, những giấc mơ đẹp đang dệt dở dang… Mất nhà, mất tài sản… không đau bằng mất người vợ mà anh như vẫn còn nhiều vấn vương thương nhớ. Địa vị vẫn còn đó, tài năng vẫn ở lại với anh, nhưng anh như hụt hẫng, xa lạ với cuộc sống, thiếu tự tin và thiếu vắng một cái gì đó bên đời. Vợ anh, một cô gái trẻ đẹp mắt xanh tóc vàng, như đa số các cặp vợ chồng người Mỹ khác, đã chia tay anh trong vui vẻ hoà bình. Cô ta coi anh như bạn nhưng anh thì lại tránh không muốn gặp mặt cố nhân. Anh buồn nhưng không hận, chán đời nhưng chưa chán “Người”, giận “Người” bỏ đi nhưng cũng giận mình ở lại, trách “Người” cũng có và không phải không có những điều để tự trách mình.

Trong khi trách ai “tham vàng bỏ nghĩa”, anh nhìn lại mình và xót xa nhận ra những thiếu sót trong đời sống hôn nhân. Có một điều mà anh nuối tiếc nhất, trách mình nhiều nhất và nếu có cơ hội để làm lại, anh sẽ làm tốt hơn. Đó là anh sẽ bày tỏ tình yêu của người chồng với vợ qua những lời tỏ tình đơn giản trong cuộc sống trước khi quá muộn màng. Ba chữ “Anh yêu em”, hay “I love you”, đơn giản vậy thôi, nhưng với anh sao mà khó nói quá, cho dù anh qua Mỹ từ lúc nhỏ, cho dù người anh chất Mỹ nhiều hơn Việt, cho dù anh cưới cô vợ Mỹ, cho dù anh đã nói lời tỏ tình nhiều lần trước khi cưới, cho dù… thế này, thế kia… Thực tế phũ phàng là anh đã “quên” không nói lời tỏ tình từ sau khi người ta chịu quỳ xuống bái lạy cha mẹ anh.

Đôi lúc anh tự biện hộ cho mình rằng vợ anh phải “tự động” hiểu tình yêu anh dành cho vợ được biểu hiện qua nhiều cách khác nhau. Những hành động cụ thể như cho vợ xài tiền thoải mái, nhường xe mới cho vợ, đưa vợ đi nghỉ hè mỗi năm, v.v… và v.v… như thế chưa đủ nói lên tình yêu hay sao??? Tự biện hộ cho mình nhưng anh cũng tự phủ định tất cả những lý do anh đưa ra.  Nếu anh không thành thật với chính mình để rút ra bài học, anh sợ sẽ tiếp tục thất bại thêm lần nữa. Anh không yêu một người điếc và anh cũng chẳng phải là người câm, vậy cái gì đã ngăn cản anh không nói lên lời của con tim? Đổ lỗi cho văn hoá Việt Nam ư? Anh lấy Mỹ và đang ở Mỹ cơ mà! Anh chua chát nhận ra rằng, dù Mỹ hay Việt, Tình Yêu cần phải được nói ra bằng lời - nếu là yêu; cần phải lặp đi lặp lại nhiều lần - nếu còn yêu; cần phải nuôi dưỡng nó - nếu muốn nó sống sót; cần phải làm mới lại tình yêu mỗi ngày - nếu muốn nó phát triển. Bài học cay đắng tuy trễ nhưng chưa quá muộn màng với anh. Cuộc đời anh còn dài, hy vọng anh sẽ tránh được vết xe đổ trong đời sống hôn nhân sau này. Tôi cầu chúc anh sớm tìm được tình yêu mới, với những thiếu sót trong hôn nhân đổ vỡ đã qua, anh sẽ biết khôn ngoan hơn để gìn giữ hạnh phúc dài lâu trong vòng tay.

***


Câu chuyện tình buồn với phần kết thúc không có hậu của người bạn, giúp tôi hiểu hơn về giá trị “Lời Tỏ Tình” trong đời sống hôn nhân ngày nay. Cuộc sống lứa đôi bây giờ đã khác nhiều so với những thế hệ trước. Hôn nhân không phải là đoạn kết của một cuộc tình, càng không phải là lúc kéo màn kết thúc những “Lời Tỏ Tình” lãng mạn hôm qua. Hôn nhân là cánh cửa mở ra một chân trời mới. Tình yêu lứa đôi giờ đây đã đi vào chiều kích sâu đậm hơn, chữ tình bị thử thách nhiều hơn, chữ nghĩa ngày càng chồng chất. Những từ ngữ xa lạ như bổn phận, trách nhiệm từ đâu ập đến khiến cả hai nhìn nhau bỡ ngỡ. Vậy mà ở nơi “chiến trường” khốc liệt đó, anh đã quên không nói lên tiếng nói của con tim, để “đối phương” ngỡ ngàng không hiểu sao họ lại bị ràng buộc bên nhau để cùng “chiến đấu”? Tôi tự hỏi, nếu anh không quên nói “Lời Tỏ Tình” mỗi ngày, nhất là trong những lúc sóng gió cuộc đời, thì hôn nhân của họ có đổ vỡ hay không?  Không chắc cho một câu trả lời, nhưng chắc hẳn anh sẽ không có gì để luyến tiếc ân hận, vì đã không nói lên tiếng nói của con tim tràn đầy yêu thương với người bạn đời.

“Lời Tỏ Tình” trong đời sống hôn nhân có giá trị là thế, vậy trong đời sống thiêng liêng “Lời Tỏ Tình” có cần thiết không?  Một Thiên Chúa thấu biết mọi sự, “biết cả khi con đứng con ngồi. Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa…” (TV 139) có cần đến “Lời Tỏ Tình” của tôi không?  Một Thiên Chúa mà khi “miệng lưỡi con chưa thốt nên lời, thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết” có dư thừa không nếu tôi cứ phải nói tiếng yêu với Ngài mỗi ngày? Ngược lại, tôi có nhất thiết phải được nghe “Lời Tỏ Tình” của Chúa với tôi không dù tôi đã thuộc nằm lòng câu “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một…”? Chúa ơi, con biết rồi tình yêu của Chúa dành cho con, và Chúa cũng đã quá rõ tình yêu của con với Ngài, vậy mình có cần trao đổi “Lời Tỏ Tình” với nhau không?

“Lời Tỏ Tình” của tôi chẳng mang thêm vinh quang gì cho Chúa.  Không có “Lời Tỏ Tình” của tôi, Ngài vẫn trung thành với lời giao ước. Tình yêu của Ngài chẳng bao giờ đổi thay. Không cần tôi nói lời yêu, Ngài đã yêu, đang yêu và sẽ yêu cho đến cùng. Chưa kịp nghe chữ yêu, Ngài đã gục đầu xuống tắt thở. “Lời Tỏ Tình” của tôi với Thiên Chúa Tình Yêu là cho tôi chứ chẳng phải cho Ngài. “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa” được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ nuôi dưỡng tình yêu của tôi lớn lên từng ngày. Nó giúp tôi ý thức hơn về tình yêu của mình dành cho Chúa, là động lực khích lệ tôi cố gắng sống xứng đáng hơn với tình yêu mà tôi vừa thổ lộ. “Lời Tỏ Tình” đó không chỉ giúp tôi cảm nhận được sự hiện diện gần gũi của người mà tôi đang nói lời yêu thương, mà còn giúp tôi chống trả với những cám dỗ trong cuộc sống. Tình yêu của Chúa dành cho tôi không thể nhiều hơn hay mặn nồng hơn khi nghe tôi nói “Lời Tỏ Tình”, vì tình yêu của Ngài đã là tận cùng, tột cùng và “đến cùng” rồi (Ga 13,1b). Nhưng chắc chắn tình yêu của tôi như được tưới thêm nước, có thêm ánh sáng, đất tốt để đơm bông kết trái. Thiên Chúa có thể “tự động” hiểu tình yêu của tôi dành cho Ngài. Nhưng tình yêu của tôi với Chúa không thể “tự động” lớn lên, nếu không được chăm bón từng ngày từng phút. Trên Biển Hồ Tibêria ngày xưa, Chúa đã nghe rồi câu trả lời của Phêrô: “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy”, vậy mà Chúa cứ hỏi đi hỏi lại đến 3 lần cùng một câu hỏi: “Con có yêu mến Thầy không?”. Phải chăng Chúa cũng vui và hạnh phúc khi được nghe tiếng tình yêu đáp trả tình yêu, nên Ngài muốn nghe, nghe nữa, nghe hoài những điệp khúc đó? Phải chăng Ngài cũng từng mòn mỏi mong đợi đến ngày mà “ngươi sẽ gọi Ta “Mình ơi”, chứ không còn gọi “Ông chủ ơi” nữa”? (Hs 2,18).

Vâng, tôi cũng biết rất rõ là “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian (trong đó có tôi) đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho trần thế…”! Nhưng đó là câu của Thánh Gioan viết lại từ 2000 năm về trước trong cuốn Kinh Thánh dày cộm chứ đâu phải lời tỏ tình trực tiếp của Chúa với tôi? Tình Yêu đâu có chuyện nghe tỏ tình gián tiếp qua người này người nọ? Tình yêu nghe trực tiếp còn chưa có đất sống chứ đừng nói đến chuyện nghe qua người này người kia. Tôi tin là Chúa yêu tôi đến nỗi chết cho tôi được sống. Nhưng con tim của tôi cần phải được cảm nhận tình yêu đó. Đôi tai tôi cần được nghe trực tiếp “Lời Tỏ Tình” của chính Chúa nói với tôi, chứ không phải qua Thánh Gioan, hay qua bài giảng hùng hồn của một vị linh mục, hoặc qua bài suy niệm ướt át của người khác viết. Vậy làm sao tôi có thể nghe được tiếng Chúa nói với tôi là Ngài yêu tôi, chính tôi chứ không phải ai khác? Mà làm sao có thể nghe được tiếng nói của người yêu nếu không dành thì giờ cho nhau?

Lòng khao khát trong Tình Yêu sẽ chỉ cho mỗi người chúng ta biết mình cần phải làm gì để tiếp cận được với người mình yêu, để nghe được tiếng nói của người yêu, để tạo cơ hội cho người yêu nói và để yêu nhau hơn, gần nhau hơn. Chỉ cần tôi thành thật với chính mình, hãy hỏi lòng mình muốn gì, tìm gì trong cuộc tình này? Tôi tin là Chúa cũng mong muốn nói lời yêu thương với tôi lắm, Ngài chỉ chờ có cơ hội thôi. “Bởi thế, này Ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2,16). Còn tôi, tôi có nghiêm túc trong cuộc tình này không, hay chỉ là theo chân đám đông “à ơi dí dầu” cho qua chuyện.


***


Lạy Thiên Chúa Tình Yêu, xin cho các cặp tình nhân trên thế gian này đều được mãn nguyện sống hạnh phúc bên nhau. Khi họ đã chọn để cùng sống bên nhau, xin Chúa chúc lành và ban thêm ơn sủng cho các đôi hôn phối, để họ có thể cùng đi với nhau đến trọn đời. Xin cho mối tình giữa Ngài và con cũng sẽ có một kết thúc đẹp tuyệt vời bên Ngài trong ngày sau hết, để lời cầu nguyện của Ngài được trở thành sự thật: “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con” (Ga 17,24a). Amen!
Valentine’s Day 2012


Lang Thang Chiều Tím

Xin lỗi Tình yêu

[caption id="attachment_3006" align="aligncenter" width="400" caption="“Yêu không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng”"][/caption]

Đến hẹn lại lên, tháng Hai đến thì Ngày Tình Yêu (Ngày Tình Nhân, Valentine’s Day, V-Day) lại về, các bạn trẻ vừa bồi hồi vừa nô nức - nhất là các bạn đang hẹn hò yêu đương. Nhưng sau các ngày Tết hoặc các ngày lễ như Noel, Valentine,… các cô gái tìm đến các phòng khám để giải quyết “hậu quả tình yêu” nhiều hơn. Không chỉ vậy, nhiều bạn còn mắc các chứng bệnh lây nhiễm khác... Và Ngày Tình Yêu lại về!

Một nhạc sĩ nào đó đã viết ca khúc Xin Lỗi Tình Yêu với ca từ thế này: “Anh nói sẽ đưa em đi suốt cuộc đời, mà sao không đưa được đoạn đường em đi! Anh nói sẽ ôm em khi gió Đông về, mà giờ đây một mình em đứng trong mưa! Anh nhớ lần đầu tiên trông thấy nụ cười mà em trao cho người lạc đường yêu đương. Anh biết từ đây anh sẽ dối em, dù con tim thật lòng với người anh yêu. Tình yêu hỡi, ngàn lần xin tha thứ! Xin lỗi em, ngàn lời xin lỗi em! Xin em quên đi những lời yêu anh đã trao cho em trong tận đáy lòng. Mưa ướt vai em hay nước mắt em? Anh muốn ôm em lau hết ưu phiền. Xin hãy quên đi một giấc mơ buồn, xin hãy quên anh một kẻ đa tình chìm trong say đắm lạc lối yêu đương.

Chàng trai đó tự nhận mình là “người lạc đường yêu đương” và “sẽ dối em”, nhưng lại biện minh là “thật lòng với người anh yêu”. Rồi anh ta “ngàn lần xin tha thứ” và “ngàn lời xin lỗi em”, đồng thời xin cô gái “quên đi những lời yêu” mà anh ta cho là “trong tận đáy lòng”. Anh ta còn thắc mắc: “Mưa ướt vai em hay nước mắt em?”, và “muốn ôm em lau hết ưu phiền”. Cuối cùng, anh ta nói với cô gái: “Xin hãy quên đi một giấc mơ buồn, xin hãy quên anh một kẻ đa tình chìm trong say đắm lạc lối yêu đương”.

Khéo nói quá! Mật ngọt chết ruồi. “Đàn ông nông nổi giếng khơi”, còn “đàn bà sâu sắc tựa cơi đựng trầu”. Ca dao ViệtNam nói vậy. Phụ nữ luôn nhẹ dạ và cả tin, vì “phụ nữ yêu bằng tai” mà. Thế nên ông bà xưa đã căn dặn:

Chớ nghe quân tử ỉ òn
Mà rồi có lúc ẵm con một mình


Nói về phụ nữ, người ta thường cảnh báo: “Khôn ba năm, dại một giờ”. Có những cô gái hiếm thấy giao du với ai, thậm chí chỉ quanh quẩn trong “khuôn viên gia đình”, cha mẹ luôn “canh chừng cẩn mật”, thế nhưng như vậy đâu đã “an toàn”, như ca dao cũng đã nói:

Ngồi trong cửa sổ chạm rồng
Chăn loan, gối phượng, không chồng cũng hư


Theo kinh nghiệm, bác sĩ sản phụ khoa Lê Thị Kim Dung (Trung tâm Y tế Lao động tại Hà Nội) cho biết rằng cứ sau Valentine một tháng, số bạn gái đi nạo, phá thai đều tăng vọt, thậm chí là gấp đôi. Không ít cô gái trẻ đến khám nước mắt ngắn nước mắt dài, ân hận vì đã “vượt rào”, vì thế này hay thế nọ... BS Kim Dung nói: “Tôi không phê phán chuyện quan hệ sớm hay muộn, hoặc có đi quá giới hạn hay không, vì đó là vấn đề nhu cầu sinh lý. Quan trọng là các bạn trẻ cần ý thức được hành động của mình, để lại những hậu quả gì, từ đó có biện pháp phòng tránh hợp lý”.

Saint-Exupéry nói: “Yêu không phải là nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng”. Tình yêu chân chính chỉ có một, nhưng những cái na ná giống tình yêu thì có nhiều, khiến người ta lầm tưởng và ảo tưởng. Vì không “cùng nhìn về một hướng”, nghĩa là mỗi người nhìn một hướng, thậm chí còn ngược hướng nhau, thế nên người ta mới phải “xin lỗi tình yêu”.

Khi nói chuyện “xin lỗi tình yêu”, người ta thường nghĩ ngay là nam phải xin lỗi nữ. Không! Cũng có những trường hợp nữ phải xin lỗi nam. Chúng ta không thể chỉ bàng quan và chỉ thấy bề ngoài mà vội “kết án”. Cái gì cũng có “luật trừ”, không thể “vơ đũa cả nắm”. Cũng có nhiều phụ nữ “không phải tay vừa”. Vả lại, có cung thì có cầu, và ngược lại. Trừ những trường hợp cưỡng dâm hoặc hiếp dâm, trong những “cuộc chơi” kia đều có sự đồng thuận của đôi bên, nghĩa là phụ nữ cũng chẳng “ngoan” như người ta tưởng. Đó là sự công bằng, là sự công tâm khi nhìn nhận bất kỳ vụ việc nào đó!

Hãy đấm ngực ăn năn và thành tâm sám hối: “Lỗi tại tôi mọi đàng”, và lắng nghe lời khuyên của Thánh Phaolô: “Đây là điều tôi nói với anh em, và có Chúa chứng giám, tôi khuyên anh em: Đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ. Tâm trí họ đã ra tối tăm, họ xa lạ với sự sống Thiên Chúa ban, vì lòng chai dạ đá khiến họ trở nên dốt nát. Họ đã mất ý thức nên đã buông thả, sống phóng đãng đến mức làm mọi thứ ô uế cách vô độ. Còn anh em, anh em đã chẳng học biết về Đức Kitô như vậy đâu; ấy là nếu anh em đã được nghe nói về Đức Giêsu và được dạy dỗ theo tinh thần của Người, đúng như sự thật ở nơi Đức Giêsu. Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,17-24).

Tục ngữ có câu: “Biết sửa sai không ai chê muộn”. Còn hiền triết Khổng Tử nói: “Không biết mình có lỗi mới thành ra người có lỗi”. Động thái “biết” rất quan trọng, vì “tư tưởng không thông, vác bình không cũng nặng” vậy.

Lễ Valentine 2012

Trầm Thiên Thu

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Thế giới các Bệnh nhân 2012

[caption id="attachment_2926" align="aligncenter" width="420" caption="“Hãy đứng lên và đi, đức tin của con đã cứu con!”"][/caption]

VATICAN. Thứ Bảy 11-2-2012 sắp tới là Ngày Thế giới các Bệnh nhân lần thứ 20, năm nay được cử hành với chủ đề “Hãy đứng lên và đi; đức tin của con đã cứu con!” (Lc 17,19). Trong thời gian qua, ĐTC đã cho công bố sứ điệp của ngài để hướng dẫn suy tư và việc cử hành ngày này, đồng thời ngài mời gọi các tín hữu nêu cao giá trị của các bí tích chữa lành là bí tích Thống hối hòa giải và bí tích Xức dầu bệnh nhân. Sau đây là bản dịch nguyên văn sứ điệp của ĐTC.

----o0o----


Anh chị em thân mến,

Nhân dịp Ngày Thế giới các Bệnh nhân, mà chúng ta sẽ cử hành ngày 11-2-2012, lễ kính Đức Mẹ Lộ Đức, tôi muốn tái biểu lộ sự gần gũi tinh thần với tất cả các bệnh nhân đang ở nơi điều trị hoặc được chăm sóc trong gia đình, bày tỏ với mỗi người mối quan tâm và lòng quí mến của toàn thể Giáo hội. Khi quảng đại và yêu thương đón nhận mỗi sinh mạng con người, nhất là những người yếu đuối và bệnh tật, tín hữu Kitô biểu lộ khía cạnh quan trọng trong chứng tá Tin Mừng của mình, theo gương Chúa Kitô, Đấng đã cúi mình trên những đau khổ thể lý và tinh thần của con người để chữa lành họ.

1. Năm nay, là năm chuẩn bị gần cho việc cử hành trọng thể Ngày Thế giới các Bệnh nhân sẽ tiến hành tại Đức vào ngày 11-2-2013 và sẽ suy tư về hình ảnh biểu tượng của Tin Mừng về người Samaritanô (Xc Lc 10,29-37), tôi muốn nhấn mạnh về “các bí tích chữa lành”, tức là bí tích Thống hối và Hòa giải, và bí tích Xức Dầu bệnh nhân, các bí tích này được viên mãn tự nhiên trong sự Hiệp thông Thánh Thể.

Cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với 10 người phong cùi, được thuật lại trong Tin Mừng theo thánh Luca (Xc Lc 17,11-19), đặc biệt là lời Chúa nói với một người trong số họ: “Hãy đứng lên và đi, đức tin của con đã cứu con!”, giúp ta ý thức tầm quan trọng của đức tin đối với những người đang chịu đau khổ và bệnh tật mà đến gần Chúa. Trong cuộc gặp gỡ Chúa, họ có thể thực sự cảm nghiệm rằng “ai tin tưởng thì không bao giờ lẻ loi!” Thực vậy, trong Con của Ngài, Thiên Chúa không bỏ mặc chúng ta cho những lo âu và đau khổ của chúng ta, nhưng Ngài gần gũi chúng ta, giúp chúng ta chịu đựng chúng và Ngài mong ước chữa lành tâm hồn chúng ta một cách sâu xa (Xc Mc 2,1-12).

Đức tin của người phong cùi duy nhất, khi thấy mình được chữa lành, đầy kinh ngạc và vui mừng, không như những người khác, đã lập tức trở lại gặp Chúa Giêsu để biểu lộ lòng biết ơn; đức tin ấy cho chúng ta thấy rằng sức khỏe được phục hồi là dấu chỉ một điều quí giá hơn so với sự khỏi bệnh thể lý, là dấu chỉ ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Chúa Kitô; điều ấy được biểu lộ qua lời Chúa Giêsu: “Đức tin của con đã cứu con”. Ai ở trong đau khổ và bệnh tật mà kêu cầu Chúa, thì chắc chắn tình yêu của Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi họ, và cả tình yêu của Giáo Hội sẽ không bao giờ thiếu, tình yêu này chính là sự kéo dài trong thời gian công trình cứu độ của Chúa”. Như thế, sự lành bệnh thể xác, diễn tả ơn cứu độ sâu xa, tỏ cho thấy tầm quan trọng của con người đối với Chúa, trong toàn thể linh hồn và thân xác của họ. Vả lại, mỗi bí tích diễn tả và thực hiện sự gần gũi của chính Thiên Chúa, Đấng theo một thể thức hoàn toàn nhưng không, “đánh động chúng ta qua những thực tại vật chất... mà Ngài dùng chúng, biến chúng thành những phương thế để chúng ta và Ngài gặp gỡ nhau” (Bài giảng, Thánh lễ làm phép Dầu, 1-4-2010)

Nghĩa vụ chính yếu của Giáo Hội chắc chắn là loan báo Nước Thiên Chúa, “nhưng chính việc loan báo này phải là một tiến trình chữa lành: ‘băng bó các vết thương của tâm hồn tan nát’ (Is 61,1)” (Ibid.). Vì thế, sự liên kết giữa sức khỏe thể lý và sự canh tân những sâu xé trong tâm hồn giúp chúng ta hiểu rõ hơn “các bí tích chữa lành”.

2. Bí tích Thống Hối thường ở trung tâm suy tư của các vị Chủ Chăn trong Giáo Hội, chính vì tầm quan trọng của bí tích này trong hành trình đời sống Kitô, xét vì “toàn thể giá trị của Sự Thống Hối hệ tại trả lại chúng ta cho ơn thánh của Thiên Chúa, liên kết chúng ta với Ngài trong một tình bạn thân mật và cao cả” (Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, 1468). Giáo Hội, khi tiếp tục loan báo ơn tha thứ và hòa giải mà Chúa Giêsu làm vang dội, không ngừng mời gọi toàn thể nhân loại hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng. Giáo Hội lập lại lời kêu gọi của thánh Phaolô Tông Đồ: “Nhân danh Chúa Kitô, chúng tôi là những sứ giả: qua chúng tôi chính Thiên Chúa nhắn nhủ. Nhân danh Chúa Kitô, chúng tôi nài xin anh em: hãy hòa giải với Thiên Chúa” (2Cr 5,20). Trong cuộc sống của Ngài, Chúa Giêsu loan báo và làm cho lòng từ bi của Chúa Cha hiện diện. Ngài đến không phải để lên án, nhưng để tha thứ và chữa lành, để mang lại hy vọng cả trong tình trạng tăm tối nhất của đau khổ và tội lỗi, để trao ban sự sống đời đời; vì thế, trong Bí tích Thống Hối, trong “y dược của phép giải tội”, kinh nghiệm về tội lỗi không làm nảy sinh tuyệt vọng, nhưng gặp gỡ Đấng là Tình Thương tha thứ và biến đổi (Xc Gioan Phaolô 2, Tông Huấn hậu THĐGM ”Hòa giải và Thống Hối”, 31).

Thiên Chúa, “giàu lòng xót thương” (Ep 2,4), như người cha trong dụ ngôn của Tin Mừng (Xc Lc 15,11-32), không khép kín tâm hồn đối với một người con nào, nhưng Ngài chờ đợi họ, tìm kiếm, tìm đến với họ tại nơi mà sự phủ nhận tình hiệp thông khép kín họ trong sự cô lập và chia rẽ, kêu gọi họ tụ tập quanh bàn ăn của Ngài, trong vui mừng của đại lễ tha thứ và hòa giải. Những lúc đau khổ, khi mà bệnh nhân dễ bị cám dỗ rơi vào tình trạng nản chí và tuyệt vọng, có thể biến thành một thời điểm ân phúc, giúp họ trở về với chính mình, và như người con hoang đàng, nghĩ lại cuộc sống của mình, nhìn nhận những lỗi lầm và thiếu sót, nhớ nhung vòng tay ấp ủ của người Cha, và tái khám phá con đường về Nhà Cha. Trong tình yêu thương bao la, Ngài luôn tỉnh thức canh chừng cuộc sống chúng ta, chờ đợi chúng ta để trao tặng cho mỗi người con trở về cùng Ngài hồng ân hòa giải trọn vẹn và niềm vui mừng”.

3. Khi đọc Phúc Âm, chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu luôn tỏ ra đặc biệt quan tâm tới những người yếu đau. Không những Ngài sai các môn đệ đi săn sóc các vết thương (Xc Mt 10,8; Lc 9,2; 10,9), nhưng Ngài còn thiết lập cho họ một Bí tích đặc biệt: bí tích Xức dầu bệnh nhân. Thư của Thánh Giacôbê làm chứng về sự hiện diện của cử chỉ bí tích này trong cộng đồng Kitô đầu tiên (Xc 5,14-16): Với việc Xức dầu bệnh nhân, kèm theo lời cầu nguyện của các linh mục, toàn thể Giáo Hội phó thác các bệnh nhân cho Chúa đã chịu đau khổ và được vinh hiển, để Ngài thoa dịu những cơ cực và cứu vớt họ, Giáo Hội cũng khuyên họ hãy kết hiệp trong tinh thần với cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Kitô, để góp phần vào thiện ích của Dân Chúa.

Bí tích ấy đưa chúng ta đến chỗ chiêm ngắm hai mầu nhiệm về Núi Cây Dầu, nơi Chúa Giêsu đứng trước con đường Chúa Cha đã chỉ cho Ngài, con đường khổ nạn, cử chỉ tột đỉnh của tình thương, và Ngài đã đón nhận con đường ấy. Trong giờ thử thách đó, Ngài là Đấng trung gian, “mang trong mình, nhận lấy đau thương và khổ nạn của thế giới, biến nó thành tiếng kêu lên Thiên Chúa, đưa đau khổ tới trước mắt và trong tay của Thiên Chúa, và qua đó mang đau khổ thực sự vào thời điểm cứu chuộc” (Lectio divina, Cuộc gặp gỡ hàng giáo sĩ Roma, 18-2-2010). Nhưng “Núi Cây Dầu cũng là nơi từ đó Ngài lên cùng Chúa Cha, vì thế đó là nơi cứu chuộc... Hai mầu nhiệm này về Núi Cây Dầu cũng luôn luôn ”tác động” trong dầu bí tích của Giáo Hội... dấu chỉ lòng nhân từ của Thiên Chúa Đấng động đến chúng ta” (Bài giảng, Thánh Lễ làm phép Dầu, 1-4-2010). Trong việc Xức Dầu bệnh nhân, có thể nói chất liệu bí tích dầu được ban cho chúng ta “như dược phẩm của Thiên Chúa... thuốc này giờ đây làm cho chúng ta chắc chắn về lòng từ nhân của Ngài, nó phải củng cố và an ủi chúng ta, nhưng đồng thời, vượt lên trên thời kỳ bệnh tật hiện nay, hướng chúng ta về sự chữa lành chung kết, là sự sống lại (Xc Gc 5,14” (Ibid.).

Ngày nay Bí tích này đáng được để ý hơn, trong suy tư thần học, cũng như trong hoạt động mục vụ cho các bệnh nhân. Khi đề cao nội dung kinh nguyện phụng vụ được thích ứng với những hoàn cảnh khác nhau của con người với bệnh tật, và không những vào lúc cuối đời mà thôi (Xc Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, 1514), Bí tích Xức Dầu bệnh nhân không thể bị coi là một bí tích “hạng nhỏ” so với các bí tích khác. Sự quan tâm và chăm sóc mục vụ cho các bệnh nhân, một đàng là dấu chỉ sự dịu hiền của Thiên Chúa đối với người đang đau khổ, và đàng khác mang lại lợi điểm tinh thần cho cả các linh mục và toàn thể cộng đoàn Kitô, với ý thức rằng những gì được làm cho người bé nhỏ nhất, chính là làm cho Chúa Giêsu” (Xc Mt 25,40).

4. Về “các bí tích chữa lành”, thánh Augustinô khẳng định: “Thiên Chúa chữa lành tất cả các bệnh tật của con”. Vì thế, con đừng sợ: tất cả bệnh tật của con sẽ được chữa lành. Con chỉ cần để cho Ngài chữa lành con và đừng đẩy xa bàn tay của Ngài” (Giải thích về Thánh Vịnh 102,5: PL 36,1319-1320). Đó là những phương thế quí giá của ân thánh Chúa, giúp các bệnh nhân ngày càng trở nên đồng hình dạng với Mầu Nhiệm sự chết và phục sinh của Chúa Kitô”. Cùng với hai Bí tích này, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của Bí tích Thánh Thể. Khi được lãnh nhận trong lúc bệnh tật, Thánh Thể góp phần đặc biệt vào công trình biến đổi ấy, liên kết người được nuôi sống bằng Mình Máu Thánh Chúa Giêsu với hy tế Ngài tự hiến dâng lên Chúa Cha để cứu độ mọi người. Toàn thể cộng đoàn Giáo Hội và nhất là các giáo xứ, hãy quan tâm đảm bảo cơ hội cho những người, vì lý do sức khỏe hoặc tuổi tác, không thể đến nơi thờ phượng, được thường xuyên rước lễ. Như thế những anh chị em ấy có thể củng cố mối quan hệ với Chúa Kitô chịu đóng đanh và sống lại, với cuộc sống của họ được dâng hiến vì tình yêu Chúa Kitô, tham dự vào sứ mạng của chính Giáo Hội. Trong viễn tượng ấy, điều quan trọng là các linh mục phục vụ tại các nhà thương, các dưỡng đường và tại tư gia của các bệnh nhân, hãy cảm thấy mình thực sự là những người phục vụ các bệnh nhân, là dấu chỉ và là phương tiện của lòng từ bi Chúa Kitô, cần được biểu lộ cho mọi người đang chịu đau khổ (Sứ điệp nhân Ngày Thế giới các Bệnh nhân lần thứ 18, 22-11-2009).

Sự trở nên đồng hình dạng với Mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, cũng được thực hiện qua việc rước lễ thiêng liêng, việc làm này có một ý nghĩa rất đặc biệt khi Thánh Thể được ban và đón nhận như của ăn đàng. Trong thời điểm ấy của cuộc sống, những lời của Chúa càng âm vang một cách quyết liệt hơn: “Ai ăn Mình Thầy và uống Máu Thầy thì có sự sống đời đời và Thầy sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,54). Thực vậy, Thánh Thể, nhất là như của ăn đàng, theo định nghĩa của thánh Ignatio thành Antiokia, là “phương dược bất tử, là thuốc chống lại sự chết” (Thư gửi các tín hữu Ephêsô, 20: PG 5,661), là bí tích chuyển tiếp từ sự chết đến sự sống, từ trần thế này đến cùng Chúa Cha, Đấng chờ đợi mọi người trong thành Giêrusalem thiên quốc.

5. Chủ đề sứ điệp này nhân Ngày Thế giới các Bệnh nhân lần thứ 20, “Hãy đứng lên và đi, đức tin của con đã cứu con!”, cũng liên hệ tới Năm Đức Tin sắp tới, sẽ bắt đầu từ ngày 11-10-2012, là dịp thuận tiện và quý giá để tái khám phá sức mạnh và vẻ đẹp của đức tin, để đào sâu nội dung đức tin cũng như để làm chứng đức tin trong đời sống thường nhật (Xc Tông thư Porta fidei, 11-10-2011). Tôi muốn khuyến khích các bệnh nhân và những người đau khổ luôn tìm thấy một chiếc neo chắc chắn trong đức tin, được nuôi dưỡng bằng sự lắng nghe Lời Chúa, bằng kinh nguyện bản thân và các bí tích, trong khi tôi mời gọi các vị Mục Tử ngày càng sẵn sàng cử hành các bí tích cho các bệnh nhân. Noi gương Vị Mục Tử Nhân Lành và trong tư cách là những người dẫn dắt đoàn chiên đã được ủy thác, các linh mục hãy tràn đầy vui mừng, ân cần đối với những người yếu đuối nhất, những người đơn sơ và tội nhân, biểu lộ cho họ lòng từ bi vô biên của Thiên Chúa với những lời đầy hy vọng” (Xc S. Augustino, Lettera 95, 1: PL 33, 351-352) (SD 3-1-2012)

Tôi tái bày tỏ lòng biết ơn của tôi và của Giáo Hội đối với những người hoạt động trong thế giới sức khỏe, cũng như các gia đình, nhìn thấy nơi những người thân của mình khuôn mặt đau khổ của Chúa Giêsu, vì trong khả năng nghề nghiệp và trong thinh lặng, tuy nhiều khi không nêu đích danh Chúa Giêsu, họ vẫn biểu lộ Ngài một cách cụ thể (Xc Bài giảng, Thánh lễ làm phép Dầu, 21-4-2011).

Chúng ta hãy hướng lên Đức Maria, Mẹ Từ Bi và là Sức Khỏe của các bệnh nhân, cái nhìn đầy tín thác và kinh nguyện của chúng ta; Ước gì lòng cảm thông từ mẫu của Mẹ, được sống cạnh Chúa Con sinh thì trên Thánh Giá, tháp tùng và nâng đỡ đức tin và đức cậy của mỗi bệnh nhân và người đau khổ trên con đường chữa lành các vết thương thể xác và tinh thần.

Tôi cam đoan nhớ đến tất cả mọi người trong kinh nguyện, trong khi tôi ban Phép lành Tòa Thánh đặc biệt cho mỗi người.

Vatican ngày 20 tháng 11 năm 2011, Lễ Chúa Kitô, Vua Vũ Trụ.

Biển Đức 16, Giáo Hoàng.

Nguồn: vietvatican

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Giải tội là cử hành lòng thương xót, chứ không phải xét xử

[caption id="attachment_2855" align="aligncenter" width="350" caption="“Là người giải tội, chúng ta được mời gọi để tỏ lòng thương xót và hy vọng, là người cha hơn là thẩm phán, để gánh lấy nỗi đau của hối nhân và kiên nhẫn lắng nghe họ”"][/caption]

WHĐ (01.02.2012) / CNS – Nhật báo L’Osservatore Romano ra ngày 28-1 vừa qua cho biết một hội nghị chuyên đề dành cho các vị giải tội vừa được tổ chức tại Loreto, Italia, do Đức Giám mục Gianfranco Girotti, Chánh án Toà Ân giải Tối cao Toà Thánh, chủ trì.

Vị giám mục chuyên về các vấn đề liên quan đến Bí tích Giải Tội nhận định: “Bí tích Hoà Giải đã quá nhấn mạnh một chiều đến việc kết tội và liệt kê các tội”. Thay vì tỏ ra tiêu cực hay nóng nảy, linh mục giải tội cần có thái độ hiền lành và thương xót đối với hối nhân.

Kết quả sau cùng, “điều chính yếu khi nghe xưng tội là ôm lấy người con đi hoang trở về bằng vòng tay âu yếm của Chúa Cha đầy lòng thương xót”.


Ngài đặt câu hỏi: “Chẳng phải đã có lúc việc xưng tội mang dáng vẻ của một toà án truy tố hơn là cử hành lòng tha thứ”, và cuộc trao đổi (nơi toà giải tội) lại mang tính thẩm tra hoặc thường có giọng điệu thiếu tế nhị hay sao?

Trước hết và trên hết, cha giải tội là một người cha người chào đón, lắng nghe và trò chuyện.

Những người đi xưng tội “tìm sự an ủi, lời khuyên và sự tha thứ”. Thường thì họ phải đối phó với nhữngvấn đề trong cuộc sống cá nhân hoặc trong các mối quan hệ của họ, những mối quan tâm về ngừa thai,về ly hôn, hoặc những khó khăn giữa cha mẹ và con cái.

“Là người giải tội, chúng ta được mời gọi để tỏ lòng thương xót và hy vọng, là người cha hơn là thẩm phán, để gánh lấy nỗi đau của hối nhân và kiên nhẫn lắng nghe họ”.

“Tất cả những chuyện ấy không dính dáng gì đến sự dễ dãi hay chấp nhận, nhưng đúng hơn là nhắm đến sự giải thoát nội tâm cho hối nhân”, cảm xúc hối hận ăn năn của họ, để giúp họ dễ dàng đón nhận sự phán xét, ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa.

Đức Giám mục Girotti nói một cha giải tội “phạm bất công nghiêm trọng” nếu ngài dám để cho phán đoán và lời khuyên của ngài dành cho hối nhân bị ảnh hưởng bởi ý kiến ​​của cá nhân và quan điểm của mình hơn là bởi giáo huấn và học thuyết của Giáo Hội.

Khi nghe xưng tội, linh mục phải kiểm soát phản ứng của mình một cách cẩn thận, bao gồm cả nét mặt và cử chỉ.

Vị giải tội cần bắt chước tính dịu dàng của Chúa Kitô và không bao giờ tỏ ra mình bị sốc dù tội có nặng đến đâu. Đừng bao giờ tỏ mò về các chi tiết cá nhân, đừng bao giờ tỏ ra thiếu kiên nhẫn hay vội vàng, và cần phải thông truyền cho hối nhân lòng kính sợ Thiên Chúa, nhưng không phải là khủng bố và cần phải lên án tội lỗi, chứ không phải tội nhân.

Hối nhân cởi mở tâm hồn cho vị giải tội vì họ xem ngài như “thừa tác viên của Chúa, và nếu họ gặp thấynơi vị giải tội tính khắc nghiệt thay vì lòng thương xót, hoặc mối nghi ngờ và tối tăm thay vì ánh sáng sự thật, thì họ thực sự thất vọng”.

(Carol Glatz, CNS, 30-01-2012) 

Minh Tâm

Nguồn: WHĐ

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Tiếng Chó Sủa

[caption id="attachment_2709" align="aligncenter" width="440" caption="Trăng sáng, con chó sủa. Một lúc sau, nó lại mỏi mệt và thôi sủa mặc dù trăng vẫn cứ sáng"][/caption]

Những người có chức vụ và quyền hành trong bất cứ xã hội nào cũng thường bị chỉ trích và chống đối.

 Có một nhà lãnh đạo quốc gia kia thường bị những người đối lập tấn công và thóa mạ một cách bất công, nhưng lúc nào ông ta cũng tỏ ra bình thản như không có gì xảy ra. Một hôm, có người bạn hỏi lý do tại sao ông có thể tỏ ra bình tĩnh được trước không biết bao nhiêu khiêu khích của người khác, ông đã giải thích như sau:

 "Tôi đã học được bí quyết giữ bình tĩnh ngay từ lúc nhỏ. Chúng tôi sống bên cạnh một nhà láng giềng có nuôi một con chó khó tính. Cứ mỗi lần trăng tròn, con chó lại sủa một cách giận dữ vô căn cứ, có khi cơn sủa của nó kéo dài đến cả tiếng đồng hồ. Tất cả những người xung quanh đều tỏ ra bực bội đối với con vật khó tính ấy, chỉ trừ có người chủ của nó. Ông không bao giờ tỏ ra bực bội, bởi vì ông ta là một người điếc.

 Tất cả bí quyết của tôi nằm ở đó. Trăng sáng, con chó sủa. Một lúc sau, nó lại mỏi mệt và thôi sủa mặc dù trăng vẫn cứ sáng".

 Kiên nhẫn chịu đựng thường bị xem như một thể hiện của tính thụ động, tiêu cực. Có người còn gọi đó là nhân đức của người nghèo. Thế nhưng, trong cuộc sống, nhất là trong hoàn cảnh hiện tại, có lẽ chúng ta cần đến nhân đức này hơn bao giờ hết.

Thiên Chúa là đấng kiên nhẫn. Kiên nhẫn vẫn là nét đặc thù trong công trình sáng tạo của Ngài. Chúng ta có biết rằng trái đất của chúng ta có bao nhiêu tuổi chưa? Các nhà địa chất nói với chúng ta rằng trái đất đã được cấu tạo qua từng thời kỳ kéo dài đến cả triệu triệu năm. Ðịa chất học quả thực là môn học của sự kiên nhẫn của Thượng Ðế. Thiên Chúa luôn tỏ ra kiên nhẫn đối với con người. Toàn bộ Cựu Ước là một quyển ký lục về những nhẫn nhục chịu đựng của Thiên Chúa đối với sự yếu đuối, khờ dại cũng như hung bạo của con người. Ngài phải chờ đợi đến cả trăm năm để cho lụt Hồng Thủy trút xuống trên con người. Ngài chờ đợi đến cả mười năm mới trừng phạt vua Saolô.

Tân Ước lại càng cho chúng ta cảm nhận được bằng xương thịt. Tình yêu thương nhẫn nhục, chịu đựng của Thiên Chúa. Chúng ta hãy chiêm ngắm sự nhẫn nhục của Chúa Giêsu đối với các môn đệ, đối với kẻ thù của Ngài và nhất là đối với đám đông nghèo khổ, lạc lõng. Nhưng nhất là những đau khổ, bách hại mà chính bản thân mình gánh chịu, Chúa Giêsu chỉ biết giữ thinh lặng, thinh lặng không phải của căm hờn, oán trách mà là của yêu mến, tha thứ cho đến cùng.


Chân Lý Á Châu