Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Hiệp thông cầu nguyện cho linh hồn Maria

“Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25b)



Trong niềm tín thác vào Đức Kitô Phục Sinh,


Hội Cứu Giúp Các Linh Hồn và gia đình trân trọng kính báo:




Cụ Maria Tạ Thị Trại


Sinh năm: 1917


Đã an nghỉ trong Chúa lúc 20g ngày 2 tháng 3 năm 2012


(tức ngày 10/2 năm Nhâm Thìn)


Hưởng thọ: 96 tuổi


Thánh Lễ an táng được cử hành tại Nhà thờ Giáo xứ Phú Đa


lúc 8g ngày 4 tháng 3 năm 2012


Mai táng cùng ngày tại nghĩa trang Giáo xứ Phú Đa.


Kính xin quý Cha, quý nam nữ tu sĩ và hết mọi người hiệp thông cầu nguyện cho linh hồn Maria.



Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi linh hồn Maria.

Người gửi: BBT

Hiệp thông cầu nguyện cho linh hồn Mátta

“Ai tin vào Thầy thì được sống muôn đời” (Ga 3,15)


http://cuucaclinhhon.files.wordpress.com/2011/04/flower.gif?w=600


Trong niềm tín thác vào Đức Kitô Phục Sinh,


Hội Cứu Giúp Các Linh Hồn và gia đình trân trọng báo tin:




Cụ Mátta Tạ Thị Phím


Sinh năm: 1929


Đã an nghỉ trong Chúa lúc 22g ngày 24 tháng 2 năm 2012


(tức ngày 3/2 năm Nhâm Thìn)


Hưởng thọ: 84 tuổi


Thánh Lễ an táng được cử hành tại Nhà thờ Giáo xứ Phú Đa


lúc 8g ngày 26 tháng 2 năm 2012


Mai táng cùng ngày tại nghĩa trang Giáo xứ Phú Đa.


Kính xin quý Cha, quý nam nữ tu sĩ và quý cộng đoàn cầu nguyện cho linh hồn Mátta.



Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi linh hồn Mátta.

Người gửi: BBT

Đừng thất vọng

[caption id="attachment_3318" align="aligncenter" width="491" caption="Hãy tạ ơn Chúa đi vì sự thiếu thốn của bạn chưa nhằm nhò gì"][/caption]

Thánh Tông đồ Phaolô đã nói: “Tôi sống thiếu thốn cũng được mà sống dư dật cũng được” (Pl 4,11-12). Được Thiên Chúa chăm sóc không có nghĩa là bạn luôn dư dật hoặc mọi việc sẽ luôn xuôi chèo mát mái. Điều ấy có nghĩa là khi bạn tìm kiếm Chúa, Ngài sẽ giúp bạn thoả mãn, tin tưởng rằng Ngài sẽ giữ gìn bạn và chăm sóc cho bạn.

Ngài coi trọng tất cả những gì bạn đã cho đi từ chính bản thân bạn và cuộc sống của bạn cũng như thời gian phụng sự Ngài. Đôi khi, Ngài ban cho bạn sự an ủi và dư giả, nhưng đôi khi, để có được những dư giả ấy bạn phải trải qua những gian khó. Chúa sử dụng những gian khó để hoàn thành rất nhiều việc. Khi bạn tranh đấu, ý chí chiến đấu của bạn sẽ được củng cố, hoặc bạn sử dụng những vũ khí tinh thần mà bạn đã không sử dụng nhiều trước đó. Bạn thiết tha hơn với Chúa và hướng đến một tinh thần và tâm hồn trong trắng. Bạn trở nên khiêm tốn hơn và cậy dựa vào sức mạnh của Ngài hơn. Bạn biết cảm kích mỗi một ơn lành hơn.

Mỗi một trận chiến đều khác nhau, nhưng có một điều luôn giống nhau chính là bạn luôn có thể cậy dựa vào tình yêu của Chúa dành cho bạn. Bạn có thể cậy dựa vào Ngài, và Ngài sẽ không bao giờ làm bạn thất vọng.

***


Satan luôn chống lại Lời Chúa. Có thể hắn sẽ chống lại lòng tin của bạn vào những lời hứa của Chúa và khiến bạn hoài nghi. Nhưng điều ấy không làm suy giảm tính xác thực của lời thề hứa Thiên Chúa dành cho bạn. Chắc chắn cần đến sự kiên nhẫn để tin tưởng vào sự bảo đảm của Chúa, bởi vì, thỉnh thoảng Ngài không thực hiện lời hứa nhanh chóng hoặc không theo như cách chúng ta nghĩ. Chúng ta không thể cho mình có được sự khôn ngoan của Chúa, để biết toàn bộ bức tranh như Ngài và biết Ngài nên trả lời thế nào cho lời cầu nguyện của chúng ta và nên làm trọn Lời Ngài như thế nào. Nhưng, giống như những thế hệ tín hữu trước chúng ta, chúng ta vẫn có thể hoàn toàn tin tưởng vào lời thề hứa của Ngài đối với chúng ta, rằng Ngài không thất hứa, rằng chúng sẽ được thực hiện khi đến giờ của Ngài theo cách của Ngài và rằng Ngài sẽ hoàn thành những gì Ngài biết là tốt nhất; bổn phận của chúng ta là làm tốt phần việc của mình.

Một phần trong việc bước đi bằng lòng tin chính là tin tưởng vào sự khôn ngoan của Chúa. Việc bạn trải qua những lúc khó khăn hoặc gian gian và thử thách - thậm chí là những cuộc chiến dữ dội, đi qua thung lũng bóng tối của sự chết, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - không phải là dấu hiệu Chúa không giữ Lời Ngài. Có rất nhiều lý do Chúa để cho những khó khăn và nghịch cảnh xảy đến. Nếu bạn xin Ngài cho bạn biết nguyên nhân trong hoàn cảnh đặc biệt của bạn, Ngài sẽ chỉ cho bạn. Những khó khăn và những lời hứa vẫn chưa được thực hiện không có nghĩa là Chúa thất hứa hoặc không có khả năng thực hiện lời hứa.

Cuộc sống nơi thế gian có rất nhiều trở ngại, và đó là lý do tại sao chúng ta cần Chúa và tại sao chúng ta cần bám chặt vào niềm tin của chúng ta dù cho có bất cứ điều gì đang xảy ra quanh ta. Lời hứa của Chúa chính là sự bảo đảm và bạn có thể dựa vào chúng! Tuy nhiên, bạn có lựa chọn tin tưởng hay không là tuỳ ở bạn. Bạn lựa chọn tin tưởng không phải bởi vì bạn nhìn thấy những thực tế, nhưng vì bạn có lòng tin. Chúa không bao giờ thất hứa với con cái của Ngài, và bạn có thể đặt cược cuộc sống của bạn trong Lời ngài, và lời ấy sẽ luôn được chứng thực như Chính Ngài là Đấng hiện hữu.

***


Tương lai có thể làm bạn chán nản, sợ hãi. Tương lai có thể hiện ra như thế vì có quá nhiều điều bạn chưa được biết về nó. Tuy nhiên, hãy nghĩ về việc Chúa luôn chăm sóc bạn và sẽ luôn chăm sóc bạn.

Hãy tiếp tục trông cậy vào Chúa. Đừng để lòng tin của bạn bị giao động bởi hoàn cảnh, nhưng thay vào đó hãy để Lời Chúa và mối liên hệ mật thiết giữa bạn với Chúa Giêsu cho bạn lòng tin mà bạn cần cho bất kỳ hoàn cảnh nào. Chúa sẽ luôn đồng hành, hướng dẫn và ban ơn cho bạn. Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, bạn không bao giờ đơn độc. Bạn có được Chúa Giêsu - và xung quanh bạn là những người cần tình yêu của Ngài.

***


Chúa Giêsu đã nói Ngài sẽ không để bạn mồ côi (x. Ga 14,18). Bạn cần được an ủi khi mọi việc không như bạn mong đợi. Chúa luôn ở bên bạn, và sự an ủi của tình yêu và sự che chở của Ngài sẽ giúp bạn vượt qua những lúc khó khăn, và nhờ thế, bạn trân trọng và yêu quý sự an ủi ngay cả khi mọi việc tốt đẹp trở lại.

Nguồn an ủi đích thực không phải là những hoàn cảnh thể lý mà chính là biết rằng Chúa luôn ở bên bạn, không rời xa bạn, không ruồng bỏ bạn hoặc lãng quên bạn. Bạn ở trong đôi tay của Ngài và luôn được an toàn.

***


Những lời hứa của Chúa mãi luôn tốt lành. Những lời hứa bảo vệ và chu cấp của Ngài không bao giờ hết hạn hoặc giới hạn về mặt thời gian; chúng có hiệu lực luôn mãi. Khi bạn đọc những lời hứa này, sống và làm theo những lời chỉ dạy và kế hoạch Ngài dành cho bạn ngày hôm nay, bạn sẽ nhận thấy chúng rất vững chắc và đáng tin cậy. Hãy để Ngài bày tỏ cho bạn biết kế hoạch của Ngài.

Chúa Giêsu đã hứa sẽ an ủi và chăm sóc cho bạn. Bạn có thể hoàn yên tâm về điều này và biết rằng Ngài sẽ làm tròn những lời hứa của Ngài vì Ngài chính là “nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta, và luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo” (Tv 46,1). Bạn có thể xác tín rằng Ngài sẽ tiếp tục làm tất cả những gì bạn cần trong thế giới vĩnh hằng, một thế giới không hề có những khó khăn và đau khổ.

Thiên Ân

Biến hình - biến cố “giải quyết” cuộc khủng hoảng niềm tin

[caption id="attachment_3312" align="aligncenter" width="450" caption="“Đây là Con Ta yêu dấu. Các Ngươi hãy nghe lời Ngài” (Mc 9,7)"][/caption]

(Chúa Nhật II Mùa Chay B)


Cuộc khủng hoảng nợ công tại một số quốc gia thuộc khối EU (Âu Châu) đang diễn ra ngày một trầm trọng. Nó được ví như là một cơn sóng thần hung hãn có nguy cơ nhấn chìm cả nền kinh tế thế giới. Khởi điểm của cơn sóng thần này chính là Hylạp, rồi đến Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và rồi lan rộng đến Italia. Khi Italia, nền kinh tế lớn thứ ba khu vực đồng Euro chính thức trở thành tâm điểm mới của cuộc khủng hoảng nợ công thì nguy cơ mà EU sẽ phải đối mặt đó là cuộc khủng hoảng tài chính trong toàn khu vực. Khủng hoảng nợ công cũng kéo theo cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn đó là khủng hoảng niềm tin, niềm tin đối với các ngân hàng tín dụng, với thị trường chứng khoán, với các nhà đầu tư và với toàn thể người dân.



Các nhà lãnh đạo EU, tích cực nhất là Pháp và Đức, phải nhóm họp liên tục nhằm tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng. Một loạt các giải pháp đã được thông qua, chẳng hạn chính sách thắt lưng buộc bụng, thắt chặt chi tiêu, thắt chặt tài khoá đi kèm với hạ giá tiền tệ, đồng thời kêu gọi sự trợ giúp tài chính từ các nước có nền kinh tế mạnh khác trong khu vực, đặc biệt là từ Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF).

Có thể nói rằng khi nghe Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó và tử nạn của Ngài, các một đệ cũng đã trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng không kém. Có điều đây không phải là khủng hoảng về nợ nần mà các ông đã vướng mắc trong 3 năm long bong theo Thầy, cũng không phải khủng hoảng về tài chính kinh tế do các ông “thất nghiệp” suốt một thời gian dài, mà là cuộc khủng khoảng niềm tin. Niềm tin vào chính người Thầy của mình, Đức Giêsu Kitô.

Khủng hoảng vì khi Chúa Giêsu cho biết Ngài sẽ phải đương đầu với sự bắt bớ, bách hại, các ông không còn nhìn thấy được đâu là Đấng Cứu Tinh mà muôn dân đang trông đợi. Khủng hoảng vì khi sắp sửa phảiđối mặt với Thập Giá của Thầy, các ông chẳng còn nhận ra được đâu là thần tính của Đấng mà các ông nhiều lần gọi là Thầy, là Chúa nữa. Khủng hoảng hơn nữa vì khi chạm trán với viễn tượng chết chóc, các ông chẳng còn định hình được đâu là sự sống đời đời mà Thầy mình đã từng cao rao.

Thấu hiểu cơn khủng hoảng mà các môn sinh của mình đang phải đối mặt, Chúa Giêsu đã khéo léo đưa họ, không phải vào bàn hội nghị để tìm giải pháp tháo gỡ cuộc khủng hoảng, mà là lên núi cao, để họ được chiêm ngưỡng một biến cố đặc biệt đầy ý nghĩa, biến cố mở ra cho họ một viễn tượng mới tràn đầy hy vọng: biến cố Biến Hình. Qua biến cố này, Chúa Giêsu sẽ nói cho các ông biết đâu là sự sống tràn trào ẩn sau cái chết, đâu là thần tính vinh quang của Ngài, và đâu là niềm hy vọng chứa chan trước Mầu nhiệm Thập Giá.

1. Biến cố hiển dung, biến cố chứng thực cho sự sống sau cái chết


Quan niệm của người Dothái về sự sống lại, và sự sống sau cái chết vẫn còn có nhiều bất đồng và mơ hồ. Thậm chí nhóm Sađốc còn chủ trương không tin là có sự sống lại. Tuy nhiên, trong biến cố hiển dung, sự xuất hiện rạng ngời vinh hiển của hai nhân vật quá cố thời Cựu Ước xa xưa là Môisê và Êlia, như một bằng chứng hiển nhiên và chắc chắn nói cho các môn đệ rằng có sự sống lại và sự sống sau cái chết. Nói cách khác, qua biến cố hiển dung, Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng các ông cứ tin tưởng có thế giới bên kia, nơi mà hai vị đại ngôn sứ đang sống hạnh phúc ngập tràn. Và rằng các ông cứ an tâm Thầy của họ có chết thì cũng sẽ phục sinh vinh quang.

2. Biến cố hiển dung, biến cố biểu lộ vinh quang thần tính của Đức Kitô

Trong cuộc sống thường nhật, Chúa Giêsu thường chỉ biểu lộ nhân tính của Ngài là một con người như mọi người, ngoại trừ tội lỗi. Còn thần tính của Ngài vẫn còn ẩn giấu, ẩn giấu trong một thân xác nghèo hèn dân dã.

Thế nhưng, qua biến cố hiển dung, vinh quang Thiên Chúa, tức thần tính của Đức Giêsu tỏ hiện rõ nét và rạng ngời. Rõ nét đến độ, Thánh Matthêu mô tả là các môn đệ choáng ngợp, té sấp mặt xuống đất: “Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, y phục Ngài trắng sáng như tuyết” (Mc 9,3). Rạng ngời đến nỗi các môn đệ chỉ còn muốn sống mãi trên núi với Chúa mà thôi. Chính Thánh Phêrô xác nhận điều này: “Lạy Thầy, chúng con ở đây thì tuyệt cú mèo rồi. Nếu Thầy muốn, con xin làm 3 lều…” (x. Mc 9,5). Trong một bài suy niệm của mình, Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt cũng đã viết: “Thần tính Chúa Giêsu biểu lộ chứng thực Người là Thiên Chúa ẩn mình. Thì ra manh áo đơn sơ của bác thợ mộc che giấu cả một nguồn ánh sáng chói lọi. Tâm thân dân dã nghèo hèn lại là chiếc bình chứa đựng Ngôi Hai Thiên Chúa cao sang”.

3. Biến cố hiển dung, biến cố khích lệ niềm tin cho các môn đệ trước viễn tượng cuộc thương khó của Thầy mình  

Chúng ta thấy rằng khi Chúa Giêsu bị bắt, ít là có 2 trong 3 môn đệ (Phêrô, Giacôbê và Gioan) đã từng chứng kiến biến cố hiển dung đã không bỏ trốn như các môn đệ khác. Điều này chứng tỏ niềm tin của các môn đệ đã được củng cố rất nhiều, nhờ thấy trước vinh quang Phục Sinh của Đức Giêsu. Đối tượng cụ thể của niềm tin đó chính là Đức Kitô, Con Một Yêu Dấu của Chúa Cha trên trời. Và vì tin vào Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa, các ông cần phải lắng nghe lời dạy của Ngài: “Đây là Con Ta yêu dấu. Các Ngươi hãy nghe lời Ngài” (Mc 9,7). “Lời Ngài” mà Chúa Cha muốn nói ở đây là lời Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó, tử nạn và phục sinh của Người. “Lời Ngài” ở đây là lời tiên báo về sự bắt bớ, tra tấn, đánh đập và bị giết chết nhục nhã trên Thánh Giá. Nghe để không bị chao đảo, nghe để không bị mất đức tin trước những thử thách nặng nề như thế.

Vậy, khi tái khám phá những ý nghĩa của biến cố biến hình của Chúa Giêsu trên núi Taborê, chúng ta được mời gọi điều gì? Chúng ta được mời gọi mỗi khi đối diện với những khủng hoảng, bế tắc nghiệt ngã trong cuộc sống vô thường ở đời này, hãy chiêm ngắm biến cố hiển dung để hy vọng, để cậy trông vào một cuộc sống vĩnh cửu đích thực mai sau. Hơn nữa, chúng ta còn được gọi mời khi gặp những thử thách đau thương của thập giá, hãy hướng lòng trí lên Đức Kitô vinh quang trên núi Taborê để được khích lệ, để được vấn an hầu có thể vượt qua được những thử thách đau thương ấy trong cuộc đời này. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

Tình dục không có tội?

[caption id="attachment_3306" align="aligncenter" width="450" caption="Như vậy có đúng không nhỉ?...!"][/caption]

Một buổi Toạ đàm với chủ đề “Tình dục không có tội” đã được tổ chức tại TP. HCM ngày 12-2-2012. Đọc bài tường thuật của báo Thanh Niên (số ra ngày 14-2-2012, tr. 9) cho đến câu cuối cùng, tôi mới thấy rõ mục đích của buổi toạ đàm và mới thực sự hết khó chịu. Câu cuối cùng đó là phát biểu của một sinh viên đại diện cử toạ trẻ, như sau: “Chúng em đến đây không phải để cổ xuý, đấu tranh đòi hỏi về quyền quan hệ tình dục (TD) và quan hệ TD trước hôn nhân. Thực tế, chúng em rất thiếu kinh nghiệm, kỹ năng trang bị về vấn đề TD nên cần sự hỗ trợ, chia sẻ, có thể tiếp cận quyền này một cách phù hợp”.

Quả thực, lúc mới nhìn vào đầu đề của bài báo, tôi tự hỏi: Có phải chăng người ta muốn cổ vũ cho tự do tình dục, như phương Tây đã chủ trương cách nay mấy chục năm với cái gọi là cuộc cách mạng tình dục vào cuối những năm 60 và đầu những năm 70 thế kỷ trước?

Cuộc cách mạng này mang tính triết học, nhân học, luân lý và xã hội, bởi thế nó có nhiều ý nghĩa khác nhau và những kết quả “đa nghĩa”. Bên cạnh những mặt tích cực, nó đã mang trong mình mầm mống của một số những yêu sách và những phủ nhận tai hại, như sự phát triển về sau đã cho thấy, chẳng hạn: phủ nhận tận gốc cơ chế gia đình; yêu sách một sự tự do TD trọn vẹn; từ chối mọi quy chuẩn (norme) đến từ quyền bính (autorité) trong bất cứ lãnh vực nào – gia đình (người cha), chính trị (nhà cầm quyền), giáo dục (ông thầy giáo) và tôn giáo (hàng giáo sĩ nói chung). Tất cả những phản kháng đó, thực tế đã xảy ra trong cuộc nổi dậy của giới trẻ ở Paris, mà về sau được gọi là biến cố tháng 5-1968 – người Pháp nói gọn lại là “Mai-68” (Mai=tháng Năm) (x. Mgr Jean Laffitte, Les effets de la révolution sexuelle, ZENIT 28-3-2010). Một khẩu hiệu được viết lên tường ở các trường đại học thời ấy là: Cấm không được cấm (Il est interdit d’interdire).

Tôi đã “nghi ngờ” khi nhìn thấy đầu đề “Tình dục không có tội”, lại càng thêm ngờ vực khi đọc tiếp mấy câu mở đầu như sau: “Tình dục là một điều hết sức bình thường, như cơm ăn nước uống, nhưng chả ai dạy do nhận thức, ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, coi chuyện đó là bậy bạ nên nhiều người thường lảng tránh”. Đây là ý kiến của bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Viện trưởng Viện khoa học Giáo dục ViệtNam (thuộc Bộ GD-ĐT).

Phần đầu của câu này có thể gây sốc thực sự. Mà quả quyết như thế cũng không đúng lắm! Tình dục không thể đặt hoàn toàn ngang với nhu cầu ăn uống để được coi là “hết sức bình thường” như ăn với uống. Nó là bình thường theo nghĩa nó nằm trong bản tính con người, đó là bản năng do thiên nhiên phú bẩm, nhưng nó vẫn có những điểm khác với nhu cầu ăn uống, đơn giản là không ăn không uống thì chết, không sử dụng tình dục thì không chết; một đàng liên quan đến lợi ích của nòi giống, một đàng liên quan trực tiếp đến sự sống còn của mỗi người. Vì thế, đưa trẻ sinh ra đã biết bú ngay (y như con gà vừa nở ra đã biết mổ ăn).

Nhưng “ngụ ý” của phần thứ hai trong phát biểu của bà Phó Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục là đúng. Như ăn uống phải được “giáo dục” thì tình dục cũng vậy. Học ăn, học nói, học gói học mở. Nơi con vật thì các bản năng hoạt động cách “tự nhiên”, nơi con người có trí khôn, không còn bản năng nào là “thuần tuý” nữa, mà đã được “nhân hoá”. Nên chỉ con người mới có văn hoá. Vậy không nên “lảng tránh” vấn đề tình dục vì cho rằng nó là chuyện xấu xa.

Nhìn nhận như thế rồi, thiết nghĩ ta cũng nên lưu ý thêm rằng xưa cũng như nay, ở Việt Nam ta cũng như nơi các dân tộc khác, chuyện tình dục vẫn được coi như chuyện riêng tư, kín đáo, “tế nhị” và được xã hội bảo vệ một cách nào đó, chứ không hoàn toàn như chuyện ăn uống.

Thật rất đúng khi cuộc toạ đàm đặt tình dục vào trong văn hoá và trong pháp luật. Những ai chủ trương hay “mơ màng” một sự tự do tình dục hoàn toàn nên nghe ý kiến sau đây của bác sĩ Lê Công Minh – Bệnh viện Tâm thần T.Ư. 2 tại buổi Toạ đàm: “Hằng ngày, chúng tôi tiếp cận những nữ thân chủ bị bạo hành từ chính người chồng, họ phải chịu đựng những di chứng lâu dài, (hoặc) gia đình tan nát vì trót quan hệ TD trước hôn nhân. Thực tế [nghĩa là cho dù người ta cứ việc lớn tiếng bênh vực việc “quan hệ” trước hôn nhân], ngay cả những anh trí thức cũng khó chấp nhận điều này, gây ra nhiều vụ bạo hành. Nếu cổ xuý quá cho quyền TD mà không tính đến yếu tố văn hoá thì cũng khó”.

Quyền TD là gì? Bác sĩ Trương Trọng Hoàng - giảng viên trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, tóm tắt: “Đó là quyền được tự chủ về TD, quyền được tiếp cận thông tin và cả quyền từ chối TD”. Bác sĩ Hoàng dí dỏm: “Tôi đọc trên mạng Internet mấy câu thế này: Bây giờ mận mới hỏi đào – Vườn hồng đã có ai vào hay chưa? Mận hỏi thì đào xin thưa - Vườn hồng đã có từa lưa người vào. Liệu một người phụ nữ nói vậy thì có phù hợp với văn hoá ViệtNam hay không? Giáo dục giới tính rất rộng, rất đa dạng với mục đích là làm cho các em ứng xử phù hợp hoàn cảnh văn hoá và xã hội”.

Và những ai cổ vũ cho tự do TD hoàn toàn cũng nên nhìn vào số liệu mà tờ báo đóng khung lại trong bài tường thuật: “Theo số liệu năm 2011 của Tổng cục Thống kê và UNICEF về tỷ lệ sinh con của vị thành niên ở Việt Nam là 4,6%, cao hơn nhiều so với các nước châu Á khác. Cùng với mang thai ngoài ý muốn, tỷ lệ phá thai ở vị thành niên cũng rất cao, chiếm khoảng 20% trong tổng số các ca nạo phá thai ở Việt Nam”.

Đó là một thực trạng đáng lo! Nhưng cũng đáng buồn là trước thực trạng đó, các nhà giáo dục và những người có trách nhiệm khác trong xã hội hầu như chỉ muốn đối phó bằng cách nhấn mạnh vào “tình dục an toàn”, nghĩa là đặt nặng vấn đề “kỹ năng kỹ thuật” hơn là cung cấp một nền giáo dục toàn diện, trong đó bao gồm cả những khía cạnh nhân học, xã hội, văn hoá, đạo đức và luật pháp.

Lm. Nguyễn Hồng Giáo, ofm

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Chuyện giàu - nghèo

[caption id="attachment_3301" align="aligncenter" width="500" caption="“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3; Lc 6,20)"][/caption]

Nói về người giàu, Chúa Giêsu xác định và so sánh: “Người giàu có khó vào Nước Trời. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mt 19,23; Mc 10,23; Lc 18,24). Đó là Ngài muốn nói đến những người giàu mà dùng tiền làm những chuyện sai trái, chứ Ngài không có ý “kết án” người giàu. Tinh thần nghèo khó rất quan trọng: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3; Lc 6,20).

Chuyện giàu - nghèo vẫn luôn là một “hằng số bí ẩn”, không ai khả dĩ lý giải thấu đáo. Người giàu mà không lệ thuộc tiền bạc, có tinh thần nghèo khó và thương người, chắc hẳn người đó vẫn… nghèo. Người nghèo mà lòng mê đắm tiền bạc, tìm cách “ăn chặn” hoặc bóc lột người khác, chắc hẳn người đó không nghèo, như người ta thường nói: “Cho không lấy, thấy không xin, kín thì rình, hở thì rinh”. Nghĩa là cho thì họ tự ái mà không lấy, nhìn thấy thì họ cũng tự ái mà không hề xin, giấu kín thì họ rình mò và tìm cách “xoi mói”, để hớ hênh thì họ rinh mất ngay chỉ trong tích tắc!

Tỷ phú nhân đạo

Ngày nay, xã hội phát triển, tỷ phú Việt Nam rất nhiều, còn triệu phú Việt Nam thì nhiều như sao sa, chẳng nghĩa lý gì, vì tiền Việt Nam không có giá trị cao trên thị trường quốc tế. Thế nhưng, triệu phú USD thì có giá, dù USD không bằng Bảng Anh và Euro. Tỷ phú USD thì vừa có trị giá vừa có thế giá!

Còn một số người Việt Nam, chỉ “có của ăn của để” hơn người khác một chút, thậm chí chỉ không phải “ăn bữa nay lo bữa mai” thì cũng đã ra vẻ “ta đây” rồi. Có người còn muốn “chơi nổi” cho “khác người” bằng cách này hay cách nọ, dù cách đó là phi pháp. Thế nhưng, trên thế giới lại có những tỷ phú rất đáng để chúng ta học hỏi.

1. Tỷ phú Bill Gates có số tài sản là 59 tỷ USD, nhưng 3 người con của ông sẽ chỉ được thừa kế số tiền bằng 1/6.500 số tài sản khổng lồ của ông. Ông đã nhiều lần tuyên bố sẽ dành 95% số tài sản của mình để làm từ thiện. Ông nói: “Nhiều tiền không bao giờ tốt đối với con trẻ. Chúng cần phải tự tìm ra con đường sống, tự tìm ra cách sống, thay vì chỉ nằm hưởng thụ những gì mà bố mẹ chúng để lại”.

Thực tế nhiều năm qua đã chứng tỏ điều đó. Ông luôn tỏ ra là một tỷ phú rất hào phóng. Ông thường xuyên cùng vợ là bà Milinda đi làm từ thiện ở các nước Châu Phi nghèo đói. Ông cho biết rằng sau khi ông qua đời, tài sản của ông sẽ được tập trung vào việc giúp đỡ trẻ em nghèo.

2. Tỷ phú Warrant Buffet, cổ đông lớn nhất kiêm chủ tịch tập đoàn Berkshire Hathaway, cũng đã từng tuyên bố rằng 3 người con của ông sẽ không nhận được nhiều từ số tài sản khổng lồ khi ông qua đời. Ông luôn quan niệm chỉ cho con mình những bài học về giá trị cuộc sống chứ không phải là một đống tiền. Ông nói rằng ông sẽ dành 85% trong tổng số tài sản 39 tỷ USD để làm từ thiện.

Con trai của tỷ phú Warrant Buffet là nhạc sĩ Peter Buffet cho biết: “Thứ mà chúng tôi nhận được từ cha đơn giản là những bài học về cách sống chứ không phải tiền bạc”. Nhạc sĩ Peter còn cho xuất bản một cuốn sách có tựa đề “Tiền không là tất cả”. Đúng là “cha nào con nấy” theo nghĩa tích cực và tốt lành.

3. Tỷ phú George Lucas là đạo diễn, nhà sản xuất phim, diễn viên, kịch tác gia lừng danh. Ông được biết đến nhiều hơn với vai trò tác giả của bộ phim “Chiến tranh giữa các vì sao” (Star Wars, hãng 20th Century Fox phát hành ngày 25-5-1977, tính đến năm 2008, bộ phim 6 tập này đạt doanh thu khoảng 4.410.000.000 USD). Không chỉ vậy, ông còn sở hữu hãng phim truyện LucasFilm. Giá trị tài sản của ông ước tính là 3,9 tỷ USD.

Ông có 3 người con, nhưng tỷ phú này cũng đã chính thức tuyên bố sẽ dành ít nhất 50% số tài sản để làm từ thiện, cứu giúp những người nghèo khổ. Ông cho biết ông muốn 3 người con học cách sống tự lập, tự tìm ra con đường làm giàu riêng chứ không dựa dẫm vào số tài sản của ông.

4. Tỷ phú Ted Turner là ông chủ của hãng tin CNN đồng thời là chủ tịch của Quỹ Tài trợ Liên Hiệp Quốc, ước tính tài sản của ông là 2,1 tỷ USD. Ông có 5 người con, nhưng đã thẳng thừng tuyên bố sẽ dành toàn bộ tài sản của mình cho từ thiện. Nghĩa là những người con của ông sẽ không nhận được bất kỳ một khoản thừa kế nào từ người cha. Ông nói: “Chúng sẽ phải tự tìm cách để đi lên đến đỉnh vinh quang”. Hiện tại, ông đang tiến hành những hoạt động từ thiện của mình. Ông tuyên bố: “Tôi quyết định sẽ cống hiến phần đời còn lại của đời mình để cố gắng cứu thế giới này”.

5. Tỷ phú Bernard Marcus, chủ tịch hãng bán lẻ Home Depot thuộc loại hàng đầu thế giới, có phương châm sống: “Muốn giàu có, hãy tự mình tìm cách biến nó thành sự thật”. Ông cũng là một trong số các tỷ phú sẽ không để lại toàn bộ tài sản cho con cái mình. Tài sản của ông ước tình là 1,5 tỷ USD.

Ông sợ rằng, với số tiền quá lớn, con cái ông sẽ sử dụng chúng không đúng cách, thế nên ông chỉ để lại cho con cái một số tiền nhỏ vừa đủ để chúng tìm cách kiếm tiền nhiều như ông mà thôi. Số tiền còn lại, ông sẽ dành để đóng góp cho ngành giáo dục và giúp đỡ những người khuyết tật.

Bài học quý giá


Lướt qua đôi dòng tiểu sử của vài tỷ phú trên đây, chúng ta có thể rút ra những bài học quý giá cho cuộc sống. Họ là những người giàu, nhưng họ có tinh thần nghèo khó, không lệ thuộc tiền bạc, không mê muội vật chất, không thoả mãn dục vọng của mình, biết kiềm chế bản thân, biết dùng tiền bạc của mình đúng cách và lợi ích cho người khác. Nói chung, họ đều là những người sống tích cực.

Người Pháp có câu: “Tiền bạc là đầy tớ tốt, nhưng lại là ông chủ xấu”. Các tỷ phú kia không coi trọng tiền bạc, chỉ coi tiền bạc là “đầy tớ”, là phương tiện sống, không lệ thuộc nó, biết “làm chủ” nó. Họ là các tỷ phú hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, nhưng họ lại có những điểm chung:

– Dạy cho con cái những bài học thực tế về giá trị cuộc sống.

– Không thừa kế nhiều tài sản cho con cái để chúng biết tự lập, không ỷ lại vào người khác.

– Dùng tài sản của mình làm việc từ thiện, chia sẻ vật chất cho những người kém may mắn hơn mình, và tích cực cống hiến để giúp ích cho đời.

Họ là những tỷ phú không chỉ giàu về vật chất mà còn giàu về lòng nhân đạo, họ cũng là những người can đảm vì không thương con theo kiểu bình thường mà theo kiểu “độc đáo” riêng của họ. Đúng vậy, thương con không đúng cách là ghét con, ghét con đúng cách là thương con. Chúng ta cứ tưởng cho con cái nhiều tiền bạc hoặc chiều chuộng con cái đủ thứ là thương chúng, nhưng thực ra chúng ta đã và đang vô tình “làm hại” chúng. Kiến thức rất quan trọng, như học giả Lê Quý Đôn nói: “Dẫu có bạc vàng trăm lượng, không bằng kinh sử một pho”.

Thực tế đã cho chúng ta thấy đã có những vĩ nhân, những người giỏi, những người nổi bật trong các lĩnh vực, những người thành danh, những người thành nhân… Họ đều là những người có “mẫu số chung” là quá khứ không suôn sẻ, thậm chí là rất nghèo khổ, nhưng họ có ý chí “vững mạnh” để vượt qua mọi trở lực và không ngừng vươn lên: Cánh diều bay lên cao vút là nhờ gió thổi ngược, gió ngược càng mạnh thì cánh diều càng vút cao. Henry J. Kaiser xác định: “Cơ hội thường ẩn mình bên dưới những trở ngại”. Quả thật, “dám” là một cách để khả dĩ thành công. Và dù cho bạn không thành công thì bạn cũng thành nhân - thành nhân quan trọng hơn thành công. Hãy nghe F. Scott Fitzgerald phân tích: “Đừng bao giờ lẫn lộn giữa hai khái niệm thất thế và bại trận”.

Tính tự lập cũng quan trọng, vì nó có thể làm cho bạn dám đứng trên chính đôi chân của mình và là bàn đạp để bạn vươn lên bằng chính nỗ lực của mình. Câu nói của vĩ nhân Gandhi thật chí lý: “Đừng lo mình không có địa vị, chỉ lo không tự lập thân nổi”.

Trầm Thiên Thu

Sự chết - mầu nhiệm tự huỷ

[caption id="attachment_3292" align="aligncenter" width="289" caption="“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”"][/caption]

Không ai muốn mình chết. Không ai muốn cho người thân yêu của mình chết sớm. Thế nhưng, điều người ta không muốn thì nó cứ đến tự nhiên, bất ngờ. Qua cái chết hình ảnh của người thân yêu chúng ta bị phai mờ dần do sự ảnh hưởng với tương quan của giác quan con người. Không dừng lại ở đây, sự chết muốn đưa con người vào một thế giới siêu việt nên cần phải thay đổi hình dạng và thay đổi bằng cách tự huỷ hoại đi. Huỷ hoại đi tới mức không còn gì nữa nơi thân xác này để có thể đột nhập vào thế giới khác, một thế giới của sự đòi phải tự huỷ nơi chính mình.

Kitô giáo có một cái nhìn tích cực về sự chết, đó là một cuộc thay đổi chứ không mất đi. Cuộc thay đổi mầu nhiệm đến nỗi người ta tưởng là bị mất đi hoàn toàn. Vì thế, phảng phất vẫn có nỗi buồn chán, thất vọng kèm theo do người ta không hiểu được tính chất mầu nhiệm của nó.

Đời sống con người thường bị giới hạn bởi cái nhìn thực tế. Cái nhìn đánh mất đi viễn tượng ngày mai và làm giảm giá trị của đức tin. Trong sự chết của người thân yêu cũng thế, chúng ta dễ dừng lại ở những giọt nước mắt tình cảm bên người quá cố. Cái nhìn thực tế sẽ không thấy được thực tại của mầu nhiệm sự chết đang dẫn đưa người ta tới đâu. Thân xác này bị huỷ hoại đi là một quy luật tất yếu của thân phận con người. Đức Giêsu cũng không thoát khỏi quy luật ấy khi phải sống trong thời gian. Nhưng “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).

Sự sống con người là cái gì rất thiêng liêng cao cả, chỉ được tách rời khỏi thế giới này chứ không bị huỷ diệt hoàn toàn. Khía cạnh huỷ hoại chỉ được áp dụng cho thực tại trước mắt người ta thấy được. Điều ấy không là toàn bộ của sự chết, nhưng người ta muốn diễn tả về một cái nhìn đầy hiện sinh. Nhưng khi nói sự chết là một mầu nhiệm tự huỷ cũng hàm chứa cả điều trên thì phải hiểu rằng nó không bị giới hạn hoàn toàn vào điều ấy mà vượt lên trên và sâu xa hơn nhiều. Đôi khi chúng ta thấy nghịch lý khi bảo rằng: chết đi để được sống đời đời, “chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”; “chết là một mối lợi”. Thực ra mầu nhiệm này đòi hỏi một sự từ bỏ đến độ phải chết đi thì mới được thay da đổi thịt như một việc đi qua cửa hẹp là một đòi hỏi của Đức Giêsu bắt người ta phải thu mình hết cỡ. Việc tự huỷ trong sự chết cũng như thế đó. Với cái tôi kềnh càng, những bám víu vật chất… khiến người ta trở nên khó khăn để đi trên con đường hẹp mà vào Nước Trời, cho nên không có cách nào khác để bỏ tất cả được bằng việc chết đi là đúng nhất. Tuy nhiên, niềm tin Kitô giáo không chỉ nhìn cuộc sống trên trần gian là một trở ngại, vướng víu trên hành trình về trời mà còn là một cơ hội rất đẹp nữa. Phải mượn lấy hình ảnh con kén chui ra khỏi tổ kén để biến thành con bướm xinh đẹp bay lượn trên bầu trời mà so sánh với điều này.

Cũng như thời gian có sức mạnh biến đổi tất cả thì sự tự huỷ trong cái chết cũng làm cho người ta được biến đổi theo một chiều hướng mới, chiều hướng của sự phục sinh. Chỉ trong việc chấp nhận tự huỷ mình đi như Đức Giêsu thì người ta mới đón nhận được sự sống mới, sự sống rất kỳ diệu đang chờ phía trước. Giả thiết phải đặt trong việc tự huỷ một sự tự do đích thực, bởi chính cái tự do đã làm nên ý nghĩa trọn vẹn của cái chết.

Ngoài quy luật tự nhiên ra, sự tự huỷ còn là điểm dừng chót của việc chọn lựa cá nhân trước ngưỡng cửa thế giới bên kia. Tính chất đòi buộc dứt khoát này tạo nên một sự gây cấn, quyết liệt bắt buộc người ta phải đánh đổi tất cả mọi giá trị nếu muốn chấp nhận tự huỷ. Thế nhưng dường như vẫn không thể không có một sự tiếc nuối với đời này khi người ta chuẩn bị nhắm mắt xuôi tay. Dư âm của những sự cám dỗ là tội lỗi vẫn ám ảnh người ta đến tận giây phút này làm cho sự tự huỷ thêm khó khăn. Song đây cũng là một ân huệ cho những người thành tâm trở về với Chúa khi biết nhận định, so sánh về thực tại trước và sau cái chết. Bởi thế, chính niềm tin là cái sẽ dạy cho người ta biết đối phó với mọi tình huống trong đời; biết đón nhận hay gạt bỏ những gì theo nấc thang giá trị đối với sự sống vĩnh cửu. Biết nhìn thấy những sự mầu nhiệm trong cái mất mát, cái đang bị huỷ hoại đi. Bởi chưng tiến trình hình thành một mầu nhiệm tự huỷ trong sự chết cần phải được trải qua từng bước, từng giai đoạn ngay trong thời gian rất sớm của con người tại thế. Có nghĩa là: sống để chuẩn bị chết! Ươm trồng, phát triển sự sống để rồi phải tự huỷ đi tất cả.

Miên man trong những dòng suy tư ấy như một cái gì khó dứt ra được giống như một cuộc tự huỷ vậy. Dù sao sự chết cũng là điều gắn bó, gần gũi với con người trong cái liên tưởng, trong cái nhìn thực tiễn. Hãy tập lấy đà cho một cuộc sống vĩnh cửu mai sau bằng những sự tập tành để tự huỷ mình trong cuộc sống hôm nay, để cái chết của chúng ta trở nên nhẹ nhàng thanh thản và bình an.

Lm. Bùi Trọng Khẩn