Hiển thị các bài đăng có nhãn yêu thương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn yêu thương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

Chứng nhân tình yêu



Vào ngày 13-11-2009, theo tờ Dallas Morning News đã đưa tin, bà Carrie Gehling, 45 tuổi, đã bị mất cả hai chân vì bệnh tiểu đường, đau tim, và cần được ghép thận sau nhiều năm lọc thận. Bác sỹ cho biết bà đang gặp nguy cơ đến tính mạng. Trong lúc bệnh tật và khó khăn, Bà Gehling chạy đến Đức ôÔng và cũng là Cha xứ Mark Seitz tại Nhà thờ Saint Rita ở Dallas, tiểu bang Texas, để nhờ ngài tìm kiếm quả thận cho bà. Khi nhận được tin này, Đức ông Seitz đã suy nghĩ, tại sao không phải là tôi? Sau đó, ngài quyết định tặng quả thận của mình cho bệnh nhân, ngài coi việc hiến tặng này là biểu lộ tình yêu và nhiệm vụ của linh mục. Ngài nói: "Tôi noi gương Chúa Giêsu vì Ngài đã hy sinh mạng sống cho tôi, thì tôi cũng có thể cho đi một quả thận cho người đang cần được sống”.

Hơn nữa, ngài rất ngưỡng mộ lòng dũng cảm của bà Gehling khi phải đối phó với căn bệnh khủng khiếp này, nhưng bà ấy luôn vẫn tin tưởng vào lòng nhân từ và tình yêu của Thiên Chúa khi tiếp cận với những người khác. Để có được đức tin mạnh mẽ như thế, thì bà ta cũng đã trải qua một kinh nghiệm về quá khứ của tuổi trẻ. Bà Gehling nói với Dallas Morning News: Khi được 20 tuổi, bà đã bị mất niềm tin một thời gian sau khi người cha qua đời vì căn bệnh đau tim. Một ngày kia, tôi tỉnh dậy và nghĩ rằng, mình thật là điên khùng. Bà nói tiếp: Nếu cha tôi còn sống sau cơn đau tim, thì ông chỉ sống như một loài thực vật. Vậy những gì Chúa đã làm là tốt nhất. Lời sau cùng, bà Gehling nói: Không có từ ngữ nào có thể nói lên lời cảm ơn. Làm thế nào để có thể nói lời cảm ơn với một người đã cho bạn một cuộc sống mới! Bà đã gọi đây là quả "thận thánh", trong khi đó vị linh mục Seitz nói, món quà ấy chỉ là một cố gắng sống theo gương của Chúa Kitô.
  
Gương mục tử hiến tặng quả thận có thể dẫn đưa chúng ta đến gần với trang Tin Mừng hôm nay về sự từ bỏ, quên mình và làm chứng cho Tin Mừng, cho tình yêu Thiên Chúa một cách sống động và thiết thực hơn. Cha Seitz đã chia sẻ sự sống của mình cho bà Gehling, một người đang khát khao được sống. 
 
Khi Chúa Giêsu sai các Tông đồ đi rao giảng, Ngài ban cho các ngài được quyền chữa trị trên các thần ô uế, và chỉ thị đầu tiên của Ngài đối với các Tông đồ là không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không mang lương thực, bao bị, tiền bạc… Khi nghe những lời căn dặn này, chúng ta nghĩ, nó không thực tế trong bối cảnh của xã hội ngày nay. Bởi vì, chung quanh chúng ta đâu có ai nghèo đến nỗi không có hai áo, giày dép, bao bị, tiền bạc, ngay cả các linh mục, tu sĩ cũng ăn mặc đàng hoàng, và có những điều kiện tối thiếu để sinh hoạt hằng ngày, đàng khác, có người còn dư thừa không chỉ có 2 bộ mà có cả tủ quần áo thì sao! Chúng ta có lý do để cho rằng, lời dặn của Chúa Giêsu không phù hợp với những gì con người đang có, sử dụng và hưởng thụ. 
  
Cho nên, chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn trong bối cảnh của đoạn Tin Mừng. Lúc bấy giờ, dân chúng đang sống trong cảnh lầm than, đói khổ, bệnh tật và hoạn nạn, bị áp bức và thống trị, cho nên họ cũng mong được giải thoát khỏi cảnh khốn khổ lầm than. Chúa Giêsu là nhà cách mạng cho công lý, cho sự thật, cho hoà bình trước khổ đau của con người. Lời căn dặn và chỉ thị của Ngài mang ý nghĩa nhân sinh hơn, bởi vì lời rao giảng đó phải được gắng liền với việc làm. Nếu các Tông đồ không sống, không thực hiện đời sống khó nghèo thì giáo lý của Chúa Giêsu rao giảng cho ai? Khi Chúa trao cho các ông có quyền trong tay, rồi chuyện gì sẽ xảy ra, vì lòng tham của con người là vô tận. Đằng sau lời căn dặn đó, Chúa Giêsu muốn các Tông đồ đừng bám víu vào của cải vật chất, phải siêu thoát và từ bỏ, thì mới có thể rao giảng và làm chứng cho Thiên Chúa giàu lòng từ bi và nhân ái. Ấy thế mà vẫn có Giuđa bán Thầy vì tham tiền.
 
Có lẽ bài học được rút ra từ Lời Chúa cho chúng ta hôm nay, bài học đó không chỉ dừng lại trên phương việc sử dụng của cải vật chất sao cho hợp lý, mà còn là bài học của cái tâm biết thương người. Giáo Hội cần có tấm lòng quảng đại của những vị mục tử tốt lành dám hy sinh vì đoàn chiên bệnh tật, nghèo nàn, đau khổ, và tất cả mọi người Kitô hữu mang danh Chúa Kitô dám sống và làm chứng cho tình yêu. Nếu chúng ta nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu đang hiện diện trong những người nghèo khổ, bệnh tật, bị áp bức là lúc chúng ta sống với giá trị của Tin Mừng. 
 
Cho dù những lời chỉ thị của Chúa Giêsu cho các Tông đồ ngày xưa trong hoàn cảnh khác xa với hiện tại ngày nay, nhưng lời đó vẫn tiếp tục mời gọi mọi người chúng ta thực hiện trong cuộc sống hôm nay; như lời Cha Seitz nói: “Việc làm của tôi là cố gắng theo gương Chúa Giêsu”; còn Mẹ Têrêxa Calcutta thì nói: “Không ai nên thánh một mình, và không ai lên Thiên Ðàng một mình”.
 
Lạy Chúa, mọi người chúng con được Chúa sai đi làm chứng nhân tình yêu Thiên Chúa giữa dòng đời, xin cho chúng con biết sống yêu thương, chia sẻ, cảm thông và biết tìm kiếm Nước Trời là cùng đích của cuộc đời chúng con.
 

Lm. John Nguyễn

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Yêu thương nhau

[caption id="attachment_4302" align="aligncenter" width="500"] “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12)[/caption]

(CN 6 PS B)


(Cv 10,25-26.31-35.44-48; 1 Ga 4,7-10; Ga 15,9-17)

Thiên Chúa là Tình Yêu. Chúa Giêsu truyền dạy: Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con. Chúa Giêsu đã tóm kết các giới răn của đạo cũ và mới vào hai điều: yêu Chúa và yêu người. Chúng ta không xa lạ gì với giới răn cao trọng này. Tình yêu là một mầu nhiệm. Chúng ta thuộc lòng các giới răn: Yêu Chúa, yêu tha nhân như chính mình và yêu thương cả kẻ thù. Thánh Gioan nói: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” (1 Ga 4,7). Ai trong chúng ta cũng biết yêu, vì chúng ta được sinh ra trong tình yêu. Nhưng chẳng ai định nghĩa được tình yêu. Chỉ những người đang yêu mới hiểu và cảm nhận được ý nghĩa của tình yêu.

Trong văn học, người ta dùng ca dao, tục ngữ, châm ngôn, thi phú, ca nhạc và văn thơ để ca ngợi và đánh bóng từ ngữ ‘tình yêu’. Tình yêu có nhiều mức độ như chúng ta có cảm tình, ưa, chịu, hợp, khoái, thích, thương, chuộng, mến… rồi yêu. Tình yêu cũng có nhiều cấp bậc. Tình yêu gia đình và con cái, tình yêu trai gái, yêu quê hương xứ sở, yêu quốc gia dân tộc, yêu giáo hội và yêu thương nhân loại. Chúng ta chẳng có thể kể ra hết các loại yêu vì chúng ta đang đan xen chằng chịt trong tình yêu. Thật rất khó để hình dung một tình yêu tinh tuyền không đối tượng. Chúng ta chỉ có thể cảm nhận một tình yêu qua những hành vi cử chỉ được biểu lộ. Tình yêu gắn kết giữa trái tim, ý chí, trí khôn và đối tượng yêu.


Quan sát thế giới chung quanh, có bao nhiêu điều và bao nhiêu người mà chúng ta thật sự yêu thích? Những người hàng xóm láng giềng, chúng ta gặp gỡ và chào hỏi nhau hằng ngày. Chúng ta cũng chẳng yêu và chẳng ghét họ. Có nhiều người cùng dân tộc, màu da, tiếng nói, nói chung, chúng ta cũng chỉ có chút cảm tình, chúng ta có thể biết nhau và hiểu nhau, nhưng nói là yêu nhau thì chắc là không. Những người bạn cùng sinh hoạt trong một nhóm hội, một cộng đoàn, một giáo xứ, chúng ta cũng chẳng quan tâm nhiều lắm. Nếu nói yêu thích thì không hẳn, nhưng chúng ta có chút tình cảm thân thương, liên đới và sự gắn bó gần gũi.

Chúng ta thử giới hạn lại trong đời sống đại gia đình, trong đó có cha mẹ, vợ chồng, con cái và anh chị em là những người sống gần gũi nhất, chúng ta thật sự yêu thương họ bao nhiêu. Trong gia đình, đôi khi anh chị em chúng ta còn tranh dành, cãi cọ, phiền trách và giận hờn nhau. Tình yêu dành cho những người thân thường được biểu lộ qua sự quan tâm, lo lắng, cảm thông, tha thứ, hy sinh và chăm sóc cho nhau. Hãy tự vấn xem chúng ta có đối xử tốt, tôn trọng, quý mến và yêu thương nhau thật tình không? Gia đình chính là tổ ấm của tình yêu.

Tất cả mọi thứ tình yêu trên đời đều tương đối và vô thường. Tình yêu cha mẹ con cái được kể là sâu đậm nhất. Tình yêu vợ chồng rất cao quý thật đáng khâm phục và tôn trọng. Trong cuộc đời, đã có những cặp vợ chồng sống trung tín tới tuổi già và tóc bạc răng long. Chính họ đã biết lo lắng, thông cảm, tha thứ và hoàn thiện lẫn nhau. Họ đã dám hy sinh cho nhau và cho con cái, cao quí nhất vẫn là tình phụ và mẫu tử. Qua mọi thời, đã và đang có nhiều gia đình sống trong an vui và hạnh phúc yêu thương.

Đời thường người ta đề cao tình yêu trai gái và tình yêu lứa đôi là cao đẹp và gắn bó nhất. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta thấy có rất nhiều anh chị lúc đầu yêu nhau tha thiết quyết định đi đến hôn nhân, nhưng rồi sau một thời gian chung sống, nhiều cặp vợ chồng cũng có những đổ bể, ly thân, ly dị và thù ghét nhau. Theo dõi tin tức xa gần, chúng ta nghe biết đã có những người dám tự tử vì yêu. Trong những trường hợp này, có lẽ họ đã đặt nền tảng tình yêu trên nền cát và sự chọn lựa không cân xứng. Vì không chiếm hữu được hoặc bị mất người yêu, nên đã tự tử. Đây có thể là một thứ tình yêu bồng bột, tình yêu Solonpas, tiếng sét ái tình và tuyệt vọng vì yêu.

Chúng ta suy về ý nghĩa đích thực của chữ YÊU. Tình yêu quanh quyện trong lòng mọi lúc và ở mọi nơi. Yêu nhau ở xa thì nhớ, ở gần thì thương. Thương nhau là muốn ôm ấp, muốn ngắm nhìn, muốn chia sẻ, muốn lo lắng chăm sóc và muốn ở bên cạnh. Xem ra tình yêu rất bao la, nhưng cũng rất giới hạn. Chúng ta nói rằng chúng ta yêu thương mọi người, nhưng thực sự chúng ta chẳng yêu thương ai tròn đầy. Chỉ nói tiếng yêu cho đẹp thôi. Làm sao gọi là tình yêu, khi làm việc gì cũng so sánh, chành cạnh, phân biệt hơn thua và còn lạm dụng lẫn nhau để tiến thân. Tuy nhiên xét cho cùng, về mặt tích cực của tình yêu gia đình, vì có yêu thương nên mới có ghen và vì có yêu nhau nên có những sự góp ý, chỉnh sửa, cấm cản, cằn nhằn và tranh cãi cũng là để giúp nhau nên hoàn thiện. Mỗi người hãy tự hỏi ai là người chúng ta yêu thương nhất và chúng ta đã đối xử với người đó thế nào?

Chúng ta có thể tìm mẫu tình yêu chân chính và cao quí nơi Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cho chúng ta một giải đáp của tình yêu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Chúa Giêsu đã hy sinh hiến mình trên thập giá để cứu độ chúng ta. Chúng ta biết rằng hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Chúa Giêsu đã chết cho kẻ tội lỗi là chúng ta. Tình yêu của Chúa vượt trên mọi thù hành, ganh ghét, bách hại, tù đầy và giết chóc. Tình yêu thí mạng của Chúa cao vượt mọi thứ tình yêu. Chúa mời gọi chúng ta hãy yêu như Chúa yêu.

Có lẽ phần đông trong chúng ta sống giới luật yêu thương cách ơ hờ như khách bàng quan. Đôi khi chúng ta cũng cảm thông và động lòng trắc ẩn chia sẻ chút ít cơm áo, tiền bạc giúp đỡ những người đau khổ và cùng khốn trong một vài trường hợp. Việc bác ái của chúng ta còn bị cân đo đong đếm và rất giới hạn. Làm phước nhưng muốn được phước báo ngay, cần phải có lời cám ơn, đăng tên hoặc muốn được nêu danh khen ngợi. Tình yêu của chúng ta bị giới hạn trong sự ích kỷ riêng tư và thiếu vị tha. Chúng ta thường muốn sống trong tình yêu trao đổi cân xứng. Thật ra yêu nhiều thì cho nhiều và cho nhiều là yêu nhiều. Tình yêu vị tha được nhận biết và trân quí khi chúng ta có từ bi tâm và hiến mình vì người khác.

Trong Giáo Hội, không thiếu những vị đã học bài học yêu nơi Chúa. Các ngài đã dám xả thân vì bạn hữu như các vị: Cha Thánh Đamien Molokai, tông đồ người hủi tại Hawaii; Thánh Francis Xavier hiến dâng cuộc đời đem tin mừng cho các dân tộc Á Châu; Đức cha Jean Cassaigne đã hiến thân mình nơi trại cùi Di Linh, Việt Nam. Chân phước Têrêxa thành Calcutta hy sinh một đời phục vụ những kẻ cùng khốn tại Ấn Độ và qua mọi thời đại, đã có rất nhiều mẫu gương của các đấng bậc và anh chị em đáng yêu kính đã dõi theo bước chân của Thầy Chí Thánh để xả thân vì yêu. Các ngài đã học yêu thương như Chúa đã yêu các ngài.

Lạy Chúa, chúng con muốn yêu Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết tâm hồn và hết sức cùng yêu thương anh chị em như chính mình. Chúng con ước muốn yêu và được yêu, nhưng lòng chúng con vẫn thờ ơ và chìm đắm trong tham sân si mà thiếu lòng bao dung. Chúa còn mời gọi chúng con hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho họ. Cầu nguyện cho kẻ thù thì chúng con có thể làm, nhưng tha thứ và yêu họ thì chúng con cứ khất lần. Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở lòng, mở trí và ban thêm sức mạnh để chúng con biết yêu và yêu như Chúa đã yêu chúng con.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2012

Ðời sống chứng nhân

[caption id="attachment_4106" align="aligncenter" width="500" caption="“Chúng ta hãy tự khai mở niềm hy vọng của người bất hạnh, cho dù điều đó đe doạ đến của cải chúng ta”"][/caption]

(Lc 24,35-48)


Albert Schweitzer là một cậu bé rất thông minh, lại say mê âm nhạc. Khi trưởng thành cậu chơi đàn Organ, và cuối cùng đã trở thành Tiến sĩ Âm nhạc. Sau đó, Albert nghiên cứu các chủ đề về tôn giáo, và đã đậu Tiến sĩ Triết học. Ông làm Hiệu trưởng Trường Ðại học.



Như thể học chưa đủ, ông từ chức Hiệu trưởng để theo ngành y khoa, 7 năm sau, trở thành bác sĩ với bằng Tiến sĩ Y khoa. Với 3 bằng cấp Tiến sĩ, Albert Schweitzer dễ dàng trở thành một người giàu có và nổi tiếng.


Thế nhưng, Tiến sĩ Albert Schweitzer lại cùng với người vợ bán tất cả gia tài, sang tận Châu Phi thiết lập một bệnh viện ở Lambarene. Ông cứu giúp hàng ngàn người phong cùi và những người mắc bệnh buồn ngủ.

Ông huấn luyện y tá và điều dưỡng để phụ giúp ông. Khi hết tiền mua thuốc, ông trở về Âu Châu, trình diễn âm nhạc trong thành phố lớn, lấy tiền vé vào cửa để trả tiền mua thuốc cho bệnh viện của ông ở Lambarene. Ông tin rằng những người nghèo ở Châu Phi đều là những thành viên trong gia đình Thiên Chúa. Ông được Giải thưởng Nobel Hoà Bình năm 1953.

Sau khi dâng hiến cả cuộc đời cho người Châu Phi nghèo khổ, nhà truyền giáo đã đi về nhà Cha năm 1965 lúc 90 tuổi.

***


Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu Phục sinh kêu gọi các môn đệ hãy làm chứng nhân cho Người.

Chúng ta hãy là chứng nhân của sự sống mới. Thế giới ngày nay quay cuồng trong nỗi chết. Cái chết của chiến tranh, khủng bố khiến người ta chết không toàn thây. Cái chết của SIDA, ma tuý làm người ta chết không ra con người. Cái chết của phá thai, tự vẫn như cướp quyền Ðấng Tạo Hoá. Người tín hữu Kitô phải làm chứng cho sự sống mới.

Sự sống của Ðấng Phục Sinh: lôi cuốn, hấp dẫn gấp ngàn lần nỗi chết quay quắt điên loạn của con người. Sự sống của Ðấng Phục Sinh tràn đầy niềm hy vọng. Nếu Ðức Kitô bị đóng đinh đã sống lại ra khỏi mồ, thì chúng ta có quyền tin tưởng vào chiến thắng của Người trên bạo lực, hận thù và nỗi chết.

Chúng ta hãy là chứng nhân của niềm vui. Nếu các môn đệ buồn phiền vì Thầy đã chịu khổ hình, thì các ông lại vui mừng biết bao khi nghe tin Thầy sống lại. Nếu các môn đệ lo âu vì sợ người ta đã giết Thầy sẽ bắt luôn cả trò, thì các ông lại trọn niềm hân hoan khi thấy Thầy sống lại ra khỏi mồ. Nếu chúng ta thực sự ra khỏi nỗi âu lo về mình, chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui. Nếu chúng ta mang lại nụ cười cho những người bất hạnh, chúng ta đang công bố tin vui Phục sinh.

Ðức Hồng y Danielou có nói: “Chúng ta hãy tự khai mở niềm hy vọng của người bất hạnh, cho dù điều đó đe doạ đến của cải chúng ta”.

Cha Charles de Foucauld quả quyết: “Chỉ có một số người có khả năng làm chứng bằng lời nói, nhưng mọi người đều có thể làm chứng bằng đời sống lương thiện, gương mẫu, và bằng đời sống Kitô hữu sinh động”.

Trong nghi thức rửa tội của Giáo hội Ấn Ðộ, người chịu phép Rửa tội đặt tay lên đầu và nói: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16).

Vậy lời rao giảng Tin Mừng sinh động nhất, hữu hiệu nhất và cao đẹp nhất chính là một cuộc đời quên mình phục vụ như nhà truyền giáo Albert Shweitzer đã làm cho những người phong cùi Châu Phi.

***


Lạy Chúa,

Khi chúng con u sầu, xin đem đến một ai đó để chúng con an ủi. Khi gánh nặng đè bẹp, xin chất thêm cho chúng con gánh nặng của người khác nữa.

Khi chúng con cần sự âu yếm vỗ về, xin cho người khác kêu gọi chúng con đến để vỗ về âu yếm họ.

Xin dạy chúng con trở nên chứng nhân của một Thiên Chúa phục vụ và yêu thương. Amen.

Thiên Phúc

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Rửa chân

[caption id="attachment_3915" align="aligncenter" width="468" caption="“Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”"][/caption]

Rửa chân là bổn phận phục vụ và là công việc của tôi tớ (hoặc nô lệ). Ngày xưa, tôi tớ phải rửa chân cho chủ. Việt Nam không “lệ” rửa chân, nhưng tôi tớ lại phải khom lưng hoặc nằm xuống cho chủ bước qua.

Rửa chân là một cách phục vụ của tôi tớ. Chúa Giêsu là Thầy và là Chúa nhưng Ngài đã hạ mình để làm việc của tôi tớ mà rửa chân cho người khác, dù Ngài đã xác định: “Tôi tớ không trọng hơn chủ” (Ga 13:16a; Ga 15:20) và “kẻ được sai đi không lớn hơn người sai đi” (Ga 13:16b). Trước khi các Giáo hoàng ký các văn bản, truyền thống Giáo hội có “cách nói” khiêm nhường thật tuyệt vời: “Tôi tớ của các tôi tớ”.

Có lẽ chân đi nhiều nên phải rửa. Tay muốn phạm tội mà chân không đi thì cũng… “bó tay”. Rửa chân còn có nghĩa là yêu thương, khiêm nhường, phục vụ và tha thứ.

Rửa chân là yêu thương


Trong Phúc âm, thánh Gioan ghi chép lại nghi lễ rửa chân do chính Chúa Giêsu thực hiện vào đêm cuối đời Ngài trên thế gian. Đây là điểm khác so với các Phúc âm nhất lãm. Rửa chân người khác là hành động yêu thương. Nghi thức rửa chân chỉ có trong Phúc âm của thánh Gioan – là “chàng trai trẻ” tự xưng “người môn đệ Chúa yêu” (Ga 13:23; Ga 19:26; Ga 13:23; Ga 20:2; Ga 21:7 & 20), và vì thế mà thánh Gioan cũng rất thích nói về tình yêu. Người rửa chân là “người thực hành yêu thương”, còn người được rửa chân là “người được yêu thương” – và cũng có trách nhiệm yêu thương người khác.

Tình yêu là bản chất của Thiên Chúa, như thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4:8). Tình yêu ấy là Lòng Thương Xót vô biên của Ngài, là khối tình cuồng si không ai hiểu thấu: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4:10). Tình yêu có lý lẽ riêng của con tim mà lý trí không thể hiểu hết, nó có những nghịch lý vừa “kỳ diệu” vừa “dễ thương” và khả dĩ chấp nhận. Thánh Gioan phân tích: “Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Ngài nơi chúng ta mới nên hoàn hảo (1 Ga 4:12). Đại văn hào Victor Hugo cũng có ý tưởng độc đáo:“Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa. Chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết vì yêu lại là sống trong tình yêu. Quá ngược đời, và lạ thật! Người đời còn nhận ra như vậy, huống chi Thiên Chúa.

Rửa chân là khiêm nhường

Người có lòng yêu thương thì luôn sống khiêm nhường. Mà khiêm nhường chính là nền tảng mọi nhân đức. Rửa chân người khác là động thái chứng tỏ sự khiêm nhường, khi chúng ta làm vậy là chúng ta vâng lời mà thực hành mệnh lệnh Chúa Giêsu đã truyền dạy. Chúa Giêsu quan tâm công việc mà người ta cho là hèn hạ đó, thế nên chúng ta cũng phải noi gương mà làm với sự vui vẻ và lòng khiêm nhường, khi đó chúng ta sẽ cảm nghiệm được ý nghĩa sâu xa để hiểu đúng và làm đúng. Ý nghĩa sâu sắc này sẽ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của gương Chúa Giêsu đối với chúng ta ngày nay.

Có vẻ lạ khi 3 tác giả phúc âm kia (Mátthêu, Máccô và Luca) tập trung vào Bánh và Rượu mà Chúa Giêsu biến thành Mình Máu Ngài lúc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể vào chiều tối ngày Thứ Năm Tuần Thánh, buổi tối cuối cùng của đời Ngài. Tông đồ Gioan lại có cái nhìn hoàn toàn khác. Chúng ta biết rằng “người môn đệ Chúa yêu” ghi lại đầy đủ các hành động và lời nói của Chúa Giêsu, còn các tác giả kia không ghi lại. Câu trả lời có thể đơn giản là Gioan cảm thấy nghi thức rửa chân cần được thuật lại trong Tân ước. Mặt khác, Gioan có thể nhận thấy có sự nối kết trực tiếp giữa việc rửa chân và “việc làm khác thường” của Đức Kitô trong cuộc đời Ngài, trong cái chết của Ngài và sự sống đời sau.

Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã noi gương Chúa Giêsu một cách trọn vẹn, không chỉ rửa chân cho người khác mà còn cúi xuống hôn chân người được rửa chân. Một động thái “kỳ lạ” gây ấn tượng rất sâu sắc và thật là dễ thương!

Rửa chân là phục vụ


Người có lòng khiêm nhường thì luôn sẵn sàng phục vụ người khác. Chúa Giêsu xác định: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20:26). Ngài không nói cho có lệ, không nói suông, mà chính Ngài đã nêu gương và xác định: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28).

Nghi thức rửa chân được ghi lại trong Ga 13:1-17 cho chúng ta một cái nhìn mới về tính cách của Đấng Cứu Độ. Khi nào chúng ta áp dụng bài học “độc nhất vô nhị” này trong đời sống, chúng ta sẽ có thể hiểu hơn về lý do có người vẫn cố gắng đi tìm hạnh phúc mà chưa đạt được trọn vẹn, còn có người lại may mắn đầy ắp niềm vui sướng – như người Việt Nam nói: “Sướng từ trong trứng sướng ra” hoặc “đẻ bọc điều”. Đây cũng là một bí ẩn mầu nhiệm của cuộc đời, một dạng “vô cực”.

Chúa Giêsu đã làm công việc mà người ta cho là hèn hạ, đó là rửa chân, nhưng không phải là rửa chân cho người trên mà là rửa chân cho người dưới quyền mình. Rõ ràng là Ngài không muốn được phục vụ mà chỉ muốn phục vụ. Tuy nhiên, đó cũng chính là mệnh lệnh của Ngài: “Anh em gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:13-16).

Thánh Luca cũng nói đến việc đó trong buổi tối lễ Vượt Qua: “Các ông còn cãi nhau sôi nổi xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất. Đức Giêsu bảo các ông: Vua các dân thì dùng uy mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Nhưng anh em thì không phải như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ. Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với kẻ phục vụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ (Lc 22:24-27).

Qua hành động, Chúa Giêsu cho thấy rõ rằng Ngài không đòi hỏi chúng ta làm gì cho Ngài, dù Ngài là Thủ lĩnh và Đại huynh của chúng ta, đáng lẽ Ngài phải được người khác phục vụ, thế mà Ngài lại phục vụ họ – tức là chúng ta, và Ngài không chỉ muốn mà còn bắt buộc chúng ta phải vui vẻ phục vụ nhau. Như vậy, chắc chắn sự phục vụ là thực chất của việc lãnh đạo.

Chúa Giêsu thích phục vụ, cả đời Ngài rong ruổi khắp nơi để phục vụ người khác – đặc biệt là những người nghèo khổ. Điều này được xác định qua mẩu đối thoại giữa Chúa Giêsu và tông đồ Phêrô trong trình thuật Ga 13:6-10:“Chúa Giêsu đến chỗ ông Phêrô, ông liền thưa với Ngài: “Thưa Chúa, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”. Chúa Giêsu trả lời: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu”. Ông Phêrô lại thưa:“Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”. Nhưng Chúa Giêsu nói ngay: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy”. Vừa sợ không được chung phần vừa khoái chí, ông Phêrô phấn khởi: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa”. Chúa Giêsu cười rất hiền: “Ai đã tắm rồi thì không cần phải rửa nữa, toàn thân người ấy đã sạch”. Và Ngài “láy” một câu quan trọng:“Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”.

Rửa chân là tha thứ

Người mau mắn phục vụ thì dễ dàng tha thứ. Vì cảm nghiệm được ơn tha thứ nên muốn tha thứ, muốn rửa mình và rửa người khác. Ở đây, động từ “rửa” không chỉ là làm cho sạch mà còn là tha thứ. Phàm cái gì bẩn thì phải rửa, dù bẩn theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. Thánh vương Đa-vít cũng đã cầu nguyện: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy”(Tv 51:4).

Rửa sạch là việc cần làm ngay, tha thứ cũng là việc cần làm càng sớm càng tốt và càng nhiều càng tốt. Có lần ông Phêrô hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” (Mt 18:21). Đức Giêsu đáp: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy” (Mt 18:22). Không chỉ vậy, chúng ta còn phải yêu thương, tha thứ, cầu nguyện và làm ơn cho cả kẻ thù nữa (Mt 5:44; Lc 6:27). Khó quá, nhưng không được phép không làm!

Tha thứ mỗi ngày 1 lần cũng khó rồi, nhất là khi “sự xung đột” trầm trọng, huống chi mỗi ngày tha thứ 7 lần. Giáo hoàng Phêrô nghĩ mình có thể tha thứ 7 lần là “ngon” lắm rồi, ai dè… “bị hố”!

Chúng ta thực sự may mắn nên có thể tạ ơn vì luôn tận hưởng hồng ân tha thứ mỗi khi chúng ta cần đến Lòng Thương Xót của Chúa. Nếu chúng ta không biết tha thứ thì chúng ta là người đầy tớ không biết thương xót đồng loại (x. Mt 18:23-35), nghĩa là chúng ta vừa ích kỷ vừa độc ác nên không thể được Thiên Chúa tha thứ!

Lòng Chúa Thương Xót quá lớn nên ơn tha thứ của Ngài cũng vô cùng, vẫn cầu xin Chúa Cha thương chính những kẻ đã dã tâm giết chết Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23:34).

Tạm kết

Cuối cùng, chúng ta phải ghi nhớ lời Chúa Giêsu nói về việc rửa chân: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em!” (Ga 13:17). Chúa Giêsu nhấn mạnh đến việc thực hành chứ không bảo chúng ta nghe biết cho vui tai.

Ngài chú ý cách thực hành tích cực, và chúng ta chắc chắn sẽ hạnh phúc nếu chúng ta thực hành điều Ngài đã làm. Ngài biết rằng sự đố kỵ, ghen ghét, bực tức, và thiếu lòng tha thứ làm chúng ta bị hạn chế và ngăn cản sự phát triển tâm linh của chúng ta. Nếu chúng ta cho phép những điều đó xảy ra, cuối cùng chúng sẽ hủy diệt chúng ta.

Khi tham dự phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta hãy suy niệm những bài học Chúa Giêsu đã làm, chúng ta sẽ cố gắng khiêm nhường và cảm nghiệm niềm hạnh phúc khi noi gương Thầy Chí Thánh Giêsu trong việc phục vụ nhau bằng cách tha thứ lẫn nhau.

Vậy thì chúng ta đích thực là môn đệ của Chúa Giêsu, như Ngài đã tâm sự:“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15:15). Là thân phận tôi tớ, thậm chí chỉ đáng làm nô lệ, thế nhưng chúng ta lại được Chúa Giêsu gọi là bạn hữu và là môn đệ. Còn hạnh phúc nào hơn?!

Lạy Chúa, xin rửa chúng con được sạch. Xin giúp chúng con biết chân thành yêu thương, luôn sống khiêm nhường, vui vẻ phục vụ và mau mắn tha thứ. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

Trầm Thiên Thu

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2012

Sức Mạnh Của Thập Giá

[caption id="attachment_3891" align="aligncenter" width="480" caption="Không có giếng nào sâu hơn tình yêu của Thiên Chúa..."][/caption]

Vào năm 1856, các nhà khảo cổ đã thực hiện một cuộc khám phá đầy thú vị tại đồi Palatino ở Rôma. Khi đào bới lớp đất bao phủ một trại lính Rôma cổ, trên vách một bức tường họ tìm thấy một cây thập giá được một người lính nào đó dùng đinh hay mũi dao cắt một cách vụng về trên tường. Bên cạnh thập giá là hình một chàng thanh niên giơ tay chào kính thập giá. Trên thập giá có vẽ hình một người nhưng đầu là hình một con lừa. Dưới hai bức hình người ta thấy có viết hàng chữ: “Alexandre Menos thờ lạy Chúa của hắn”.

Các nhà khảo cổ cho rằng có thể bức tranh đã được thực hiện khoảng giữa những năm 123 và 126 sau công nguyên. Nếu sự phỏng đoán về niên biểu này đúng thì đây có lẽ là hình vẽ về thập giá cổ xưa nhất và đồng thời cũng là một thập giá bị nhạo báng. Người ta có thể đọc được ý tưởng đàng sau hình vẽ ấy như sau: “Nếu Thiên Chúa mà chết trên thập giá thì đây là một hành động yếu hèn, khờ dại như hành động của một con lừa. Và cả những người thờ lạy Thiên Chúa trên thập giá cũng là những kẻ ngu dại như lừa”.

Vào năm 1870, các nhà khảo cổ đã tìm được câu trả lời mà họ nghĩ là của một chàng thanh niên mang niềm tin Kitô tên là Alexandre Menos. Ở một cột trụ bằng đá dựng hình một vị thần vốn là thần của chiến tranh, người ta lại đọc được dòng chữ như sau: “Alexandre Menos vẫn vững tin”.

***


Quả thật, hình ảnh của một Thiên Chúa chịu treo trên thập giá là một hình ảnh khủng khiếp. Hình ảnh này tự nhiên gợi lên sự yếu nhược và khờ dại, nhưng Thánh Phaolô lại biện hộ cho hành động mà người đời cho là điên rồ ấy như sau: “Tiếng nói của thập giá đối với những kẻ hư hỏng là điên rồ. Còn đối với những người được cứu rỗi, tức chúng ta, thì đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Thật vậy, người Do Thái đòi hỏi phép lạ. Người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan. Còn chúng tôi thì giảng về Chúa Kitô chịu đóng đinh vào thập giá. Người Do Thái cho đó là điều xấu xa, còn những người ngoại giáo thì cho là dại dột. Nhưng với tất cả những ai được Thiên Chúa tuyển chọn thì Chúa Kitô chịu đóng đinh là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa”.

Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta chiêm ngưỡng sự khôn ngoan và sức mạnh ấy của Thiên Chúa. Từ thập giá ấy chúng ta cũng múc lấy sự khôn ngoan và sức mạnh để vác lấy chính thập giá của mỗi người chúng ta. Một người đàn bà tại trại tập trung Ðức quốc xã đã viết một lời nguyện và cài vào thi thể của đứa con gái nhỏ của mình.  Người đàn bà cầu nguyện như sau:

“Lạy Chúa, xin Chúa không chỉ nhớ đến những người thiện chí mà cũng thương đến những kẻ ác tâm, nhưng xin Chúa đừng nhớ đến tất cả những khổ đau mà họ đã gây ra cho chúng con. Xin Chúa hãy nhớ đến những hoa quả mà chúng con đã có được nhờ những đau khổ này, đó là tình bạn, sự trung thành, tính khiêm tốn, lòng can đảm, trái tim quảng đại, tâm hồn cao thượng đã đâm chồi nẩy lộc từ những khổ đau ấy. Và khi chúng con ra trước toà Chúa, xin cho những hoa trái ấy trở thành bảo chứng của ơn tha thứ dành cho họ”.

Bexitanbul, người thiếu nữ cũng chết trong cùng một trại tập trung đã thề nguyền không bao giờ thù ghét những cai tù đã từng đánh đập hành hạ cô. Trong cơn hấp hối, người thiếu nữ này đã thốt lên như sau: “Chúng ta phải nói với mọi người những gì mà chúng ta đã học được ở đây. Chúng ta phải nói với họ rằng không có giếng nào sâu hơn tình yêu của Thiên Chúa”.

Những lời trên đây đã xuất phát từ miệng của những con người đã bị chính người đồng loại của mình đày vào tầng đáy của địa ngục trần gian. Họ đã tìm thấy sức mạnh và lẽ khôn ngoan của thập giá.

Lạy Chúa Giêsu,
Chiêm ngắm và hôn kính Thập Giá Chúa trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, xin cho chúng con cũng biết đến kín múc sức mạnh và lẽ khôn ngoan từ thập giá Chúa. Xin cho chúng con biết đón nhận thập giá mỗi ngày và đi theo chân Chúa với tất cả những tín thác và tin yêu.

 R. Veritas

Có những thập giá đời

[caption id="attachment_3885" align="aligncenter" width="540" caption="“Hãy quan tâm tới nhau, khích lệ nhau làm việc lành, phúc đức” (Dt 10,24)"][/caption]

Trên cây khổ giá đời, có biết bao thân phận đang chịu treo, những thân phận của con người nhỏ bé, gầy guộc, đau thương. Trên cây khổ giá đời, có những giọt nước mắt tuôn chảy, có những tiếng thì thào và im bặt. Chẳng biết bao lâu nữa, ai sẽ gỡ những thập giá đời cho những thân phận nhỏ nhoi, chẳng biết bao lâu nữa giọt nước mắt biến thành nụ cười.

Có những đèn đêm, người lao công quét đường, người bán hàng rong, chiếc gõ đều đặn. Cuộc sống gian khổ bên những chiếc xe rú chạy, có những giọt mồ hôi bên những giọng cười say khướt, có những nhọc nhằn bên những xa hoa. Thập giá đời sao quá nặng để nuôi đàn con ăn học, những đêm khuya vắng, than cùng tiếng chổi quét, khàn đi cùng tiếng rao.

Có ánh đèn dầu đêm ngoài vườn khuya, người lao động cắt vội mớ rau, hái vội trái, trẩy vội củ. Áo vai gầy ướt sẫm, mắt mờ đi vì thiếu ngủ. Những luống rau rồi đây cũng chẳng còn, miếng đất sẽ là nhà ở mà chẳng bao giờ là của mình. Luống rau, mồ hôi sẽ chẳng còn những đêm vất vả. Ngày mai, bó gối ngồi chợ người, chờ ai đó thuê mướn làm mọi thứ có thể làm. Ngày mai miếng đất không còn, cuộc đời buồn hơn.

Có những ngày nắng đổ lửa, chiếc xe đẩy kẽo kẹt, những trái cây bán ven đường, chở vài cây cảnh, bán vài con cá, một vài mớ rau, thịt. Làm bất cứ công việc nhỏ nhen vừa với đồng vốn. Vật vã trụ lại trong cuộc sống. Hớt ha, hớt hải đẩy xe chạy trốn công an dẹp lòng lề đường, cuốn vội tấm bạt bày bán quần áo, giày dép, những thứ linh tinh. Những con người khốn khổ, lã chã mồ hôi bên cóng cơm nguội lạnh, nhìn theo những người đi qua. Bên dòng đời ngược xuôi vất vả, nhìn ai cũng thấy thương.

Có những cụ già trong ngoài bảy mươi, mắt kèm nhèm lần từng bước bên bờ biển, nhặt về từng con ốc, con sò. Những cụ già nhặt bao nylon, những chiếc chai nhựa. Nhặt nhẹm nuôi thân già cô độc, một ngày chưa được một tô phở giá bèo lại còn thêm vài ba đứa cháu. Có những phận người đau khổ suốt một đời, cặm cụi bước chân với những tờ vé số, những chén trà xanh bên góc đường nhỏ, nhặt nhặn những rau thừa, cá cặn bên hông chợ, hàng quán. Thân già còm cõi giữa những hàng phố sang trọng, bước chậm từng bước trên con lộ thênh thang, đông người qua lại.

Có những chàng trai, thiếu nữ giả dạng câm điếc, đui mù, què quặt, thương tích, vật vạ bên đường. Những cuộc đời dường như không lối thoát, không chữ, không nghề, không ai thuê mướn, vẫn phải sống, vẫn phải giả dạng. Một trong số họ, ngày nào đó trở thành cướp, bởi đàng nào cũng mất. Có những đứa trẻ đen nhẻm trong bộ quần áo học sinh, nhìn vào hàng đồ chơi thèm ước, trên tay chỉ có chiếc ca hay ít tờ vé số hoặc vài nhánh hoa, cùng bà mẹ mưu sinh.

Có những Osin chịu ngược đãi, bị lạm dụng tình dục, chỉ vì cuộc sống khó khăn quê nhà mà phải cắn răng chịu đựng. Có Osin bị dội nước sôi bởi bà chủ độc ác, có Osin chịu xâm trên mặt con rồng quỷ quái, bởi bà chủ ghen tuông. Thân phận tôi đòi, nhân phẩm bị chà đạp, con người chịu xúc phạm. Thập giá của ô nhục con người dành cho con người, tàn nhẫn và độc ác.

Có những công việc không đủ sống, giá cả đắt đỏ, các thứ phí chồng chất, gánh nặng lại nặng hơn. Miệt mài nhập liệu, kiểm toán, dịch tài liệu, làm thêm ngoài giờ và cả ngoài ngành, giao hàng, bỏ báo, may, thêu. Cuộc sống tất bật, căng tai, căng mắt, thiếu ăn, mất ngủ, làm hụt hơi mà vẫn thiếu. Cuộc sống kéo lê thập tự, những lúc chẳng vác nổi. Những con người tử tế với đồng lương ít ỏi, kéo cày thêm công việc để bươn chải cuộc sống cho gia đình, những đứa con được ăn học.

Có những đồng vốn bỏ ra và rồi thấp thỏm, chẳng biết cái nhà đang cầm có ngày nào chuộc được, khi đổ vào hết ao cá, ruộng vườn. Chủ nợ trốn mất, lao đao vô vọng, bạc trắng mái đầu, công nợ chồng chất chẳng lấy đâu ra mà trả. Những con người khổ trí lao tâm giữa dòng đời lừa lọc, biết đâu thật, đâu giả. Muốn sống đời lương thiện giữa dòng đời giả dối, đôi khi mất hết, về với con số nợ, lầm than.

Quá nhiều thập giá khiến nhiều người không vác nổi, dẫn đến quyết định biết là đau khổ, trái lương tâm, khi đành hy sinh đứa con trong bụng vì sinh ra biết rằng sẽ khó khăn chồng chất. Quá nhiều tủi nhục, đau thương, nhiều người không đứng vững, quỵ ngã trong nghiện ngập, buông xuôi trong tự vẫn. Những thập giá đời của lương tâm cắn rứt, của những tâm hồn tê dại.

Có những cuộc đời, sống gần như đang chết, bị lừa lọc, bị bán cho thú vui người đời. Những con người sống mà chỉ muốn chết. Những thân phận bị giam nhốt cho công nghệ tình dục. Những lúc khốn cùng, tiếng cô gái nhỏ van xin đừng làm hại đời mình. Tiếng khóc không thành tiếng, một tiếng khóc vừa tủi nhục của kiếp nghèo vừa khóc hận vì người bỏ tiền mua. Một thập giá đời của con người, bầm dập với những cuồng si. Bao cô gái chưa kịp vui ngày cưới đã khóc thương một phận đời bị bán buôn, trao đổi. Bao nhiêu giọt nước mắt nữa, khóc cho đời người con gái, rồi đây sẽ chai đi vì nhục nhằn, vô cảm vì không biết ý nghĩa tình yêu, mang vào trong mình những oán hận, trầm uất.

Những cô gái quê mơ ước xứ Hàn, xứ Đài, xứ Trung, qua phim ảnh, ca nhạc, tươi cười bên chồng ngoại để đổi đời, đổi số. May mắn thì ít, tai hoạ lại nhiều, vì đâu lường hết bao nhiêu vấn đề thương mại trong cuộc tình duyên. Bên kia người ta quảng cáo môi giới những cô gái Việt làm vợ, không hài lòng còn có thể trả lại, thua món hàng “mua rồi miễn trả lại”. Thương cho những thập giá đời đến từ những lam lũ đồng quê và mong ước được đổi đời, từ đau khổ này sang đau khổ khác tệ hại hơn.

Bao nhiêu thập giá nữa trên thân phận thống khổ này? Tai hoạ đến từ thiên nhiên, đến từ con người ác tâm giả nghĩa, vơ vét cho đầy túi tham. Biến rừng thành hồ làm thuỷ điện, có cơ hội bòn rút, để khi mưa về xả lũ, gây bao tai ương cho dân lành dưới xuôi, hết năm này đến năm khác ngập lụt, mất nhà, mất thu hoạch ruộng nương và mất cả người. Biến thửa ruộng bao đời vun xới, đất tổ, nghĩa trang, thành sân gold, thành khu công nghiệp bỏ hoang, thành những khu biệt thự không người và đẩy những con người nông dân chất phác trở thành dân oan từ năm này qua năm khác, không ai giải quyết. Những vùng đất trồng trà, cà phê trở thành nơi khai thác khoáng sản, nhiễm độc. Đau thương cho những người dân đang góp phần nhiều nhất cho nền kinh tế phải chịu bán rẻ bởi những lòng tham vô độ.

Vì cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế, thì cây khô héo sẽ ra sao?” (Lc 23,31). Những thập giá đời, không mong ước gì hơn, xin đừng vô cảm, xin đừng nhục mạ, cướp bóc, lọc lừa, trên những mồ hôi nước mắt của những con người dân đen, chất phác. Xin đừng biến những con người lương thiện, ngây thơ, thành những món hàng trao đổi. Hãy gỡ những chiếc đinh đóng vào thập giá cho nhau. “Hãy quan tâm tới nhau, khích lệ nhau làm việc lành, phúc đức” (Dt 10,24).

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Tại sao Ngài bị đóng đanh?

[caption id="attachment_3850" align="aligncenter" width="462" caption="“Ngài bị đóng đanh vì yêu thương tôi và yêu thương bạn?”"][/caption]

Tại sao Ngài bị đóng đanh?” Có lẽ đây là câu hỏi mà cả người yêu lẫn người ghét Ngài đều muốn có câu trả lời. Nhưng trải qua hơn 2.000 năm sau bản án bất công dẫn đến cái chết nhục nhã của Ngài trên thập giá, câu hỏi này vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng, ít nhất là theo sự hiểu biết về tri thức của con người. 



Nhưng để tìm được câu trả lời thoả đáng, có lẽ chúng ta cần phải trả lời được câu hỏi mà chính Ngài lúc sinh tiền đã hỏi các môn đệ mình. Ngài đã có lần hỏi các ông: “Người ta bảo Con Người là ai?” (Mt 16,13). Thánh Kinh cho biết, trước câu hỏi ấy các Tông đồ đã tỏ ra lúng túng. Họ vay mượn ý kiến của người này, người khác để nói về Ngài. May mắn có Phêrô đã trả lời đúng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống” (Mt 16,16). Nói Phêrô may mắn trả lời đúng, vì thực sự chính ông cũng chẳng hiểu điều ông nói, vì sau đó khi có dịp để hiểu về Đức Kitô như thế nào thì ông đã tỏ ra rất thiếu sót. Do ở sự thiếu sót ấy, Ngài đã gọi ông là Satan. Bởi vì điều ông xưng tụng Ngài là Đức Kitô và việc ông ngăn cản Ngài đừng hoàn tất sứ vụ của Đức Kitô là những gì hoàn toàn trái ngược. Ngăn cản không để Ngài hoàn thành sứ vụ của Đức Kitô là một cám dỗ nghiêm trọng mà chỉ có Satan mới xúi giục Phêrô nghĩ như vậy và nói ra như vậy.

Để hoàn tất sứ mạng của Đức Kitô thì Ngài phải chấp nhận đau khổ, phải chấp nhận cực hình, và chịu tử hình trên thập giá. Và đây là lý do để Ngài phải chịu đóng đanh. Đối với những ai yêu mến Ngài thì thương cảm, và biết ơn Ngài, vì nhờ cái chết nhục nhã ấy đã giải thoát họ khỏi án phạt muôn đời, khỏi vòng nô lệ của Satan, và được sống trong tự do của con cái Chúa. Ngược lại, đối với những kẻ ghét Ngài, những ai tưởng rằng niềm tin vào Ngài là những nhận thức và cảm thức lỗi thời, lạc hậu, mê tín thì ghét bỏ Ngài, xua đuổi Ngài, hoặc ít là làm ngơ. Các trường phái tư tưởng từ vô thần, duy tâm, duy lý, duy vật, hiện sinh, ngay cả đến lý thuyết Cộng sản có khi chia rẽ nhau về nhiều điều, nhưng hợp nhau trong sự coi Ngài là kẻ thù chung. Vì đối với những người theo các tư tưởng này, thập giá chính là cái cớ cho họ vấp ngã. Một sự nhục nhã, vô lý đến độ không thể chấp nhận được. Nguyên nhân chính vẫn là Satan luôn xúi giục con người đừng chấp nhận Ngài là Đức Kitô, Đấng đã bị đóng đanh chết trên thập giá vì yêu thương nhân loại. 

Tại sao người ta ghét Ngài? 

 
Trong cuộc đời Ngài, sự yêu và sự ghét đã tỏ lộ cách mãnh liệt, hơn bất cứ trong cuộc đời người nào khác. Chính Ngài đã biết và đã tiên báo mình sẽ được yêu mến cũng như bị khinh chê, nhạo báng. Ngài cho biết người ta sẽ thờ phượng Ngài cũng như sẽ khinh dể Ngài. Ngài sẽ được yêu mến nhiệt tình và bị ruồng bỏ cực độ. Ngài cũng tiết lộ cho biết cuộc song đấu này sẽ kéo dài cho đến ngày thế mạt.  
 
Khi nói Ngài sẽ bị thế gian ghét bỏ nhưng thế gian đây phải hiểu là tinh thần thế tục, những lý thuyết mâu thuẫn với tinh thần Phúc Âm. Ngài vừa sinh ra đã được cụ già đáng kính Simêon nói với mẹ Ngài rằng Ngài sẽ là dấu hiệu gây sự chống đối. Điều mà Thánh Gioan sẽ diễn tả sau này: “Ngài vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Ngài tác thành, và thế gian đã không nhận biết Ngài. Ngài đã đến nhà Ngài, và các gia nhân Ngài đã không tiếp nhận Ngài” (Ga 1,10-11).

Ngài đã làm gì nên tội để phải chết? Ngài hiền hoà, khiêm nhượng hết lòng. Ngài chữa các thương tật, lại bị đả thương. Ngài cho kẻ chết sống lại, lại bị giết chết. Ngài cải ác khuyến thiện, mà lại bị đóng đinh thập giá. Ngài đem sự sống thần linh hoà giải loài người, mà bị kẻ thù hạ sát vũ nhục. Chúng ta hãy nhìn vào những người đã lên tiếng đả đảo, kêu án và vui mừng khi thấy Ngài bị đem đi để đóng đanh vào thập giá. Họ là những Pharisiêu, luật sĩ, kinh sư và thượng tế. Họ căm thù Ngài vì Ngài đã nặng lời nguyền rủa và phơi bày ra ánh sáng những hành vi, lối sống đạo đức giả, lòng tham lam và ham mê quyền lực của bọn họ. Bọn họ chính là đại diện của tinh thần Satan, tinh thần và lối sống thế tục.

Tổng trấn Philatô đã không tìm được lỗi nào để kết án Ngài, nhưng dưới sức ép của bọn người này, ông đành phải tuyên án Ngài. Điều khiến cho chúng ta giờ đây phải suy nghĩ, đó là Philatô đã có ý định đánh đổi Barabba một tội phạm khét tiếng để lấy Ngài. Nhưng rồi vì không muốn Ngài sống, nên bọn luật sĩ, kinh sư và thượng tế đã bằng mọi cách xúi giục dân chúng để chọn Barabba. Ở một nghĩa nào đó, Ngài đã chết thay cho Barabba, và tên cướp này được sống là vì cái chết của Ngài.
 
Nhìn xa hơn nữa, Barabba đây cũng chính là hình ảnh của nhân loại tội tình. Tội phản nghịch đến Trời, tội phạm đến tha nhân, và tội phạm đến chính con người của mình. Tội của những tư tưởng, lời nói, và hành động chống lại với Tin Mừng của Ngài. Và có thể nói, cái chết của Ngài là vì chúng ta và cho mỗi người chúng ta. Chỉ có điều là rất nhiều lần chúng ta không biết hoặc không quan tâm đến cái chết đó. Những lần đó là những lần chúng ta xúc phạm đến Ngài qua anh chị em của Ngài. Là những lần chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ trước tiếng mời gọi của lương tâm. Những lúc như vậy chúng ta cũng đã bỏ Ngài, chọn Barabba, và cũng đã đóng đinh Ngài. 
 
Tại sao người ta yêu mến Ngài?
 
Ngược dòng lịch sử, chưa có người nào khi đã chết, còn được người ta yêu mến đến mức tế tự, cầu xin! Đó là lý do tại sao trong mọi thời đại, thập giá và cái chết của Ngài vẫn thấm đậm nước mắt tình yêu. Nhiều người vẫn hăm hở chạy đến với Ngài. Như Phaolô xưa, họ cũng tuyên xưng: “Ai sẽ tách biệt chúng tôi ra khỏi tình yêu Đức Kitô? Tôi tin rằng dù sự sống hay sự chết, dù thiên thần, lãnh thần hay quyền thần; dù tương lai hay sức mạnh; dù sự cao sâu hay bất cứ sự vật nào, có sức tách biệt chúng tôi ra khỏi tình yêu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi!” Vì tất cả những người này đều ý thức được rằng Ngài đã chết vì họ, vì yêu thương họ, và vì muốn giải thoát họ khỏi hệ luỵ của Satan và của tội lỗi!
 
Có một khoảnh khắc nào trong thinh lặng, một mình trong một góc giáo đường hay ngay trong phòng khách, phòng làm việc của mình, bạn đã đưa mắt nhìn lên cây thập giá để tự hỏi lòng mình, hoặc hỏi những người quen đọc Thánh Kinh, quen tham dự Thánh Lễ, và quen thực hành sống đạo rằng “tại sao Ngài lại bị đóng đanh” chưa? Bạn hãy làm thử một lần xem sao, và bạn sẽ nhận được những câu trả lời chất chứa ngọn lửa tình yêu Chúa Giêsu trong trái tim bạn cũng như trong họ. Hãy đến gõ cửa một dòng nữ ẩn tu, như Dòng Cát Minh, Dòng Clara, hoặc Dòng Biển Đức, Dòng Châu Sơn, Dòng Phước Sơn để hỏi: “Tại sao các đan sĩ này vào dòng, có phải vì thất tình chăng? Có phải vì họ không có khả năng sống một cuộc sống hạnh phúc, thành công như trăm ngàn người khác không?” Và câu trả lời chắc chắn là “không”. Họ làm thế chính là do sự khát khao một tình yêu toàn hảo. Đó là điều đã dẫn họ cũng như chúng ta đến với Đấng đã dựng nên ta và chịu chết vì ta. Vì thiếu Ngài chúng ta không thể hạnh phúc được. Ngài đã tìm kiếm trái tim hèn yếu của chúng ta. Khác tất cả các trái tim đã từng sống động, Trái Tim Ngài đã được yêu mến trên hết mọi sự, hơn cả sự sống nữa. Văn hào Pascal đã kết luận: “Chúa Giêsu đã muốn được người ta yêu mến. Ngài đã đạt, vậy Ngài là Thiên Chúa”. Còn Thánh Augustine thì than thở: “Chúa đã dựng nên cho tôi một trái tim, và nó không ngừng thổn thức cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”.
 
Một điều xem như hiển nhiên là khi bạn yêu thập giá  Đức Kitô, bạn cũng bằng một cách nào đó chấp nhận bị đóng đanh trên đó. Và đây là lời tiên tri Ngài đã nói trước: “Đầy tớ không hơn chủ được. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, thì họ cũng bắt bớ các con” (Ga 15,20). Trong thực tế, chính đời sống lương thiện, đời sống bác ái, công bằng của bạn đã là một sự thua thiệt trước mắt thế gian. Và thế gian sẽ không tha cho bạn, vì lối sống và hành vi của bạn đi ngược lại với những gì mà thế gian thường suy nghĩ và hành động. Hai mươi thế kỷ đã qua, sự ghét Ngài vẫn chưa nguôi. Và sự thù ghét mà thế gian đổ trên đầu những ai yêu mến Ngài vẫn chưa chấm dứt, vì thập giá Ngài là một chướng ngại vật làm cản trở tội lỗi, tính ích kỷ, lối sống vô thần và tinh thần thế tục. 

Tóm lại, nếu bạn hỏi Chúa Giêsu câu hỏi: “Tại sao Ngài bị đóng đanh?” Chắc chắn bạn sẽ không được nghe Ngài trả lời. Sự im lặng của Ngài trên thập giá chính là câu trả lời đầy đủ và ý nghĩa nhất. Còn nếu bạn hỏi tôi: “Tại sao Ngài bị đóng đanh?” Tôi sẽ trả lời bạn rằng: “Ngài bị đóng đanh vì yêu thương tôi và yêu thương bạn?” Hãy thử nghĩ lại xem, nếu không có cái chết của Ngài lúc này bạn và tôi sẽ còn ra như thế nào. Đức Tổng Giám mục Fullton Sheen đã nói rất chí lý: “Chỉ có sự gì thuộc về Thiên Chúa, mới được yêu mến vô cùng, hoặc bị ghét bỏ vô cùng”. 
  

Trần Mỹ Duyệt

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Niềm vui của lừa con


Người ta ca ngợi sức mạnh của con hổ và gọi “ông” là chúa sơn lâm. Bất kỳ nghệ sỹ múa nào cũng phải ngưỡng mộ trước dáng điệu thanh tú của con công. Không ca sĩ nào mà không ganh tỵ trước giọng ca của chim hoàng yến. Tuy vậy, không con vật nào lại hạnh phúc như con lừa. Đơn giản vì lừa con được chở Vua Nước Trời vào thủ đô trần thế thiết lập vương quốc mới.



Lời Chúa ngày Chủ nhật Lễ Lá, hai tâm trạng, hai dung nhan khác nhau của Đức Vua khiêm hạ và yêu thương. Vua khiêm hạ cưỡi trên lưng lừa con tiến vào thành thiết lập vương quốc tình yêu. Chính vì lẽ đó mà niềm vui rạng rỡ chiếu toả trên dung nhan chú lừa.

Lừa con luôn biết mình chập chạp, yếu đuối, lười biếng và còn rất ương bướng thế mà lại được Vua Giêsu dùng làm phương tiện. Lừa con hiểu rằng niềm vui mình không do mình mà bởi Đức Vua đang ngồi trên lưng mình. Vì thế, lừa con hết sức cẩn trọng không ngó ngang trông dọc, không liếc mắt ngắm nàng lừa cái kẻo chân vấp vào đá làm xóc đau lưng Đức Vua.

Còn nhớ cũng là chú lừa con hôm nào đã mang trên mình Người Nữ diễm phúc, vượt đường xa, thăm viếng chị họ, mang niềm vui cho bà ngay khi Vua Nhỏ cư ngụ trong cung lòng Trinh Nữ. Lại chính chú lừa đã cõng Hài Nhi và Mẹ Người di cư ngoại quốc khi vua mình sợ không tiếp đón. Lừa con thật diễm phúc. Chú được hiện diện trong những thời điểm quan trọng của Vua Cả: Khi Tin Mừng được loan báo (Lc 1, 38 - 46); Khi Đức Vua ra đời (Lc 2, 1-20); Khi Tin Mừng gặp chống đối (Mt 2, 13-18) và khi Lời được tung hô (Mc 11,3 và Mt 21,1-10). Hẳn lừa ta cũng đã thầm nghĩ sao Vua Giêsu không dùng anh ngựa, bác hổ hay ít ra cũng là ông trâu. Vì dùng ngựa Ngài sẽ đi nhanh hơn, ngồi trên lưng hổ Ngài sẽ oai phong hơn nhiều… thế mà Ngài lại dùng mình, chú lừa chập chạm. Lừa con cần phải biết vương quốc tình yêu phải được xây dựng trên sự khiêm nhường. Và vì chính Đức Vua muốn phục vụ và dạy mọi người trong vương quốc  khiêm tốn phục vụ. Cũng chính vì điều đó mà lừa con được chọn, nên nó hẳn phải hãnh diện và vui sướng.

Niềm vui của chú lừa tuy bé nhỏ nhưng lại tròn đầy. Lừa con được phục vụ Vua muôn vua. Có người ước mong được niềm vui của chú lừa. Niềm vui được phục vụ Đức Vua đích thực, dù Ngài chỉ dùng có một lần thì cũng làm cho cuộc đời trở nên có ý nghĩa. Đức Vua cứ dùng thần dân theo ý Ngài muốn, dù chỉ một lần như chú lừa con. Dùng xong việc Ngài có thể bỏ đi, hay thậm chí khi cần Ngài có thể làm thịt lừa con để chung vui với bạn bè hay mời khách… thì lừa con cũng mãn nguyện. Vì lừa con là của Đức Vua, Ngài muốn làm gì cũng được.

Niềm vui của lừa con không ai lấy đi được, vì nó được chính Đức Vua ban tặng. Khi nhận biết điều này lừa con sẽ chăm chỉ hơn, nhanh hơn và nhất là ngoan hơn.

Lừa Con của Đức Vua

Pr.Mr. GtyltcM



Vác Đỡ Thánh Giá Chúa

[caption id="attachment_3823" align="aligncenter" width="480" caption="“Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”"][/caption]

Vào Tuần Thánh với Lễ Lá, Bài Thương Khó đã kể lại cho chúng ta nghe về Con Một Thiên Chúa mang thân phận con người với tên Giêsu. Ngài đã cô đơn đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu như bị bỏ rơi, chấp nhận hoá thân mình nên thần lương cho nhân loại, bị chính môn đệ phản bội nộp thầy cho quân dữ, bị đứng trước vành móng ngựa, nghe bản cáo trạng hàm oan, rồi lại nghe tuyên án tử hình, chịu vác thập giá, đánh đòn, đội mão gai, té ngã trên đường lên Núi Sọ, và cuối cùng, chịu đóng đinh và chết thật.

Đó là cái giá phải trả để chuộc lại tội bội phản của tổ tông loài người. Cụ thể hơn, chỉ có hy tế thập giá của Chúa Giêsu mới là lễ dâng đẹp ý Thiên Chúa Cha, để nhờ án tử hình của Chúa Giêsu mà Thiên Chúa Cha xóa đi bản án tử hình đời đời cho con người.

Tham dự vào cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu với lòng biết ơn Người đã mang lại cho chúng ta niềm hy vọng được tham dự vào cuộc sống vĩnh cửu của Thiên Chúa, nhờ lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa Cha.

Có người đặt vấn đề khá thời sự rằng: Chúa Giêsu đã chịu thương khó, đã chết và sống lại 2.000 năm rồi. Chúng ta đang nghe việc thuật lại như một chuyện kể, một cổ tích. Làm sao chúng ta có thể lại bước đi trên Đường Thương Khó với Chúa Giêsu nữa?!? Thật mơ hồ.

Tôi đồng ý với bạn rằng: chúng ta không tận mắt thấy Chúa Giêsu đổ mồ hôi máu trong đêm Vườn Dầu. Nhưng thiết tưởng, chúng ta có thể thấy rất cụ thể từng nếp nhăn cằn cỗi trên khuôn mặt của những Chủ Chiên ngày qua ngày phải đối phó với bầy quân dữ của Satan đang rình mò cắn xé Giáo Hội là Thân Thể Chúa Giêsu Kitô. Xin đừng nghĩ là các Chủ Chiên đang vô tư, vô tình, vô cảm trước những bức bách mang tính chủ trương và toàn diện đang xảy ra trong và cho Giáo Hội địa phương của mình. Nhưng nên nghĩ là các ngài đang đổ mồ hôi máu mà thưa với Chúa Cha rằng: “Lạy Cha nếu có thể được, thì xin cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha mà thôi”. 

Những chủ chiên ấy, không chỉ là những giám mục, linh mục, mà cụ thể hơn là bạn, là tôi, là tất cả những người làm ông bà, cha mẹ, anh chị đang mang trong mình trọng trách bảo vệ Đức Tin cho những thành viên non trẻ của mình trước những trận cuồng phong duy vật, vô thần, vô cảm, vô nhân đạo, vô lương tâm, vô luân lý.

Một người bạn tôi, đã từng là đại chủng sinh Giáo hoàng Học viện Đà Lạt, từng Giáo lý viên dự tòng và hôn nhân nhiều năm liền tại giáo xứ của mình, hôm nay, thầy lại đành bó tay, đành cắn răng chờ xem người con rể tương lai vốn con nhà cộng sản kia định liệu thế nào cho số phận con gái mình khi đã trót “ăn cơm trước kẻng”: có thể là nó chịu theo Đạo để cưới vợ, cũng có thể là nó bảo Đạo ai nấy giữ, rồi cũng có thể là nó xúi dại con gái mình phá cái thai ấy đi. Thật là đau khổ! Thế rồi, đúng là nhà ông sui của thầy đã ép thằng nhỏ phải bắt con gái thầy phá thai. Hai vợ chồng thầy đau khổ lắm. Đêm đêm bên ngọn đèn dầu thầm thĩ kêu van xin Chúa sáng soi cho con gái mình biết đường mà tuân giữ lề luật của Chúa.

Tôi vẫn nghĩ là sự chọn lựa để bảo vệ Đức Tin, để trung thành với lề luật Chúa, để tuân hành thánh ý Chúa cũng làm cho người yêu mến Chúa đến phải đổ mồ hôi máu như Chúa vậy. 

Một cha giải tội cho một hối nhân thường xuyên, lần nào xưng tội cũng bấy nhiêu tội tày trời ấy, có khi còn nặng nề hơn. Cha vừa nghe tội vừa khẩn khoản tha thiết kêu xin lòng thương xót Chúa đến độ vã cả mồ hôi, lạnh ớn người ngay trong toà giải tội.

Những người đau đầu nhất, đang đổ mồ hôi máu nhất hiện nay có phải là những giám mục, linh mục, những chủ chiên đang “lựa chiều bẻ lái” cho con chiên của mình một cách ứng xử Công giáo nhất trước tình trạng thế quyền quá lộng quyền đối với Sự Sống con người hiện nay. Nếu con người thời bây giờ biết rằng: vài chục năm trước đã có chủ trương phá thai cách toàn diện, cấp quốc gia như thế, thì hẳn đã không thể còn có chính họ hiện diện trên đời ngày hôm nay để chủ trương phá thai nữa. Là những người bảo vệ Đức Tin Công giáo, làm chứng cho Chân Lý của Thiên Chúa, nối tiếp công cuộc Sáng Tạo và Cứu Rỗi của Thiên Chúa, không đổ mồ hôi máu được sao? 

Cũng vậy, chúng ta không thấy cảnh Chúa Giêsu bị bắt bớ, không tham dự phiên toà xét xử Chúa Giêsu, không thấy những vết bầm tím trên thân mình Chúa Giêsu khi bị quân dữ đánh đòn, không thấy Chúa Giêsu vác thập giá, ngã lên ngã xuống trên đường lên đồi cao chịu chết, hoặc nếu có thấy, thì thiết tưởng, cũng chỉ là thấy qua những bản vẽ do các hoạ sĩ. 

Thế nhưng chúng ta có thể thấy được tận mắt các tín hữu của Chúa đang bị bắt bớ giam cầm tra tấn khắp nơi nơi đấy chứ? Nhất là, trong thời đại truyền thông này, thì tin tức về những chuyện bắt oan các tín hữu, bỏ tù gian, ném đá giấu tay, hay mượn tay người gây thương tích cho các linh mục trên đường mục vụ đều có thể truyền đi nhanh như chớp, làm sao mà lấy “thúng úp voi được”? Ấy vậy, những chuyện “quả tang”, “công khai” tra tấn những người theo Chúa Kitô trong Giáo hội Chúa Kitô đang diễn ra hằng ngày khắp nơi và cả trên đất nước chúng ta, mà chúng ta nói rằng chúng ta không tham dự được với Thập Giá Chúa Kitô sao?

Tại nơi chúng ta đang sống, Chúa Giêsu vẫn đang bị bán đứng với giá 30 đồng bạc, có khi ít hơn chỉ vài đồng, hoặc chỉ cần là sự đổi chác một chỗ ngồi, chỗ đứng cho vinh thân phì gia. Chúa Giêsu vẫn đang chịu bao lời phỉ báng, bôi nhọ, hạ nhục. Chúa Giêsu vẫn đang bị bắt bớ giam cầm, đánh đập tra tấn, đổ máu và cả mất mạng nữa. Vâng cuộc Thương Khó Chúa Giêsu đang hiển hiện nơi các tín hữu Chúa.

Như vậy, tín hữu Công giáo Việt Nam vào cuộc Thương Khó với Chúa Giêsu không chỉ là những giờ ngắm rằng, ngắm đứng, ngắm quỳ sốt sắng đến rơi lệ, không chỉ là những vành khăn tang trắng xoá quấn trên đầu suốt Tuần Thánh, không chỉ là những cử hành Phụng vụ long trọng trong thánh đường, không chỉ là những việc chay tịnh sám hối chỉ với Chúa, mà thiết tưởng còn phải cụ thể hơn là: khẩn cấp nhận ra và tham dự vào nỗi lo, niềm đau của các chủ chiên, của các tín hữu khắp nơi trên đất nước. 

Là con cái trong nhà, xin dâng những hy sinh và vác đỡ Thánh Giá cho cha mẹ mình trong việc lo cái ăn, cái mặc, cái học và nhất là trong việc bảo vệ đời sống Đức Tin trước những nguy cơ. Là con chiên trong một đoàn chiên Giáo Hội, xin dâng những hy sinh và vác đỡ Thánh Giá cho những Chủ Chiên, những tín hữu đang gặp bức bách, giam cầm, tra tấn. Là tín hữu Công giáo trong xã hội, xin dâng những hy sinh và chia sẻ niềm đau thương của mọi người, niềm đau do gian ác, bất công, đàn áp, niềm đau của bệnh hoạn tật nguyền, niềm đau của những mảnh đời nghiệt ngã không ai giống ai…

Đang viết bài này, tôi nhận được cú điện thoại của chị H., có người chồng 15 năm bại liệt, mọi sinh hoạt tại chỗ, con trai lớn cột sống dính khớp 9 năm nay cũng nằm luôn một chỗ cho chị H. lo lắng, con trai thứ có vợ tận Cà Mau, con gái út vừa đi học đi làm ở Sài Gòn, nhà mái tôn rách nát. Mùa mưa tới rồi, chẳng biết tính sao? Tôi có thể trả lời rằng trong cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu đâu thấy có cảnh bại liệt hay dính khớp cột sống để từ chối một cảm thông được không?

Tôi bỗng nghe tiếng lòng nhắc bảo: xin đừng vừa sốt sắng tham dự Phụng vụ cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu lại vừa dửng dưng vô tâm trước cảnh thương khó của biết bao người.

Lạy Chúa, Thánh Phanxicô đã thưa: “Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”. Xin cho chúng con cũng nhận ra Chúa Giêsu đang đau buồn, thương tích, bị nhục mạ, bắt bớ, giam cầm, đánh đập nơi những anh chị em chúng con, và cho chúng con nhiệt tình vác đỡ Thánh Giá của anh em, như vác đỡ Thánh Giá Chúa Giêsu vậy. Amen.

PM. Cao Huy Hoàng

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Người nghèo trên thập giá

[caption id="attachment_3802" align="aligncenter" width="480" caption="“Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46)"][/caption]

Đức Giêsu đã mở đầu bài giảng trên núi bằng lời kêu gọi khó nghèo: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Đối với khá nhiều người của thời đại hôm nay, lời chúc phúc nghèo khó xem ra là một cung đàn lạc điệu. Trong bối cảnh xã hội mà vật chất được coi như tiêu chuẩn để lượng giá mọi sự, thì lời hứa “Nước Trời” chẳng có chi hấp dẫn. Có nhiều người lập luận: Nước Trời tính sau, lo hiện tại trước đã.

Chắc chắn có nhiều người trong đám đông dân chúng được Thánh sử Mátthêu nhắc tới đã mở lòng đón nhận lời mời gọi khó nghèo của vị ngôn sứ thành Nazareth. Dưới ngòi bút của tác giả, Đức Giêsu như một vị Môisen mới, ngồi trên núi, thuyết giảng những bài huấn từ dài, với nội dung giáo huấn thâm sâu. Dân chúng lắng nghe, chẳng cần giấy bút ghi lại, nhưng họ đã nuốt từng lời và ghi vào trái tim, sau đó được thực hiện bằng chính cuộc đời. Không chỉ những người có mặt hôm đó, mà đã hơn 2.000 năm qua, biết bao người, nam cũng như nữ, đã sống sứ điệp sống nghèo vì Nước Trời. Họ là những vị thánh đã được Giáo Hội tôn vinh như mẫu mực của các tín hữu. Họ cũng còn là những người sống rất âm thầm như những “vị thánh không hào quang”, đã tình nguyện chọn lý tưởng sống nghèo một cách tự nguyện, thảnh thơi và an bình.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Đức Giêsu đã thực hiện lời chúc phúc này nơi cuộc sống cũng như cái chết của chính mình. Đọc Tin Mừng, chúng ta không thấy Đức Giêsu có chốn định cư, trong khi “con cáo có hang, chim trời có tổ”. Ngay cả một vật dụng đơn giản như chiếc gối để có một giấc ngủ ngon Người cũng không có. Khi cần tiền đóng thuế, Người bảo ông Phêrô đi câu một con cá, có đồng tiền ngậm nơi miệng, đủ suất thuế cho Thầy và trò (x. Mt 17,24-27). Những người hoạt động chính trị và kinh doanh thương mại thì thường khoe khoang một cuộc sống khá giả về vật chất để lôi kéo người ta ủng hộ mình. Nhiều khi họ tung tiền để mua những người hâm mộ. Đức Giêsu thì không như thế. Người hoàn toàn sống nghèo. Các môn đệ cũng chấp nhận cái nghèo của Người. Các ông từ bỏ mọi sự, lập tức lên đường theo Chúa vừa khi nghe tiếng Người kêu gọi (x. Mc 1,16-20).

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Đức Giêsu nghèo khó để đến với người nghèo. Đối tượng quan tâm của Người trước hết là những người nghèo về vật chất như những người ăn xin, những người bệnh tật. Đó cũng là những người nghèo vì nỗi khổ đau đang cắn rứt lương tâm, như các tội nhân, những cô gái điếm và người thu thuế. Họ còn là người nghèo vì đang oằn lưng đau đớn trước gánh nặng cuộc đời, như người mù bẩm sinh hay người đàn bà góa có con trai duy nhất vừa chết. Sau cùng, họ là những người nghèo do đời sống ích kỷ, khô cằn, khép kín lòng từ tâm đối với anh chị em mình như những người biệt phái, luật sĩ. Đức Giêsu gặp gỡ mọi người để nói với họ về triết lý sống nghèo.

Trên thập giá, Đức Giêsu được giới thiệu như một người nghèo đúng nghĩa: Người không mảnh vải che thân, người thân kẻ nghĩa xa lánh và chạy trốn. Phêrô, người được đặt làm tông đồ trưởng cũng chối Thầy vì sợ hãi. Người-Nghèo-Giêsu trên thập giá còn mất hết cả danh dự, bị sỉ nhục phỉ báng chê bai, chết như phường trộm cắp. “Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn. Dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích” (Is 53,2).Tình trạng nghèo trên thập giá bi đát đến nỗi dường như Thiên Chúa cũng vắng bóng vào giờ phút đau thương. “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Lời kêu than xé lòng cho thấy Đức Giêsu mang thân phận của con người bị nhục mạ, bỏ rơi đến mức tột cùng. Trên cây thập giá, Đức Giêsu đã đọc lời cầu nguyện của người đau khổ được ghi trong Thánh vịnh 22, diễn tả tâm trạng của một người bất hạnh, cảm thấy ngay cả Thiên Chúa cũng bỏ rơi mình trong lúc cô đơn. Tuy vậy, lời kinh trên đây cũng cho thấy người cầu nguyện không vô vọng hoàn toàn, vì vẫn tin vào Chúa, vẫn than thở với Ngài. Đây là lời than vãn thở dài của một người bị ngược đãi, đang bên bờ vực thẳm, nhưng đã tìm lại được lòng tự tin và niềm xác tín.

Cái nghèo nơi Đức Giêsu còn được thể hiện qua tâm tình phó thác của Người nơi Chúa Cha. Thánh sử Luca là người duy nhất ghi lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Đây là một lời cầu nguyện cảm động đầy tình nghĩa. Thánh Gioan còn diễn tả cái chết của Đức Giêsu trên thập giá như một cử chỉ hiếu thảo với Chúa Cha: “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,30). Vâng Đức Giêsu hấp hối không đơn côi. Người không ở một mình. Có Chúa Cha ở với Người. Đây là một hiến tế đau thương, nhưng qua đó, tình thương của Thiên Chúa được thể hiện cách mạnh mẽ và hào hùng. Khởi nguồn từ cái chết của Người, Thần Khí được ban tràn đầy cho thế gian.

“Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta vốn giàu sang phú quý, nhưng đã trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9). Người Nghèo có tên là Giêsu trên thập giá đã thực hiện sự hoán đổi diệu kỳ: cũng như nhờ việc Con Thiên Chúa làm người mà chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, nay nhờ sự nghèo khó của Người mà chúng ta được giàu có cao sang. Đức Giêsu đã mang lấy phận nghèo của con người, làm cho người nghèo từ nay không còn tủi phận nữa, nhưng tìm thấy niềm vui trong sự khốn cực, tìm thấy hy vọng trong đau thương, tìm thấy hướng đi cho tương lai của đời mình.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Lời chúc phúc ấy sẽ không còn là một cung đàn lạc điệu nếu tôi biết lắng nghe bằng “tần số” của trái tim. Ơn gọi của người tín hữu là ơn gọi sống nghèo. Thánh Mátthêu nói rõ: tâm hồn nghèo khó. Một người có tiền bạc mà vẫn có thể mang tâm hồn nghèo khó. Một người ăn bữa nay lo bữa mai mà có thể tâm hồn lại không nghèo. Như thế, khái niệm giàu-nghèo, theo lời chúc phúc của Chúa Giêsu không giống như khái niệm của đời thường. Chỉ khi nào làm cho tâm hồn mình nghèo thật sự mới có thể đón nhận được giáo huấn có vẻ nghịch lý này. Một tâm hồn chứa đầy những tham vọng vật chất không còn chỗ chứa phúc lành của Thiên Chúa. Một cuộc đời quá bận tâm về những điều thế tục, chẳng còn khả năng đón nhận những hồng ân Ngài thông ban.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Với ơn gọi của người tín hữu, chính tôi cũng được mời gọi lên đường để đem lời chúc phúc ấy cho anh chị em tôi. Việc chiêm ngưỡng Người-Nghèo-Giêsu trên thập giá phải dẫn tôi đến việc nhìn đến biết bao người nghèo trên chặng đường thập giá cuộc đời. Biết bao mảnh đời “vỡ vụn” vì bị bỏ rơi, lay lắt trong cảnh khốn cùng. Biết bao người đang hẫng hụt trước sự ra đi đột ngột của người thân. Sống lời chúc phúc nghèo khó của Chúa Giêsu còn là tình liên đới với những người đang bị “đóng đinh” trên cây thập giá cuộc đời, nghiệt ngã và đau thương, bi quan và cùng khốn.

Thập giá đời tôi còn đó. Tôi có thể vẫy vùng, hằn học kéo lê thập giá mỗi ngày. Tôi cũng có thể gắng gượng bước đi với ơn phù trợ của Chúa. Dù chọn lựa cách nào, thì thập giá vẫn gắn liền với đời tôi, như hơi thở, như nhịp sống hằng ngày. Có hai cây thập giá được dựng lên trên đồi Canvê cùng lúc với cây thập giá của Chúa Giêsu. Trên đó, hai người trộm bị đóng đinh. Một người trộm sám hối, người kia không. Người sám hối cũng như người không sám hối, chẳng ai được tha hình phạt thập giá; nhưng người sám hối được nghe những lời ngọt ngào của Chúa hứa cho anh hạnh phúc thiên đàng (x. Lc 23,43), còn người kia thì ôm mối hận ngàn thu. Cả hai người đều nghèo đến mức không còn mảnh vải che thân, nhưng một người đón nhận cái nghèo trong phó thác, khiêm nhường; người kia đón nhận cái nghèo trong kiêu căng, hằn học và tìm cách lên án người khác.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Chiêm ngưỡng Đức Giêsu trên thập giá cũng giúp tôi sống tinh thần phó thác. Trong bất kỳ biến cố đau thương nào, Chúa cũng luôn hiện diện bên tôi. Noi gương Chúa Giêsu trong lời kinh trên thập giá, tôi cần xác tín mình được Chúa yêu thương săn sóc, bởi lẽ, tôi còn giá trị hơn con chim sẻ và đáng quý hơn đóa hoa huệ mọc hoang giữa đồng. Là con người được Chúa tạo dựng, tôi mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa tối cao (x. St 1,27).

Nhìn lên thập giá Đức Giêsu, người tín hữu tìm thấy sức mạnh để tiếp tục vác thập giá đời mình. Đức Giêsu không hủy bỏ thập giá nơi cuộc đời con người, nhưng Người đang cùng với con người vác thập giá bước đi. Con Thiên Chúa không xóa bỏ đau khổ đang gậm nhấm con người, nhưng Người lại ban cho họ sức mạnh để vượt lên những đau khổ ấy. Như thế, tôi hiểu ý nghĩa của điều Chúa dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con thờ lạy và tôn vinh Chúa, vì Chúa đã dùng thập giá mà cứu chuộc chúng con. Amen! 
 Nguồn: WHĐ

Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2012

Chuyện Sống – Chết

[caption id="attachment_3718" align="aligncenter" width="454" caption="“Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (Ga 12,28a)"][/caption]

(Chúa Nhật V Mùa Chay, năm B)


Tục ngữ Việt Nam nói: “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”. Có nhiều cách chết, có cái chết đáng khâm phục và có cái chết “lãng nhách”, do đó cái “tiếng” cũng có thể tốt hoặc xấu. Người Công giáo gọi là chết lành hoặc chết dữ. Phàm cái gì có khởi đầu thì có kết thúc. Cũng vậy, có sinh ắt có tử.


Thánh Phaolô là người đã từng hăng hái và quyết ra tay triệt tiêu Ông Giêsu, nhưng rồi cuối cùng ông đã hoàn toàn biến đổi và phải thú nhận: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21), và ông nói về “Người Ấy”: “Đức Kitô đã hạ mình, vâng lời cho đến chết trên cây thập tự” (Pl 2,8).

Sống là yêu

Sống là yêu, và yêu là sống. Sấm ngôn của Chúa nói qua miệng ngôn sứ Giêrêmia: “Này sẽ đến những ngày Ta lập với nhà Israel và nhà Giuđa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai Cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng” (Gr 31,31-32). Giao-ước-mới này khác giao ước đã ký kết với cha ông. Giao ước đó là gì? Là giao ước Thiên Chúa lập với nhà Israel, chính Ngài ghi vào lòng dạ dân chúng, khắc vào tâm khảm dân chúng Lề Luật của Ngài. Ngài là Thiên Chúa của họ, còn họ là dân của Chúa. Họ sẽ không còn phải dạy bảo nhau, và họ truyền miệng nhau: “Hãy học cho biết Đức Chúa” (Gr 31,34a). Học cho biết Đức Chúa về nhiều thứ, trong đó có việc học yêu. Do đó mà mọi người từ nhỏ đến lớn đều nhận biết Chúa. Điều tuyệt vời nhất là “Thiên Chúa sẽ tha thứ tội ác cho họ và không còn nhớ đến lỗi lầm của họ nữa” (Gr 31,34b). Là tử tội mà được tha bổng, được trắng án, có ai lại không hạnh phúc? Được sống thì phải biết yêu!

Giao-ước-mới đó gọi là Tân ước, là Luật Yêu Thương - không chỉ yêu người yêu mình mà phải yêu cả kẻ thù (x. Mt 5,44; Lc 6,27.35). Khó quá! Vâng, không dễ chút nào. Nhưng yêu thương và tha thứ có hệ lụy lẫn nhau, không thể có cái này mà thiếu cái kia. Chúa Giêsu đã nói: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12). Ai có lỗi cũng muốn được bỏ qua, nhưng muốn được tha thì phải biết tha cho tha nhân, và thành tâm xin Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51,3-4). Thành tâm cầu xin như thế thì Chúa không thể không tha, vì Ngài chỉ chờ mong giây phút được tha thứ cho tội nhân biết sám hối.

Được tha rồi, nhưng “vết chàm” chưa sạch, thế nên chúng ta phải xin Chúa “đại tu” tâm hồn mình, và xin Ngài không ngừng nâng đỡ, nếu không thì chúng ta lại sa ngã ngay: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con Thần Khí Thánh của Ngài” (Tv 51,12-13). Phần riêng Chúa ban cho chúng ta nhưng chúng ta đã “phung phí” hết, cho nên chúng ta lại phải tiếp tục kêu cầu: “Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con; đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài” (Tv 51,14-15).

Chết là yêu

Sống là yêu, sống để yêu, sống vì yêu, đó là chuyện dễ hiểu. Chết cũng là yêu, để yêu và vì yêu lại là điều khó hiểu, thậm chí nghe chừng nghịch lý. Nhưng đó là sự thật hiển nhiên.

Muốn gì thì phải nói, chứ ai biết “ngứa” chỗ nào mà “gãi”? Chính Đức Giêsu, khi còn sống kiếp phàm nhân, đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Ngài khỏi chết. Ngài đã được nhậm lời, vì Ngài có lòng tôn kính. Ngài “được nhậm lời” không có nghĩa là không phải đau khổ và không phải chết. Nhưng Ngài “được nhậm lời” để “thoát chết” là được Chúa Cha cho sống lại vinh quang. Hành-trình-sống-chết của Đức Kitô là để củng cố đức tin cho chúng ta.

Thánh Phaolô xác định: “Dầu là Con Thiên Chúa, Ngài đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8). Vậy đó, cái gì cũng phải khổ luyện, không thể cứ “khơi khơi” mà có thể uyên thâm, hiểu sâu và biết rộng. Học thì phải hành, không thực hành thì chỉ là mớ lý thuyết suông, không thực tế, vô ích. Học đàn phải luyện ngày đêm thì mới nhuần nhuyễn, văn thơ thi phú cũng phải làm nhiều thì mới “lên tay”, làm bếp cũng phải nấu hằng ngày mới có thể nấu ăn ngon,… Và mọi thứ đều cần kinh nghiệm. Lười biếng thì chỉ có nước “bó tay”. Ngay cả Chúa Giêsu cũng đã theo đúng “quy trình” đó: “Khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Ngài” (Dt 5,9).

Trong số những người lên Giêrusalem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy Lạp. Họ đến gặp ông Philípphê, người Bếtxaiđa, miền Galilê, và xin rằng: “Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu” (Ga 12:21). Một ước muốn tuyệt vời. Người Pháp nói: “Vouloir, c’est pouvoir” (muốn là có thể được). Ông Philípphê nói với ông Anrê, ông Anrê cùng với ông Philípphê đến thưa với Đức Giêsu. Và Ngài trả lời: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!” (Ga 12,23).

Rồi Ngài trầm giọng: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Một hình tượng giản dị và rất thực tế. Có lẽ Ngài biết có người không kịp hiểu nên Ngài giải thích luôn: “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12,25). Ngài biết “giờ G” sắp đến, lòng Ngài cũng bồn chồn lo lắng vì thấy thương các đệ tử còn “non nớt”, nên Ngài nói như trút lòng ra: “Ai phục vụ Thầy thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy” (Ga 12,26).

Theo nhân tính, Chúa Giêsu cũng cảm thấy xao xuyến nên tâm sự với các đệ tử: “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây?” (Ga 12,27). Rồi Ngài thưa với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (Ga 12,28a). Ngài cảm thấy sợ, nhưng Ngài biết trọng trách của mình và muốn Chúa Cha được tôn vinh mà thôi. Và rồi có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (Ga 12,28b).

Nghe tiếng vọng từ trời, dân chúng đứng ở đó nghe vậy có người cứ tưởng là “tiếng sấm”, người khác lại cho là “tiếng một thiên thần” nói với Ngài. Đức Giêsu biết họ xì xầm nên nói: “Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì tôi, mà vì các người” (Ga 12,30). Giờ của Ngài sắp đến, “giờ” mà Ngài gọi là “giờ của kẻ ác”, là “thời của quyền lực tối tăm” (x. Lc 22,53). Thế nhưng chính “giờ” ấy lại là lúc “diễn ra cuộc phán xét thế gian này, lúc thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài!” (Ga 12,31). Một sự hoán vị ngoạn mục, chiến bại mà chiến thắng!

Chúa Giêsu bình tĩnh và hứa: “Phần Tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi” (Ga 12,32). Đức Giêsu nói thế để ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào, nhưng đầu óc phàm nhân của các đệ tử - dù thân tín nhất - cũng không đủ hiểu ý Ngài muốn nói. Và đó chính là lời-hứa-kỳ-diệu!

Có lẽ chưa bao giờ Ngài nói nhiều như lần này. Nói để chia tay. Nói để từ giã. Nói để trăng trối. Nói như không còn dịp để nói. Nhưng Ngài muốn nói nhiều để mọi người biết yêu thương nhau, yêu cả lúc sống và khi chết.

Lạy Chúa Giêsu, xin tái tạo trái tim chúng con nên giống Ngài hơn, để chúng con có thể kính mến Chúa và yêu thương tha nhân trong từng hơi thở của cuộc sống. Xin giúp chúng con dám chết với Ngài để xứng đáng cùng Ngài phục sinh. Ngài hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen.

Trầm Thiên Thu

Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

Hãy biết ơn đời

[caption id="attachment_3561" align="aligncenter" width="336" caption="“Bây giờ thấy được rồi, em sẽ lấy anh chứ?”"][/caption]

Có một cô gái rất hận đời vì cô bị mù. Cô thù ghét mọi người, trừ người bạn trai của mình. Anh luôn ở bên cô và chăm sóc cô chu đáo. Cô hứa: “Chỉ cần được sáng mắt là em lấy anh làm chồng”.


Một ngày kia, có người tặng cho cô đôi mắt. Khi tháo băng, cô thấy được mọi thứ, kể cả anh bạn trai yêu dấu của cô. Anh hỏi cô: “Bây giờ thấy được rồi, em sẽ lấy anh chứ?”

Cô gái nhìn anh bạn của mình và bàng hoàng khi thấy anh bị mù. Cô không hề trông đợi điều này. Cô khiếp sợ khi nghĩ đến cảnh phải thấy đôi mắt hõm và nhắm nghiền của anh suốt quãng đời còn lại của mình và cô từ chối lấy anh.

Anh đau khổ bỏ đi và vài ngày sau cô nhận được vài chữ của anh dặn dò như sau: “Em yêu, hãy chăm sóc cẩn thận đôi mắt của em nhé, vì trước khi là của em, cặp mắt ấy là của anh”.

Thái độ của con người sau khi thay đổi cuộc sống thường là như thế. Chỉ có một số rất ít nhớ lại tình trạng trước đây của mình như thế nào, và ai là người luôn ở cạnh mình trong những lúc đau khổ nhất.

 Hãy biết ơn đời! Đời là một quà tặng.

Hôm nay, trước khi nói điều gì không hay,

bạn hãy nghĩ đến những người không thể nói được.

Trước khi kêu ca thức ăn mặn hay nhạt quá,

hãy nghĩ đến những người không có gì để ăn.

Trước khi than thở về chồng hay vợ của mình,

hãy nghĩ đến những người đang tìm mãi

chưa có được một người bạn đồng hành.

Trước khi than vãn về cuộc đời,

hãy nghĩ đến những người đã lìa đời quá sớm.

Trước khi than phiền về con cái,

hãy nghĩ đến những người mong muốn có con nhưng lại vô sinh.

Trước khi phàn nàn nhà cửa dơ bẩn bừa bãi vì không ai lau dọn,

hãy nghĩ đến những người phải sống ngoài đường.

Trước khi càu nhàu vì phải lái xe quá xa,

hãy nghĩ đến những người phải đi bộ

cũng một quãng đường như thế.

Khi mệt nhọc và ca thán về công việc,

hãy nghĩ đến những người thất nghiệp, những người khuyết tật,

và những người chỉ mong có được một công việc như bạn.

Trước khi nghĩ đến kết tội hoặc lên án ai,

hãy nhớ rằng không ai trong chúng ta là vô tội.

Và khi những tư tưởng yếm thế làm bạn chán nản,

hãy tươi nét mặt lên và nghĩ rằng: bạn vẫn đang còn sống đấy.

Nguồn: Sưu tầm

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

Thánh Giuse, con đường nên Thánh

[caption id="attachment_3536" align="aligncenter" width="432" caption="“Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế? Ông không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria; anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Giôxếp, Simon và Giuđa sao?” (Mt 13,54 -55)"][/caption]

Công đồng Vatican II dạy: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tuỳ theo con đường của mỗi người” (GH 11§3). Nên thánh theo con đường của Thánh Giuse, một con đường cho nhiều người.

Dấn thân trong nghề nghiệp

Nên thánh trong chức nghiệp là một yếu tố quan trọng để xây dựng hoà bình trên trái đất. Có thể chúng ta rất ngạc nhiên về điều này, nhưng chính việc ý thức nên thánh trong chức nghiệp mà mỗi người theo bổn phận mình sẽ làm tăng trưởng phẩm giá con người và phát triển hài hoà với tự nhiên.

Đi vào cụ thể hơn, chúng ta nghe, người đồng thời nói về Thánh Giuse rất trìu mến: “bác thợ mộc”. Một tên gọi rất thường nhưng lại bao hàm lòng yêu mến con người thợ mộc ấy. Dĩ nhiên, phải có điều gì đó nơi người thợ mộc kia đã gây được thiện cảm và lòng trìu mến của nhiều người. Ngày nay, chúng ta thử nhìn, có bao nhiêu người chức nọ, chức kia, có học vị, địa vị, giàu có; nhưng khi nói về họ, nhiều người rủa thầm: tên này, tên nọ, thằng này, thằng kia, tay này, tay nọ... Chẳng thấy trong câu nói có một chút trìu mến hay đáng trọng nào. Để được tôn trọng, trước tiên người đó cần có lòng tự trọng. Công việc mỗi ngày bộc lộ tính tự trọng trong đó, người có lòng tự trọng sẽ làm công việc cẩn thận, có trách nhiệm, liêm khiết, công bằng, hợp tác, thân tình...

Vì chủ đích kiếm tiền, công việc của mỗi người trở nên nặng nhọc, gánh nặng và có khi gian dối, lường gạt. Trong phim “Thương đạo”, Mãn Thương lấy triết lý: “Kinh doanh vì tìm kiếm con người” là chủ đạo, nên sẵn sàng hy sinh vật chất của cải để cứu con người. Kinh doanh đi đôi với lòng nhân từ. Bài học này để đạt được đã trả giá rất nhiều khó khăn, nhưng nó lại là bài học thành công trong việc kinh doanh, gầy dựng luật cơ bản trong “Đạo đức Kinh doanh”. Bang chủ Mãn Thương nói sau lần thất bại nhân sâm: “Ta chẳng sợ bản thân bị phá sản, nhưng không nỡ thấy những người gắn bó với ta bao năm không có cơm ăn áo mặc”.
Nên thánh trong công việc, đó là thực hành đời sống nghề nghiệp của mình cách tận tuỵ và quảng đại, chuyên môn và hiểu biết. Công việc làm trở nên như của lễ, làm việc như cách cử hành trân trọng, và kết quả của công việc như một ân ban. Thánh Giuse nên thánh trong nghề nghiệp của mình và cũng là Thánh bổn mạng của những người lao động.

Người cha trong gia đình

Vai trò người cha trong xã hội truyền thống công nghiệp xưa kia, người cha là người lao động trực tiếp nuôi sống gia đình; người mẹ ở nhà lo chăm sóc gia đình, giáo dục con cái. Hoàn cảnh gia đình nông nghiệp xưa, vừa trồng trọt vừa chăn nuôi, cả gia đình đều chia sẻ công việc chung, việc giáo dục và dưỡng nuôi đều do cha mẹ góp công góp sức.Thánh Giuse cộng tác với Đức Maria để xây dựng gia đình Thánh Gia mà chúng thấy qua các sự kiện: Đón nhận Đức Maria về nhà - Đưa Đức Maria về quê quán khai sổ bộ - tìm nhà trọ - sinh hạ Chúa - sang Ai Cập - trở về Nazareth - dâng con trong Đền thờ - đi tìm con khi lạc mất... Một chuỗi các sự kiện như bao nhiêu gia đình khác, đầy những khó khăn. Chu toàn bổn phận gia đình cũng là một ơn gọi nên thánh cơ bản của nhiều người.

Thánh Giuse là “bác thợ mộc”, theo truyền thống của gia đình người Do Thái, người cha có bổn phận dạy cho con mình một nghề để sinh sống, chắc chắn Chúa Giêsu cũng thọ giáo nghề nghiệp từ nơi cha mình. Ngày nay, cha mẹ lo cho các con ăn học rất vất vả mới chu toàn được một phần tại học đường. Một trường học khác tại gia, cha mẹ làm gương, dạy con đường nhân đức, huấn luyện con nên người thánh. Một nhiệm vụ trọng đại và cũng là triều thiên vinh quang của cha mẹ.

Ngày nay, một số người cho rằng không cần người cha trong gia đình để thụ thai, sinh con, chăm sóc, giáo dục những đứa con. Vì thấy trong cuộc sống vợ chồng có quá nhiều khó khăn, bất đồng, chia rẽ, hoặc theo lối sống đồng tính. Theo Bác sĩ Robert Moradi, “trẻ con được người cha góp phần săn sóc ít trở thành bạo động hơn; có chỉ số thông minh cao hơn, biết tự kiềm chế hơn, thích ứng xã hội tốt hơn, tất cả mọi yếu tố về sức khoẻ tâm thần đều tốt hơn”. Một xã hội bạo lực nhiều hơn cho thấy những giá trị cơ bản gia đình đang mất đi. Cứu lấy gia đình bằng ơn gọi hôn nhân là cứu xã hội, cứu thế giới khỏi những bạo loạn.

Một người con như Chúa Giêsu mà có lần người ta cũng thắc mắc: “Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế? Ông không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria; anh em của ông không phải là các ông Giacôbê, Giôxếp, Simon và Giuđa sao?” (Mt 13,54 -55). Một phần theo lẽ tự nhiên, Chúa Giêsu cũng hấp thụ nơi người cha mình những điều tốt đẹp và thụ hưởng những đức tính tốt lành.

Là một người cha tốt lành, người mẹ nhân ái, đó là con đường nên thánh cho ơn gọi hôn nhân. Người ta nói “thứ nhất tu nhà, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa”, con đường “tu nhà” là con đường cho nhiều người và cũng là điều cơ bản để có những người con trưởng thành ở đời và là mầm mống cho ơn gọi thánh hiến. Không có thánh nhân tại gia thì cũng khó có những thánh nhân ở đời.

Vâng phục để thánh ý Chúa nên trọn


Không quan trọng mình là ai, địa vị nào trong xã hội, làm việc cao quý hay tầm thường. Trước mặt Thiên Chúa, mọi địa vị và công việc đều có giá trị. Điều quan trọng là hãy thực thi thánh ý Chúa, đáp lại tiếng Ngài mời gọi trong cuộc sống. Địa vị và công việc lao động chân tay của Thánh Giuse chỉ ở mức tầm thường; thế nhưng, ngài vẫn có khả năng biến đổi nó trở thành phi thường. Cái phi thường ở trong cái tầm thường của mỗi con người là một viên ngọc quý tiềm ẩn, giống như dụ ngôn người đi tìm ngọc quý, tìm được anh về bán tất cả của cải để tậu được thửa ruộng có viên ngọc quý ấy. Người ta thường nói: “Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài, cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi!”. Con người trau dồi và rèn luyện nơi mình nhân đức, học hỏi là tự thân; thế nhưng còn cần nhờ đến người khác bồi bổ, hướng dẫn, nâng đỡ, khích lệ... đặc biệt rập khuôn đời mình trong thánh ý Chúa. Những nỗ lực đó đang từng ngày biến đổi cái tầm thường trở nên phi thường. Thánh Giuse là bậc thầy dạy con người sống an vui và nên thánh trong địa vị mình. Hãy đến cùng Giuse!

Thánh Giuse mẫu gương cho mọi người nên thánh trong cuộc sống này. Trên đường nên thánh đó, Thánh Giuse cũng là thầy dạy về các nhân đức để thu phục nhân tâm, biến đổi cái tầm thường trở nên phi thường và sống niềm vui trong cuộc sống.

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Chỉ vì yêu

[caption id="attachment_3523" align="aligncenter" width="540" caption="“Như Môsê đã treo con rắn lên ở sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ phải treo lên như vậy, để tất cả những ai tin ở Người, sẽ không bị hủy diệt, nhưng được sống đời đời. Vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin Con Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,14-16)"][/caption]

(Suy niệm Lời Chúa CN 4 Chay B)


Sách Ký Sự (Sử Biên Niên) quyển 2 đã ghi lại một biến cố kinh hoàng: Thành Giêrusalem thất thủ. Dân Thiên Chúa bị lưu đày Babylon. Lý do mất nước, mất thành thánh là vì tất cả những đầu mục tư tế và dân chúng đều bất trung, bắt chước những sự ghê tởm của các dân ngoại. Họ làm dơ bẩn đền thờ Chúa đã được Chúa thánh hóa tại Giêrusalem” (2 Sb 36,14).

Từ Babylon lưu đày, dân Chúa vọng về cố hương, về thành thánh. Nỗi nhớ khôn nguôi và có thể có vương chút niềm sám hối:

Bên dòng sông lờ lững trôi, tôi ngồi mà lòng xa vắng, vì ngàn nỗi nhớ khôn nguôi. Bên dòng sông lỡ lững trôi, cây đàn hờ hững treo, trên cành dương liễu tiêu điều. Sion ơi, nếu bao giờ ta quên ngươi, thì lưỡi ta đây dính trong họng mãi. Sion ơi mà nếu bao giờ ta quên ngươi, thì cánh tay ta sẽ khô bại” (Tv 136).

Dòng sôngBabylonnăm xưa cũng chẳng khác gì dòng đời của nhân loại sau lần lầm lỗi của nguyên tổ, cũng chẳng khác gì dòng đời của mỗi chúng ta trong kiếp lữ hành trần thế với bao tội lỗi tày trời. Vì thế, cũng có những hạt lệ lã chã bên dòng đời đắng cay nghiệt ngã, có đớn đau tột cùng vì hậu quả của tội lỗi trầm đoạ thân xác đến tàn tạ rã rời, có tiếc nuối vô vàn về một thời thanh xuân rạng ngời hương sắc, có nỗi nhớ nhà khôn nguôi của kiếp tha hương, của kẻ đi hoang hay kẻ bị lưu đày, có những niềm đau tan tác và ước muốn trở về… Nhưng có hẳn đó là lòng sám hối, hay chỉ là một cảm xúc thoáng qua trong phút cơ cầu? Có phải một buông bỏ những lời mời gọi vui chơi trên đất khách quê người hay một lời thề mang tính công khai, long trọng… đã đủ là sám hối?

Cảm thức về tội lỗi của con người có thể nói là luôn luôn ở trong tình trạng chưa thật chuẩn mực. Bởi bóng tối bao phủ trần gian và làm cho lòng trí con người ra u ám, ngu muội, nên con người luôn hướng chiều về những thực tại hư hèn và có khuynh hướng tự bào chữa. Con người thích bóng tối hơn sự sáng. Bởi vậy, không dễ gì tìm cho được lòng sám hối chân thành. Điều này Thiên Chúa biết rõ chúng ta hơn chúng ta.

Cũng trong dòng đời ấy, có biết bao đổi thay, biết bao biến cố, có biết bao đau thương dập vùi. Và khi đau thương ập đến, con người mới giật mình ngộ ra mình đã đi con đường hư hỏng, con đường chối bỏ hoặc chống lại Thiên Chúa. Thế rối, có một phút hồi tâm... Nhưng, phút hồi tâm ấy, đau khổ ấy, có phải là lòng sám hối đủ để động lòng trời, để có thể níu lòng thương xót của Thiên Chúa xuống?

Cả khi con người nhận ra mình là người quên ơn bất nghĩa vô nghì, tội lỗi bất trung với Thiên Chúa và khao khát trở về thì lòng sám hối chân thành ấy biết thế nào là “sám hối đủ” so với tội lỗi tày trời đã gây ra?

Vâng, tội nhân cần biết tội mình đã phạm lớn lao là chừng nào, và biết sám hối để được khoan dung tha thứ. Rất tiếc, nhiều người chỉ biết mình có tội khi sống chung với bệnh tật, nghèo đói, bất hạnh, khi bị bỏ rơi, khi hoạn nạn, và lòng sám hối bỗng dưng thành một điều kiện để yêu sách lòng thương xót của Chúa. Rất tiếc, lại cũng có nhiều người đang bị ảo giác đạo đức lừa dối chính mình: tưởng rằng mình đã và đang sám hối đủ nên được Thiên Chúa xót thương mà bảo toàn cho thoát khỏi những hoạn nạn.

Đối với Thiên Chúa thì hoàn hoàn khác hẳn. Biết lòng con người, lòng tội nhân khó mà có được chút thực tâm, hoàn hảo, nhưng Lời Chúa hôm nay vẫn gửi đến cho con người một tin vui: không phải vì chúng ta đã sám hối hay sám hối đủ mà được Thiên Chúa thứ tha, nhưng vì lòng thương của Thiên Chúa vô cùng đến nỗi khi con người chưa kịp ngước lên thì Ngài đã cúi xuống.

Chúa Giêsu mạc khải tình thương ấy cho con người khi nói với Nicôđêmô rằng: Như Môsê đã treo con rắn lên ở sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ phải treo lên như vậy, để tất cả những ai tin ở Người, sẽ không bị hủy diệt, nhưng được sống đời đời. Vì Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình, để tất cả những ai tin Con Ngài thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,14-16).

Một tin vui cho con người tội lỗi, tin vui cho những kẻ có lòng sám hối: nhận ra mình có tội và khát khao trở về.

Nhưng lại là một tin vui thật bi tráng: Con Một Thiên Chúa cũng sẽ phải bị treo lên như con rắn đồng thưở Môsê: treo trên Thánh Giá.

Hãy ngước nhìn lên Thánh Giá, để thấu hiểu cái gục đầu, cái cúi xuống của tình yêu thương.

Hãy ngước nhìn lên Thánh Giá, để thấu hiểu rằng không vì công đức của ta mà ta được cứu rỗi.

Hãy ngước nhìn Thánh Giá, để thấu hiểu Tin Vui cho nhân loại, cho người tội lỗi, được viết bằng giá máu của Con Thiên Chúa.

Hãy ngước nhìn Thánh Giá, để thấu hiểu rằng tội lỗi ta kinh khủng là chừng nào, và có sám hối bao nhiêu cũng không đủ, và chỉ có cái chết của Con Thiên Chúa mới đánh động được lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa Cha.

Vâng, không phải cánh hoa đời phù vân của ta bỗng dưng làm nên lịch sử, không phải hạt bụi vô danh của ta bỗng dưng nên tên nên tuổi trong cõi đời đời, nhưng vì tình thương vô cùng của Thiên Chúa đã cho Con Người xuống làm đoá phù dung tàn lụi, làm hạt bụi tan bay, làm xác thân bẻ bàng trên Thánh Giá.

Vậy, Thánh Giá của Chúa Kitô là Tình Yêu của Thiên Chúa Cha và là ơn cứu rỗi cho chúng ta như Thánh Phaolô đã xác quyết: Thiên Chúa là Đấng giàu lòng từ bi, vì lòng yêu thương cao cả mà Người đã yêu thương chúng ta, đến nỗi khi tội lỗi làm cho chúng ta phải chết, thì Người làm cho chúng ta sống lại trong Đức Kitô, nhờ ơn Ngài mà chúng ta được cứu rỗi” (Ep 2,4-6).

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tạ ơn Chúa. Tình yêu Chúa làm cho trái tim chúng con thổn thức. Trái tim chúng con không thể vô cảm, vô tình. Xin cho chúng con cảm nhận hồng ân cao cả này là: Chúa đang từ trên Thánh Giá, cúi xuống, đặt môi hôn trên mỗi chúng con, những con người tội lỗi tày trời. Amen.

16-3-2012

 PM. Cao Huy Hoàng