Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Một thời để yêu, một thời để sống


Lạy Chúa là Thần Khí Sự sống và Tình yêu


Xin ban cho con một thời để yêu và một thời để sống.


Để con sống vì tình yêu Thiên Chúa.


Để con yêu vì cuộc sống muôn loài.


 Xin dạy con biết yêu những điều tốt đẹp, cao quý


Và biết ghét những điều đê tiện, xấu xa.n


Xin dạy con luôn sống vì những điều mình yêu,


Và dám chết vì những điều mình ghét.


 Xin cho con biết đưa tình yêu vào cuộc sống


Để mỗi giây phút sống,


Con đều cảm nhận được niềm hạnh phúc yêu thương.


Xin cho con biết đưa cuộc sống vào tình yêu


Để từng giây phút yêu,


Con đều làm cho đời sống thêm giá trị.


 Cuối cùng,


Xin cho con biết hoà nhập cả hai nên một


Để sống là yêu và yêu là sống,


Vì hiểu được rằng Thiên Chúa Hằng Sống


Cũng chính là Thiên Chúa Tình Yêu.


Amen.



 Sưu tầm



Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

Trái Tim Mẹ là nơi con ẩn náu và là Đường đưa con tới Chúa


Trong quyển "Tiểu Sử Ðời Sống Của Thánh Don Boscô" có thuật lại một sự việc sau đây:


Hôm ấy là ngày 8 tháng 12 năm 1841, ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Cha Don Boscô vị tân Linh Mục đang mặc áo sửa soạn dâng Thánh Lễ, bỗng từ trong phòng áo Cha nghe tiếng ồn ào từ phía ngoài cửa. Cha bước ra và gặp thấy Ông Từ coi phòng áo nhà thờ đang cầm chổi lông gà đánh đuổi một cậu bé nghèo ăn mặc rách rưới, chỉ vì cậu dám bén mảng đến phòng áo và lại không biết giúp Lễ. Cha Don Boscô tỏ vẻ không bằng lòng và bảo Ông Từ phải đi tìm cậu bé đem trở lại phòng áo cho Cha. Cha lại còn quả quyết rằng đó là bạn thân của Cha.


Vâng! Tất cả các thanh thiếu niên nghèo bị bỏ rơi đều là bạn thân của Cha hết.



Một lúc sau, Ông Từ trở lại phòng áo, dẫn theo cậu bé bị đánh đuổi. Cha bảo cậu ngồi đợi một chút, sau Lễ ngài sẽ nói với cậu về một điều mà cậu rất vui thích. Có lẽ đó chỉ là cách Cha muốn bù đắp lại sự tàn nhẫn của Ông Từ hoặc xóa bỏ đi những mặc cảm và ấn tượng xấu đã gây nên trong tâm hồn cậu.


Nhưng đường lối của Chúa còn đi xa hơn nữa, vì chính trong ngày lễ Kính Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đó, Thiên Chúa muốn ngài khởi công một sứ mệnh Tông Ðồ cao cả mà vẫn còn hiện hữu cho tới ngày nay tại mọi dân tộc, mọi nền văn hóa. Ðiều gì đã xảy ra trong cuộc gặp gỡ đó? Như lời đã hứa, sau Lễ Cha bắt đầu cuộc đối thoại thân mật với cậu bé, đó là cậu Bartolômêo Galendy. Don Boscô bắt đầu bằng những câu hỏi thân mật từ gia đình cậu, cha mẹ cậu.


Cậu đáp lại là cả hai đều đã qua đời.


Cha hỏi tiếp về tuổi của cậu, về công ăn việc làm và nơi ăn chốn ở của cậu.


Tuy nhiên câu hỏi đó, cậu chỉ đáp lại bằng tiếng "không" hơi cọc cằn.


Tuy nhiên, Cha vẫn không nản lòng. Sau cùng Cha hỏi: "Con có biết huýt sáo không?". Mắt cậu sáng lên và cậu bắt đầu mỉm cười gật đầu. Ðó là điều duy nhất Cha mong ước. Cậu đã bị chinh phục và đã trở nên bạn thân của Cha. Từ đó, cha bắt đầu đối thoại bằng những câu hỏi về đời sống người Công Giáo của cậu. Ðáng thương thay, tuy cậu đã lên 16 tuổi nhưng chỉ được xưng tội lần đầu mà thôi. Còn về Giáo lý thật không biết gì hết, vì không được ai chỉ bảo cho. Ngay cả đến việc làm dấu Thánh Giá và đọc một Kinh Kính Mừng cậu cũng không biết. Và cha Don Boscô quỳ gối đọc Kinh Kính Mừng phó thác cho Mẹ Maria và nhân danh Mẹ bắt đầu sứ mệnh Tông Ðồ của Cha, cầu xin Mẹ giúp Cha cứu rỗi linh hồn cậu bé này.


Trước khi cho cậu ra về, Cha tặng cậu một mẩu ảnh Ðức Mẹ và cậu hứa sẽ trở lại tuần tới đem theo chúng bạn của cậu để cùng được học Giáo lý nữa.


Nhân dịp toàn thể Dòng Con Cái Don Boscô mừng kỷ niệm một trăm năm mươi năm cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Don Boscô và cậu bé Bartolômêo Galendy, ngày khởi đầu sinh hoạt Khánh Lễ Viện mà Don Boscô là Vị Sáng Lập và cậu bé Bartolômêo là viên đá đầu tiên. Nơi cậu Bartolômêo, Don Boscô đã nhìn thấy trước hàng ngàn thanh thiếu niên bị bỏ rơi cần được nhận biết tình thương của Chúa và ngài đã hiến trọn đời mình để giáo dục niềm tin trong tâm hồn các em. Hơn nữa, ngài còn đào luyện các em trở thành tông đồ giữa chúng bạn, dẫn đưa chúng bạn về với Chúa qua đời sống bí tích và việc học hỏi Giáo lý. Một trăm năm mươi năm đã qua và sứ mệnh tông đồ của Don Boscô đã được các con thiêng liêng của ngài tiếp tục tới ngày nay trên khắp Năm Châu. Hàng ngàn hàng triệu thanh thiếu niên qua nhiều năm đã nhận biết, yêu mến Chúa và dấn thân để Chúa cũng được nhận biết, yêu mến và tôn thờ.




Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho chúng con Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, một tấm gương tinh tuyền và tràn đầy ơn thánh Chúa. Cám ơn Chúa đã làm phong phú Giáo Hội Chúa với ơn đặc sủng của Tu Hội Salésien. Xin Chúa chúc lành cho sứ mệnh tông đồ mà ngài đã hiến thân phục vụ đến hơi thở cuối cùng, để giới trẻ qua mọi thời đại và trong mọi môi trường văn hóa tìm được thầy chỉ dẫn, nhận được sự hiểu biết tình thương của Chúa và trở nên vị tông đồ khác giữa giới trẻ, dẫn đưa chúng bạn gặp gỡ Chúa, xa tránh tội lỗi và gìn giữ luôn mãi vẻ đẹp trong sáng của tâm hồn là bí quyết niềm an vui và hạnh phúc thật. Amen.



(Đài Chân Lý Á Châu)




Tình Mẹ thương con


Trên chuyến xe về Cần Thơ đi công việc, ngồi cạnh bên là người thanh niên cũng luống tuổi. Ngồi cạnh nhau, trước lạ sau quen để rồi có những câu chuyện xã giao trên chuyến xe đường dài.

Hai bên bắt đầu hỏi thăm nhau sau nụ cười mỉm, người mở lời làm quen nhận mình là người đạo Công Giáo. Anh chàng cạnh bên nhận mình là người không phải là người Công Giáo. Tính lái sang chuyện khác để cho hợp “nhãn giới” nhưng chàng thanh niên kia thao thao bất tuyệt kể về Mẹ. Tay phải của anh vừa mổ xong nên không thể hoạt động như bình thường được. Anh cố vói tay trái xuống giỏ xách để lấy cái bóp, tựa cái bóp xuống đùi và lấy cùi tay phải đè lên chiếc bóp để lấy cái gì đó. Tưởng anh khoe cái gì thì ra là hình Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Tấm hình Mẹ anh để trong bóp chắc có lẽ cũng đã lâu nên bị xuống màu.

Sau khi “lòe” cho người đồng hành ngồi cạnh bên hình Đức Mẹ, anh bắt đầu kể về gia cảnh của anh. Anh nói rằng anh tin và nhờ ơn Đức Mẹ nhiều lắm nhưng vì là con trai trưởng nên anh chưa lãnh bí tích Rửa Tội được. Anh khoe vợ anh là người Công Giáo, anh cũng không quên khoe rằng anh có hai đứa con, chúng rửa tội lớn lên và được gửi học trường Công Giáo từ nhỏ.



“Duyên nợ” là lần kia, cuộc đời đi vào ngõ tắt, anh chạy đến bên Mẹ Hằng Cứu Giúp ở 38 Kỳ Đồng, vào đấy anh nguyện xin Mẹ thương anh. Dù là người ngoại đạo nhưng anh tin tưởng và phó thác nơi Mẹ cuộc đời của anh. Anh kể lại hai biến cố lớn nhất trong đời anh đã được ơn Đức Mẹ một cách tỏ tường. Mỗi lần có chuyện gì là anh lại chạy đến kêu cầu Mẹ.

Từ ngày ấy, anh chuộc tấm ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và cứ giữ mãi trong người suốt hai chục năm nay từ khi anh chưa lấy vợ... Anh nói là anh tin Đức Mẹ lắm vì Đức Mẹ luôn luôn ở bên anh, cứu giúp anh.

Chuyến xe rồi cập bến… Chia tay anh mỗi người mỗi ngã. Anh đi rồi nhưng hình ảnh, tâm tình của anh về Mẹ thật dễ thương.



Qua một Cha dòng Đồng Công được biết cô N ở Missouri. Vì mới quen nên đôi bên cũng trao đổi với nhau về nhân thân một chút. Ban đầu còn bỡ ngỡ nhưng sau đó cô không ngừng tỏ lộ.

Cô nói rằng gia đình cô sau khi rời Việt Nam thì định cư ở Cali. Năm 1993, theo người quen cô đi dự Đại Hội Thánh Mẫu ở Missouri. Không ngờ Đại Hội năm ấy lại là Đại Hội kỷ niệm của đời cô. Cô nói : “Chẳng hiểu Thánh Ý Chúa và Mẹ thế nào ấy để rồi ở lại tiểu bang này luôn”. Thế là từ ngày ấy, mối tình mà Mẹ se duyên kết trái tại mảnh đất Missouri. Mối tình ngày ấy nay được 3 cậu con trai.

Và rồi cô kể không biết bao nhiêu ơn lành, bao nhiêu kỷ niệm đẹp của gia đình cô nhờ ơn của Đức Mẹ Đồng Công. Cũng từ ngày ấy, gia đình cô bỗng dưng trở thành con cái của các cha dòng Đồng Công. Cô không ngần ngại khoe rằng cứ vào nhà dòng hỏi tên hai vợ chồng cô thì các cha các thầy dòng Đồng Công ai cũng biết !

Cô say xưa kể lại kỷ niệm khó quên trận bão lớn mới xảy ra hồi năm ngoái. Khi ấy, cô và chồng đang ở ngoài đường chưa kịp về nhà, đứa lớn đến nhà bạn làm bài, hai đưa nhỏ ở trong nhà. Đài khí tượng có báo nhưng không ngờ cơn bão lớn không thể tượng. Điện thoại nhà, điện thoại cầm tay đều tê liệt… Mãi đến khuya mới về đến nhà được vì cảnh sát đã chặn hết tất cả mọi nẻo đường. Về đến nhà thì nhà đổ nát nhưng hai đứa con trai bình an vô sự ! … Dừng một lát để lấy hơi, cô kể tiếp những ơn lành mà Mẹ đã tuôn đổ xuống trên gia đình cô trong những năm tháng dài.

Nhớ lại ngày Thánh Mẫu năm ấy, cô lại kể về những kỷ niệm trong những ngày Đại Hội. Mỗi người một tay, mỗi người một việc. Năm nào cũng thế, cả gia đình cô cũng sẽ phụ một tay với giáo dân xứ đạo phụ giúp khách hành hương. Vì nhu cầu của những ngày ấy nên hai vợ chồng chọn ngày nghỉ trùng vào ngày diễn ra Đại Hội cho tiện việc phục vụ. Khi Đại Hội xong, khách về rồi thì mệt lắm vì dọn dẹp. Mệt thì cũng mệt đấy nhưng không thể nào bỏ được. Không bỏ được vì khách hành hương về quá đông và nhu cầu được phục vụ quá lớn. Và không bỏ được vì ơn của Mẹ cứ lai láng tuôn tràn trên gia đình…

Tưởng dừng lại ở những công việc, những sự việc diễn ra ở Đại Hội nhưng cô cứ cố, cứ cố kể mãi những ơn lành mà Mẹ Đồng Công ban cho gia đình cô, cho khách hành hương, cho xứ đạo.

Thế đấy! Không hẳn là Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Kỳ Đồng – Việt Nam, không hẳn là Mẹ Đồng Công ở Missouri. Mẹ - mãi mãi vẫn là Mẹ hiền yêu dấu. Mẹ - mãi mãi ban ơn lành cho những ai kêu cầu Mẹ. Những ai chạy đến với Mẹ chẳng bao giờ Mẹ để cho về tay không cả.

Tình Mẹ thương con mãi muôn đời vẫn thế! Tin hay không vẫn là lời đáp trả của mỗi người.

 (Vũ Hưu Dưỡng)


Phải tha thứ luôn luôn


Sống ở trên đời, ai cũng mong ước mình gặp được nhiều sung túc, hạnh phúc và nhất là gặp được nhiều may mắn thành công. Ai cũng muốn là mình gặp được mối tình thông cảm cho đến đỉnh cao của tiền tài, danh vọng. Ai cũng sợ thất bại, sợ gian khổ cùng cực cất đầu không lên được với những người xung quanh. Dù rằng ai cũng tự an ủi mình bằng câu: "Thất bại là mẹ thành công". Ðau khổ nhiều, con người mới thấy giá trị đích thực của hạnh phúc. Có gian nan vất vả nhiều, con người mới cảm thấy giá trị của đau khổ, mới đánh giá chính xác về sự thành công từ những nhẫn nhục, chịu đựng, âm thầm làm việc sau bao nhiêu ngày tháng. Nếu như con người từ nhỏ đến lớn sống hoàn hảo như một vị thánh, người ấy chưa chắc đã cảm thấy mình hạnh phúc nếu không phải là người đặc biệt Thiên Chúa gìn giữ. Vì thế theo thông thường chúng ta không ai thoát khỏi những lầm lỗi, không khía cạnh này thì vướng mắc khía cạnh khác, không nặng thì nhẹ, không phải khuyết điểm lầm lỗi nặng hay nhẹ, cố tình hay vô tình nhưng quan trọng là chúng ta có nhận ra được khuyết điểm sai lỗi của chính mình hay không? Và khi nhận ra được khuyết điểm sai lỗi ấy, chúng ta có sửa đổi, rút kinh nghiệm cho lần sau hay không?



Trong bài Tin Mừng của thánh sử Mátthêu (Mt 18,12-14), Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: "Nếu ai trong các ngươi có một trăm con chiên mà bị lạc mất một con thì người đó không bỏ chín mươi chín con trên núi để đi tìm con chiên lạc ấy sao?". Ðó là điều an ủi cho chúng ta, vì khi lầm lỗi, con người thường ít khi tha thứ hoặc có tha thứ cho nhau thì vẫn có thành kiến không tốt về người đó, nghĩa là chúng ta có ý nghĩ không tốt, bớt sự niềm nở tự nhiên trước đó.


Từ thái độ đó thường làm cho người có lỗi mang một tâm trạng tự ti mặc cảm, vì dù sao đi nữa thì trong tâm trạng đó con người cũng không có cái nhìn hồn nhiên, vui vẻ lạc quan yêu đời như trước khi họ chưa lầm lỗi. Khi đã sống trong tình trạng nghi kỵ lẫn nhau, nhìn nhau không thân thiện, chúng ta sẽ mắc vào một câu nói của một triết gia nọ: "Tha nhân là hỏa ngục của tôi". Ai cũng nhìn nhau bằng cặp mắt hận thù, ganh tị, hững hờ, chê bai lẫn nhau. Bao nhiêu cặp mắt hận thù, ganh tị, hững hờ, chê bai lẫn nhau. Bao nhiêu cặp mắt hình như cứ soi mói vào chúng ta, xét xem để rồi bắt lỗi chúng ta thì chẳng hỏa ngục là gì? Có bị như thế chúng ta mới cảm nghiệm được tình yêu bao la dung thứ của Thiên Chúa đối với chúng ta hôm nay: "Người chăn chiên sẽ bỏ chín mươi chín con trên núi để đi tìm con chiên lạc, khi tìm được rồi người chăn chiên sẽ vui mừng vì con chiên đó hơn chín mươi chín con chiên không bị lạc".


Thiên Chúa đã dạy chúng ta không những phải tha thứ cho nhau bảy lần mà là bảy mươi lần bảy, nghĩa là phải tha thứ luôn luôn. Và trong một đoạn Tin Mừng khác Chúa Giêsu nói: "Nếu trong một ngày người anh em con phạm đến con bảy lần và bảy lần người ấy đến nói với con rằng tôi hối hận thì con cũng phải tha cho nó". Khi thấy điều đó khó thực hiện được nên người môn đệ của Chúa đã thưa: "Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con". Ðó là Lời Chúa nhắn nhủ dạy bảo chúng ta, còn đối với Thiên Chúa Ngài càng phải khoan dung tha thứ hơn, yêu thương chúng ta nhiều hơn nữa bằng một tình thương tha thứ vô cùng.


Trong dụ ngôn "Người Con Hoang Ðàng Trở Về" sau những tháng ngày ăn chơi trác táng thì bấy giờ nó suy nghĩ và thành tâm ăn năn thống hối trở về để xin cha tha thứ. Nhưng khi nhìn thấy con từ đàng xa, chưa kịp nghe con nói lên lời xin lỗi thì người cha đã bảo gia nhân đem áo mặc cho cậu, lấy nhẫn đeo vào tay cậu. Qua những cử chỉ yêu thương mặn nồng như thế đã nói lên tình thương của cha vẫn luôn luôn yêu thương con cái và người cha vẫn coi cậu như người con trong nhà. Vì thế, ông nói với gia nhân hãy làm thịt con bê béo để mừng con đã chết nay được sống lại. Tình thương của người cha bao la đã bỏ qua tất cả mọi lỗi lầm của đứa con hoang đàng trở về.


Trong đoạn Tin Mừng nói về một người mắc nợ ông vua như sau: Có một người mắc nợ ông vua kia đến mười ngàn nén bạc nhưng anh không có gì để trả nợ. Chủ ra lệnh bán anh và vợ con cùng tất cả gia sản anh để trả nợ. Anh liền sấp mình xuống dưới chân chủ mà van lơn: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn rồi tôi sẽ trả cho ngài tất cả". Người chủ động lòng thương trả tự do và tha nợ cho anh ta. Khi ra về anh ta gặp một người bạn mắc nợ anh ta một trăm nén bạc, anh ta tóm lấy bóp cổ người ấy mà nói: Hãy trả nợ cho ta, khi ấy người bạn sấp mình dưới chân và nói: Cho tôi khất một kỳ hạn. Nhưng anh ta không nghe, bắt người bạn đó tống giam vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Người xung quanh thấy cảnh tượng thương tâm đó thuật lại với người chủ và người chủ đã bắt trao anh cho lý hình hành hạ cho đến khi trả hết nợ một ngàn nén bạc của anh.


Chúng ta đôi khi cũng thế, lòng Chúa khoan dung yêu thương, tha thứ cho chúng ta không biết bao nhiêu, vậy mà đối với anh em ta lại xét nét, chê bai, xử tệ, không tha thứ cho nhau dù chỉ là những lầm lỗi không đáng kể gì trước mặt Chúa là người Cha đầy tình thương dung thứ.




Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con cảm nhận được lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa để chúng con đáp lại tình thương nhỏ bé của chúng con đối với Ngài. Xin Chúa cho chúng con biết tha thứ cho nhau không những bảy lần nhưng là bảy mươi lần bảy, nghĩa là tha thứ cho nhau luôn luôn trong suốt cuộc sống. Amen.



(Đài Chân Lý Á Châu)




Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Anh sẽ đưa em đi đến cuối cuộc đời



Khi gả về nhà anh, chị mười sáu, anh lên năm tuổi. Anh là con độc đinh, cha mẹ quý hơn vàng, chỉ tiếc anh quá nhiều bệnh tật.

1. Cảnh nghèo

Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói ph ải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.

Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi.

Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.

Vì thế bà mối đến, réo rắt: "Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha, còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà".

Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: "Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!".

Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị. Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư!

Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài. Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha m , tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.

Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.

2. Cười xót xa

Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng. Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.

Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.

Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.

Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v...

Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình: "Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?".

Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to: "Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, lên giường..."

Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói:

"Chị ơi, em yêu chị!".

Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.

3. An ủi nhỏ nhoi

Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay.

Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.

Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.

Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi. Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói:

"Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành".

Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.

Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh?

Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.

Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường.

Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.

Nhưng anh vẫn nói: "Chị, chờ tôi quay về nhé!".

Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.

4. Kiếp này

Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi.

Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc. Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị.

Lúc đó chị đã 29 tuổi.

Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát li đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.

Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa!

Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: "Chị, chờ tôi quay về nhé!"; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.

Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng.

Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về. Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.

Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực.

Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu. Chị không dám ngờ anh đã nói với chị: "Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!".

Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị?

Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng c ười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.

5. Xin lỗi

Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau một con trai một con gái.

Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình. Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng. Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường.

Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà. Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói:

"Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?".

Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị. Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi. Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch:

"Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi".

Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.

6. Năm tháng như bài ca, tình yêu như ngọn lửa

Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.

Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậ y chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.

Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói:

"Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy".

Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.

Sưu tầm

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2011

Thông điệp Đức Mẹ ngày 2/12/2011






Thông điệp Mẹ Mễ Du ngày 2/12/2011 qua thị nhân Mirjana


"Các con yêu dấu,

Như một Từ Mẫu Mẹ ở với các con để rồi với tình yêu, lời cầu nguyện, và mẫu gương của Mẹ, Mẹ có thể giúp các con trở nên một hạt giống tương lai, một hạt giống sẽ mọc thành một cây rắn chắc và sẽ trải rộng cành lá vào lòng thế giới. Để cho các con thành một hạt giống tương lai, một hạt giống yêu thương, các con hãy van xin Chúa Cha tha thứ những thiếu xót của mình cho tới nay. Các con của Mẹ, chỉ có một tấm lòng thanh khiết, không bị gánh nặng bởi tội lỗi mới có thể mở rộng chính nó ra và chỉ có con mắt lương thiện mới có thể nhìn thấy con đường mà qua đó Mẹ mong muốn dẫn dắt các con. Khi các con trở nên ý thức về điều này, các con sẽ trở nên ý thức về tình yêu Thiên Chúa được ban tặng (như một ân huệ) cho các con. Rồi các con sẽ trao tặng (như một món quà) tới người khác như một hạt giống tình yêu. Cám ơn các con".

Message to Mirjana on December 2, 2011

“Dear Children!

As a mother I am with you so that with my love, prayer and example I may help you to become a seed of the future, a seed that will grow into a firm tree and spread it's branches throughout the world. For you to become a seed of the future, a seed of love, implore the Father to forgive you your omissions up to now. My children, only a pure heart, unburdened by sin, can open itself and only honest eyes can see the way by which I desire to lead you. When you become aware of this, you will become aware of the love of God - it will be given (as a gift) to you. Then you will give it (as a gift) to others as a seed of love. Thank you".

Kính Mừng MARIA

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

Bệnh Sida (AIDS) có phải là hình phạt của Chúa không?



Vâng, đúng như thế, nhưng tôi thích gọi đây là sự đền tội cho các tội lỗi vô luân của con người. Không biết điều tôi nói đây có làm cho mọi người kinh ngạc không? Người ta nghĩ rằng Chúa là Đấng yêu thương phải không? Thế mà hình phạt và sự đền tội cũng là do tình yêu của Chúa. Có những kẻ vô tội mà lại phải mắc bệnh Sida, thì chính họ là người đền tội cho những kẻ phạm tội vô luân, và sự đền tội thay này rất cần thiết. Lòng Thương Xót của Chúa thì vô biên, nhưng Công Lý của Chúa thì sung mãn. Tôi nói rằng nếu bây giờ chúng ta biết về công lý của Ngài thì chúng ta sẽ ở trên Thiên Đàng, nhiều người trong chúng ta sẽ chết dưới sức nặng và sự căng thẳng của tội lỗi mình.



Bà có nghĩ rằng người ta sẽ tìm được cách chữa trị cho bệnh Sida không? 

- Ngày nay, chúng ta đã có cách chữa trị, nhưng bởi vì phương cách chữa trị ấy không đem lại tiền bạc cho ai, và bởi vì điều này không phổ thông, nên mọi người sẽ còn mù quáng trước phương thức chữa trị ấy. Phương thức chữa trị là Chúa Giêsu và Mười Điều Răn. Ngài không ban Mười Điều Răn để kiểm soát chúng ta nhưng là để bảo vệ, kiện toàn và giải thoát chúng ta.

Đó có thể là phương cách phòng ngừa. Còn phương cách đền tội, và chữa lành xảy ra khi nào?

- Điều ấy đã xảy ra ở những nơi có nhiều lời cầu nguyện.

Thưa bà ở đâu?

- Tôi nghe nói về một nơi ở nước Ý, nhưng tôi không nhớ tên. Ở Medjugorje, Nam Tư cũng có những sự chữa lành. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là nơi chốn mà là số lượng lời cầu nguyện.

Khi con người có gánh nặng đến những nơi có nhiều lời cầu nguyện, họ cũng đã được các bác sĩ Y khoa, các bác sĩ tâm thần và các Linh Mục xem xét. Nhiều khi tình trạng của họ tệ hơn thay vì tốt hơn. Liệu điều này có thể là do các Linh Hồn gây ra không? 


- Vâng, có thể như thế, có thể là do các Linh Hồn nằm sâu trong đáy Luyện Ngục. Trong các trường hợp như vậy thì một nhà trừ quỷ có thể làm ngừng các hoạt động mà người đang đặt trên người sống.


Thưa bà Maria, khi nói về bệnh tật thể xác và những sự tàn tật, có Linh Hồn nào đến với bà mà trước đó, bà biết họ tàn tật trong cuộc sống của họ không?

- Có nhiều lắm. Khi họ hiện ra với tôi, họ được hoàn toàn chữa lành. Không còn phải ngồi xe lăn nữa. Những sự dị dạng và những vết sẹo cũng không còn nữa.

Tuy nhiên, có một Linh Hồn đến với một cái bướu lớn ở ngay cổ. Điều này nhằm để cho gia đình của họ tin tưởng nơi tôi, khi tôi nói về người thân quá cố của họ đã hiện về để cho họ những lời chỉ dẫn. Thấy không? Họ hỏi tôi rằng hình dáng thân nhân quá cố của họ như thế nào. Khi tôi nói đến cái bướu trên cổ người chết ấy thì họ tin ngay và lắng nghe những lời mà người chết muốn nhắn nhủ qua tôi.

Bây giờ tôi nhớ có người bị câm trong cuộc sống trần gian, nhưng ông ta lại có thể nói một cách hoàn toàn khi ông gặp tôi. Ông rất vui mừng khi có thể nói với tôi, nhưng tôi không biết tại sao ông không thể nói khi còn sống.

Trong cuộc sống có những người bại liệt phải ngồi xe lăn, nhưng khi chết và hiện về với tôi thì họ đi đứng thoải mái. Tất cả những bất toàn trên thể xác của họ lúc trước thì nay không còn nữa. Nhưng xin nhớ rằng tôi chỉ nhìn thấy những Linh Hồn ở trên tầng cao nhất của Luyện Ngục mà thôi. Tôi nói như vậy vì có những người khác thấy được các nỗi thống khổ và vết thương trong các Linh Hồn. Nhưng các Linh Hồn này không giống như những người trước kia ở trần thế. Họ đau đớn trong Linh Hồn mà không phải trong thân xác vì họ không còn thể xác nữa.


Một Linh Hồn của vị Linh Mục hiện ra với tôi. Sau khi ngài nói cho tôi biết điều ngài cần, thì tôi được phép hỏi ngài tại sao bàn tay phải của ngài lại đen đủi, dơ bẩn và có vẻ đau đớn như thế. Ngài trả lời rằng:

 “Xin bà hãy bảo các Linh Mục hãy luôn luôn chúc lành cho mọi người, mọi nhà cửa và các hình ảnh tôn giáo. Tôi đã không chịu chúc lành thường xuyên; do đó, nay tôi phải bị đau đớn nơi bàn tay phải của tôi”.

Maria Simma