Hiển thị các bài đăng có nhãn hy vọng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hy vọng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Hy sinh tính mạng cho đứa con chưa sinh

[caption id="attachment_5656" align="aligncenter" width="480"] " Tình Yêu Mạnh Hơn Sự Chết"[/caption]

(Rôma, 26-6-2012, CNA) – Hàng trăm người Ý đã đến Nhà thờ Thánh Francisca Romana tại Rôma vào ngày 16-6 để tham dự Thánh lễ An táng của Chiara Corbella, một phụ nữ Công giáo qua đời sau khi trì hoãn việc điều trị ung thư để bảo vệ đứa con cô đang cưu mang.

Lúc 28 tuổi, Chiara kết hôn với Enrico Petrillo trong hạnh phúc. Họ đã phải chịu đựng sự ra đi của 2 đứa con David và Maria, qua đời vì dị tật bẩm sinh, trong những năm gần đây. Đôi vợ chồng này đã trở thành những chứng nhân nổi tiếng tại các sự kiện bảo vệ sự sống, trong đó họ chia sẻ chứng từ về ít phút ngắn ngủi họ có được với các con của mình, trước khi các bé lìa đời.

Vào năm 2010, Chiara mang thai lần thứ ba. Theo các bác sĩ thì đứa bé phát triển bình thường. Tuy nhiên, Chiara được chẩn đoán mắc bệnh ung thư ác tính và được khuyên nên bắt đầu cuộc điều trị, có thể gây nguy hiểm cho thai nhi.

Chiara đã quyết định bảo vệ em bé – có tên là Francisco – và chọn không điều trị cho đến sau khi sinh bé, chào đời ngày 30-5-2011. Bệnh ung thư của Chiara tiến triển nhanh chóng và cuối cùng cô mất thị giác một bên mắt. Sau một năm dài chiến đấu với căn bệnh, Chiara qua đời vào ngày 13-6, bên cạnh những người thân yêu, và cô tin rằng mình sẽ được đoàn tụ với 2 đứa con trên thiên đàng. “Mẹ sẽ lên thiên đàng để chăm sóc cho Maria và David, con ở lại với bố. Mẹ sẽ cầu nguyện cho con”, Chiara viết trong một lá thư để lại cho Francisco, viết 1 tuần trước khi cô qua đời.

Thánh lễ An táng được ĐHY Agostino Vallini, Tổng Đại diện của Rôma, cử hành. Ngài gợi lại Chiara là “Gianna Beretta thứ hai”, vị thánh ở thế kỷ 20, đã hy sinh tính mạng của mình trong hoàn cảnh tương tự để cứu em bé trong bụng.

Trong bài giảng lễ, Cha Vito, linh hướng của Chiara, nhắc đến Chiara như một người phụ nữ trẻ dám liều mạng sống mình, cốt để làm gương cho các phụ nữ đang mang thai khác, “một bằng chứng có thể cứu sống rất nhiều người”.

Enrico, chồng của Chiara, nói rằng anh đã trải nghiệm “một câu chuyện tình yêu trên thập giá”. Phát biểu với Đài Phát thanhVatican, anh nói rằng vợ chồng anh đã học được nơi 3 đứa con của mình rằng không có sự khác biệt giữa một cuộc sống chỉ vỏn vẹn có 30 phút hay kéo dài 100 năm. “Thật tuyệt vời khi khám phá ra tình yêu này, nó ngày càng lớn hơn nhiều khi phải đối mặt với rất nhiều vấn đề”, anh nói.

“Chúng tôi càng yêu nhau và càng yêu Chúa Giêsu nhiều hơn. Chúng tôi không bao giờ thất vọng trong tình yêu này, và vì lý do đó, chúng tôi không bao giờ bỏ lỡ thời gian, mặc dù những người xung quanh chúng tôi nói rằng “hãy chờ đợi, đừng vội có một đứa con khác”, Enrico nói.

Thế giới ngày nay cổ vũ mọi người đưa ra những lựa chọn sai lầm về hài nhi chưa được sinh ra, về người bệnh và người cao tuổi – anh lưu ý – “nhưng Chúa đáp lại bằng những câu chuyện như của chúng tôi”.

“Chúng ta muốn luận bàn về sự sống, về người tác thành nên nó, và do đó, cuối cùng, chúng ta tự làm lẫn lộn trong việc muốn trở thành người làm chủ sự sống và muốn tránh thánh giá Chúa gửi đến chúng ta”, anh nói tiếp.

“Sự thật là thánh giá này – nếu bạn vác cùng với Chúa Kitô – không đáng sợ như nó vốn có. Nếu bạn tin tưởng vào Chúa, bạn sẽ phát hiện ra rằng ngọn lửa này, thánh giá này không cháy bỏng, và bạn có thể tìm thấy sự bình an trong đau khổ và niềm vui trong cái chết”, Enrico giải thích.

“Tôi đã dành rất nhiều thời gian trong năm nay để suy gẫm cụm từ trong Tin Mừng nói rằng thánh giá Chúa trao thì êm ái và gánh thì nhẹ nhàng”. Khi nhìn Chiara lúc cô ấy hấp hối, rõ ràng tôi đã rất đau khổ. Nhưng tôi đã lấy hết sự can đảm và một vài giờ trước khi cô ấy ra đi – vào khoảng 8 giờ sáng, Chiara mất vào buổi trưa – tôi đã hỏi cô ấy.

Tôi hỏi: “Chiara thân yêu, có phải thánh giá này thật sự êm ái, như Chúa đã nói không? Cô ấy nhìn tôi và mỉm cười, và với một giọng nói nhẹ nhàng, cô ấy nói: “Đúng vậy, Enrico, nó rất êm ái”. Trong ý nghĩa này, cả gia đình không thấy Chiara ra đi một cách bình an, nhưng ra đi một cách vui vẻ, điều này khác hoàn toàn”, Ernico kể lại.

Khi con trai tôi lớn lên – anh nói thêm – tôi sẽ nói cho cậu bé biết rằng “thật đẹp biết bao khi để mình được Thiên Chúa yêu thương, bởi vì nếu con cảm nhận mình được yêu thương, thì con có thể làm được bất cứ điều gì”, và đây là “điều quan trọng nhất trong cuộc sống: để mình được yêu thương chính là để yêu thương và chết đi trong hạnh phúc”.

“Tôi sẽ nói với con trai tôi rằng đó là những gì mẹ của con, Chiara, đã làm. Chiara đã để mình được yêu thương, và trong một nghĩa nào đó, tôi nghĩ rằng cô ấy yêu thương tất cả mọi người theo cách này. Tôi cảm nhận cô ấy vẫn còn sống hơn bao giờ hết. Đối với tôi, được chứng kiến việc cô ấy ra trong hạnh phúc là một khoảnh khắc đáng nhớ cho đến chết”.



 

emty.org

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

Đụng chạm



Giữa đám đông chen lấn và sô đẩy chung quanh Ðức Giêsu, có người đã đụng vào áo Ngài. Chiếc áo của Đức Giêsu đã chạm vào bàn tay người ấy.  Đây là một cái đụng chạm cố ý, đụng chạm lén như sợ bị bắt quả tang. Ðó là cái đụng chạm của một người phụ nữ, mười hai năm mắc bệnh băng huyết, mười hai năm tìm thầy chạy thuốc mà không khỏi, mười hai năm bị xã hội coi như người ô uế tội lỗi: không được tiếp xúc với người khác, không được tham dự nghi lễ ở  Ðền thờ.

Người phụ nữ đã đụng chạm vào áo Ðức Giêsu bằng tay và bằng lòng tin của mình, một lòng tin tuy đơn sơ nhưng rất mạnh mẽ. "Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu" (Mc.5:28). Cái sờ của bàn tay đã giúp bà khỏi bệnh, cái đụng chạm của lòng tin đã cứu chữa bà.

Trong đời sống thiêng liêng, đã nhiều lần ta đụng chạm vào Đức Giêsu. Ðụng đến Lời Ngài, chạm đến Mình Máu Thánh của Ngài. Ðụng bằng tay, chạm bằng miệng, bằng rung động của con tim.

Có những lần ta đụng chạm đến Ngài một cách hời hợt vì thói quen, không để lại một âm vang nào, không đem lại một biến đổi nào trong cuộc sống. Nhưng cũng có lần, như người phụ nữ trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, ta run rẩy đụng vào Ngài, dù biết mình bất xứng, dù biết mình nhơ nhớp tội lỗi. Chính vì nhận biết mình nhơ nhớp tội lỗi mà ta “cả dám” đụng vào Ngài. Ðụng vào Ðấng Thánh để được Ngài thanh tẩy cho trong sạch, để được Ngài cứu chữa bệnh tật linh hồn và nhất là để được Ngài cho ta được thông phần tham dự vào bản tính thiêng liêng của Ngài, cho ta được trở nên giống Ngài mỗi ngày mỗi hơn.

Ta cần đụng đến Ðức Giêsu mỗi ngày và ta cũng cần được Ngài chạm đến mỗi ngày. Như ông trưởng hội đường xưa kia đã van xin Ngài đặt tay trên con gái của mình. Ngài đã đến nhà ông và đã cầm tay cô bé để kéo cô ra khỏi cái chết. Hôm nay, ta cũng cần được Chúa cầm tay ta và bảo: "Talithakum - Hãy chỗi dậy." (Mc.5:41). Chỗi dậy khỏi bệnh tật và cái chết. Chỗi dậy khỏi nhơ nhớp tội lỗi của tâm hồn. Chỗi dậy khỏi những đam mê yếu đuối của thân phận con người. Chỗi dậy và sống vui tươi, tự do như con cái Thiên Chúa.

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay tường thuật hai phép lạ xảy ra nhờ lòng tin. Ðức Giêsu xác nhận lòng tin vững vàng của người phụ nữ: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con" (Mc.5:34). Ngài cũng nâng đỡ lòng tin đang chao đảo của ông trưởng hội đường: "Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi" (Mc.5:36). Cần có lòng tin khi đụng chạm đến Đức Giêsu. Đụng chạm vào Thân Mình Ngài nơi bí tích Thánh Thể giúp ta thêm sức mạnh để bước đi trên đường đời. Đụng chạm đến Lời của Ngài nơi những trang Tin Mừng giúp ta tìm gặp chân lý, bắt gặp an bình và hy vọng…Chỉ cần để Chúa đụng chạm đến ta một lần thôi, đời ta sẽ hoàn toàn biến đổi; sẽ tràn đầy ân phúc và bình an.


Lạy Chúa Giêsu! Xin cứu giúp con, vì con là kẻ có tội…

Như người đàn bà bị bệnh băng huyết xưa kia, xin cho con được đụng chạm đến áo của Ngài.  Xin cứu chữa con khỏi đam mê yếu hèn của kiếp người.

Như em bé con ông trưởng hội đường xưa kia, xin Ngài cầm lấy tay con, nâng đỡ con và kéo con đứng dậy…Đứng dậy để giã từ con người yếu đuối tội lỗi; đứng dậy để bước đi trong tình yêu và ân sủng Ngài ban. Amen .

Tổng hợp từ R. Veritas

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Điều quý giá trong lúc khó khăn

[caption id="attachment_4782" align="aligncenter" width="400"] "Hãy nghiền nát nỗi sợ hãi và học hỏi mọi điều bạn muốn"[/caption]

Mây đen kéo đến. Đôi khi khởi đầu bằng một sự việc làm khó chịu; đôi khi mây đen ấy giáng xuống lúc những điều cực nhọc trong cuộc sống dường như quá sức chịu đựng; đôi khi nó ập đến bất thình lình mà chẳng có nguyên nhân nào rõ ràng. Thất vọng. Tuyệt vọng. Suy sụp. Đám mây đen ấy giống như một đám sương mù, lúc cao lúc thấp; lúc mờ ảo, xám xịt; có lúc lại dày đặc, tối tăm; và có lúc nó cuộn xoáy và bạn cảm thấy như mình bị hút xuống tận đáy giếng sâu tối tăm, và dường như không bao giờ có thể trồi lên để nhìn thấy ánh sáng và hít thở không khí.


Khi bạn cảm thấy mình như đang bị nhấn chìm, mất hết lòng tin, mất hết hy vọng, và có vẻ như không còn động lực nào để cố gắng…, hãy nghĩ đến mặt trời khuất phía sau đám mây hay lặn vào ban đêm. Mặc dù bạn không nhìn thấy mặt trời, và sẽ không nhìn thấy nó trong một thời gian, nhưng nó vẫn ở đó, vẫn sưởi ấm trái đất, và vẫn mang đến sự sống. Mặt trời sẽ xuất hiện trở lại. Hy vọng cũng tương tự như thế. Niềm hy vọng luôn tồn tại. Đôi khi nó ẩn phía sau những đám mây của thất vọng, nhưng nó không biến mất.

Lòng tin vào Chúa là nguồn quan trọng của hy vọng, đó chính là điều bí ẩn nơi khả năng tinh thần của nhân loại để tìm thấy hạnh phúc. Luôn có một tia sáng, một tia yêu thương và một tia hy vọng xuất hiện và chiếu sáng trên chúng ta, những con cái Chúa. Đôi khi, bạn không thể nhìn thấy bởi vì bạn đang nhìn xuống. Có những lúc có thể bạn không thể nhìn thấy, bởi vì những đám mây đen đang giăng xuống và che khuất niềm hy vọng. Nhưng niềm hy vọng luôn tồn tại. Bạn có thể luôn an tâm rằng bạn sẽ lại nhìn thấy nó.

Bạn cũng có thể học nhận biết khi mấy đen kéo đến, và bạn có thể học biết để nhờ vào quyền năng và Thần Khí Chúa đẩy lùi nó. Mây đen luôn kéo đến vây quanh bạn, che rợp bạn, nhưng chúng không nhất thiết nhấn chìm và vây quanh lấy bạn. Nếu bạn cầu xin sự giúp đỡ của Chúa - cầu xin sự an ủi, hy vọng và lòng tin - bạn có thể đẩy lùi những đám mây đen của thất vọng và chán nản. Chúa không để bạn phải một mình: Ngài sẽ đến với bạn (x. Ga 14,18).

Hãy bám chặt vào Chúa. Hãy bám chặt vào lòng tin. Hãy bám chặt vào niềm hy vọng. Đừng buông tay, nếu không bạn sẽ bị nhấn chìm bởi sự tối tăm. Tuy nhiên, ngay cả khi bạn đang bị nhấn chìm, hãy nhớ rằng mặt trời lại sẽ mọc lên mỗi buổi sớm mai và niềm hy vọng sẽ luôn quay trở lại với tâm hồn tìm kiếm nó. “Chúng ta có niềm hy vọng đó cũng tựa như cái neo chắc chắn vào bên trong bức màn cung thánh” (Dt 6,19).

Luôn có một sức mạnh nâng bạn lên, động viên bạn, mang đến cho bạn một cái nhìn tích cực hơn về cuộc sống, sức mạnh ấy mạnh mẽ hơn tất cả những sức mạnh đang cố kéo bạn xuống.

Thất vọng chính là một hố sâu tối tăm đe doạ nuốt lấy niềm vui của bạn vào cuộc sống. Sự tiêu cực giống như viên nam châm hút lấy bạn vào trong chiếc hố sâu. Nhưng Chúa của chúng ta mạnh hơn bất cứ sức mạnh nào. Ngài chính là niềm vui xua tan mọi muộn phiền. Ngài chính là ánh sáng đẩy lùi mọi bóng tối. Ngài chính là hy vọng vượt lên trên mọi thất vọng. Ngài chính là bình an chế ngự mọi nỗi sợ hãi vây quanh bạn.

Hãy luôn suy nghĩ điều tích cực. Nếu bạn nhận thấy bản thân đang suy nghĩ tiêu cực, hãy cố thay thế nó bằng suy nghĩ nào đó tích cực. Việc này ban đầu sẽ không dễ dàng, bởi vì khi sự tiêu cực bủa vây bạn, bạn rất khó để tìm thấy bất cứ điều gì tốt đẹp nơi cuộc sống, nơi hoàn cảnh của bạn, hoặc thậm chí là tương lai của bạn. Hãy nghĩ đến việc bạn đang sống trong một mỏ than sâu và tối. Cuộc sống dường như tuyệt vọng, nhưng phía sâu bên trong là những viên đá quý vô cùng giá trị.

Khi bạn bị nhấn chìm trong sự tối tăm của hoàn cảnh, hãy nghĩ mình như một người thợ mỏ. Hãy đào sâu những bức tường và tìm kiếm những viên đá lấp lánh - những điều tích cực. Kinh Thánh nói đến những điều quý giá trong những lúc tối tăm: “Ta sẽ ban tặng ngươi những kho tàng bí ẩn, những bảo vật giấu kín, để ngươi biết Ta là Đức Chúa” (Is 45,3).

Bạn sẽ tìm thấy được sự quyết tâm để khám phá niềm vui trong nỗi buồn, niềm hạnh phúc trong đau khổ, và ý chí của bạn sẽ thay thế những suy nghĩ tiêu cực bằng những suy nghĩ tích cực, là chìa khoá mang đến cho bạn sự bình an và thanh thản. Những suy nghĩ tích cực chính là “những điều quý giá trong lúc tối tăm” và là “những báu vật được cất giấu nơi bí mật”.

Rất dễ dàng hạnh phúc và vui vẻ khi mọi việc diễn ra êm xuôi. Khi bạn khoẻ mạnh, có những người yêu thương bên cạnh và đang trong hoàn cảnh tốt đẹp, không khó khăn gì để giữ tâm trạng vui vẻ và suy nghĩ tích cực. Nhưng khi bạn có thể nhìn thấy một luồng ánh sáng của sự việc trong khi mọi thứ quanh bạn dường như mù mịt và tối tăm, khi bạn có thể tìm thấy những viên kim cương và những viên đá quý giữa những tảng than đen xì, thì đó chính là lúc bạn chứng tỏ được sức mạnh nơi mình.

Bạn chính là người thắng cuộc khi bạn học biết cách chuyển xấu thành tốt, chuyển buồn phiền thành niềm vui, biến thất vọng thành hy vọng thông qua sức mạnh của những suy nghĩ tích cực, của lòng tin và của niềm trông cậy vào Chúa. Bạn sẽ không thực hiện điều ấy một mình, bởi vì Chúa sẽ giúp bạn.

Thiên Ân

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Vác Đỡ Thánh Giá Chúa

[caption id="attachment_3823" align="aligncenter" width="480" caption="“Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”"][/caption]

Vào Tuần Thánh với Lễ Lá, Bài Thương Khó đã kể lại cho chúng ta nghe về Con Một Thiên Chúa mang thân phận con người với tên Giêsu. Ngài đã cô đơn đổ mồ hôi máu trong Vườn Cây Dầu như bị bỏ rơi, chấp nhận hoá thân mình nên thần lương cho nhân loại, bị chính môn đệ phản bội nộp thầy cho quân dữ, bị đứng trước vành móng ngựa, nghe bản cáo trạng hàm oan, rồi lại nghe tuyên án tử hình, chịu vác thập giá, đánh đòn, đội mão gai, té ngã trên đường lên Núi Sọ, và cuối cùng, chịu đóng đinh và chết thật.

Đó là cái giá phải trả để chuộc lại tội bội phản của tổ tông loài người. Cụ thể hơn, chỉ có hy tế thập giá của Chúa Giêsu mới là lễ dâng đẹp ý Thiên Chúa Cha, để nhờ án tử hình của Chúa Giêsu mà Thiên Chúa Cha xóa đi bản án tử hình đời đời cho con người.

Tham dự vào cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu với lòng biết ơn Người đã mang lại cho chúng ta niềm hy vọng được tham dự vào cuộc sống vĩnh cửu của Thiên Chúa, nhờ lòng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa Cha.

Có người đặt vấn đề khá thời sự rằng: Chúa Giêsu đã chịu thương khó, đã chết và sống lại 2.000 năm rồi. Chúng ta đang nghe việc thuật lại như một chuyện kể, một cổ tích. Làm sao chúng ta có thể lại bước đi trên Đường Thương Khó với Chúa Giêsu nữa?!? Thật mơ hồ.

Tôi đồng ý với bạn rằng: chúng ta không tận mắt thấy Chúa Giêsu đổ mồ hôi máu trong đêm Vườn Dầu. Nhưng thiết tưởng, chúng ta có thể thấy rất cụ thể từng nếp nhăn cằn cỗi trên khuôn mặt của những Chủ Chiên ngày qua ngày phải đối phó với bầy quân dữ của Satan đang rình mò cắn xé Giáo Hội là Thân Thể Chúa Giêsu Kitô. Xin đừng nghĩ là các Chủ Chiên đang vô tư, vô tình, vô cảm trước những bức bách mang tính chủ trương và toàn diện đang xảy ra trong và cho Giáo Hội địa phương của mình. Nhưng nên nghĩ là các ngài đang đổ mồ hôi máu mà thưa với Chúa Cha rằng: “Lạy Cha nếu có thể được, thì xin cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, một theo ý Cha mà thôi”. 

Những chủ chiên ấy, không chỉ là những giám mục, linh mục, mà cụ thể hơn là bạn, là tôi, là tất cả những người làm ông bà, cha mẹ, anh chị đang mang trong mình trọng trách bảo vệ Đức Tin cho những thành viên non trẻ của mình trước những trận cuồng phong duy vật, vô thần, vô cảm, vô nhân đạo, vô lương tâm, vô luân lý.

Một người bạn tôi, đã từng là đại chủng sinh Giáo hoàng Học viện Đà Lạt, từng Giáo lý viên dự tòng và hôn nhân nhiều năm liền tại giáo xứ của mình, hôm nay, thầy lại đành bó tay, đành cắn răng chờ xem người con rể tương lai vốn con nhà cộng sản kia định liệu thế nào cho số phận con gái mình khi đã trót “ăn cơm trước kẻng”: có thể là nó chịu theo Đạo để cưới vợ, cũng có thể là nó bảo Đạo ai nấy giữ, rồi cũng có thể là nó xúi dại con gái mình phá cái thai ấy đi. Thật là đau khổ! Thế rồi, đúng là nhà ông sui của thầy đã ép thằng nhỏ phải bắt con gái thầy phá thai. Hai vợ chồng thầy đau khổ lắm. Đêm đêm bên ngọn đèn dầu thầm thĩ kêu van xin Chúa sáng soi cho con gái mình biết đường mà tuân giữ lề luật của Chúa.

Tôi vẫn nghĩ là sự chọn lựa để bảo vệ Đức Tin, để trung thành với lề luật Chúa, để tuân hành thánh ý Chúa cũng làm cho người yêu mến Chúa đến phải đổ mồ hôi máu như Chúa vậy. 

Một cha giải tội cho một hối nhân thường xuyên, lần nào xưng tội cũng bấy nhiêu tội tày trời ấy, có khi còn nặng nề hơn. Cha vừa nghe tội vừa khẩn khoản tha thiết kêu xin lòng thương xót Chúa đến độ vã cả mồ hôi, lạnh ớn người ngay trong toà giải tội.

Những người đau đầu nhất, đang đổ mồ hôi máu nhất hiện nay có phải là những giám mục, linh mục, những chủ chiên đang “lựa chiều bẻ lái” cho con chiên của mình một cách ứng xử Công giáo nhất trước tình trạng thế quyền quá lộng quyền đối với Sự Sống con người hiện nay. Nếu con người thời bây giờ biết rằng: vài chục năm trước đã có chủ trương phá thai cách toàn diện, cấp quốc gia như thế, thì hẳn đã không thể còn có chính họ hiện diện trên đời ngày hôm nay để chủ trương phá thai nữa. Là những người bảo vệ Đức Tin Công giáo, làm chứng cho Chân Lý của Thiên Chúa, nối tiếp công cuộc Sáng Tạo và Cứu Rỗi của Thiên Chúa, không đổ mồ hôi máu được sao? 

Cũng vậy, chúng ta không thấy cảnh Chúa Giêsu bị bắt bớ, không tham dự phiên toà xét xử Chúa Giêsu, không thấy những vết bầm tím trên thân mình Chúa Giêsu khi bị quân dữ đánh đòn, không thấy Chúa Giêsu vác thập giá, ngã lên ngã xuống trên đường lên đồi cao chịu chết, hoặc nếu có thấy, thì thiết tưởng, cũng chỉ là thấy qua những bản vẽ do các hoạ sĩ. 

Thế nhưng chúng ta có thể thấy được tận mắt các tín hữu của Chúa đang bị bắt bớ giam cầm tra tấn khắp nơi nơi đấy chứ? Nhất là, trong thời đại truyền thông này, thì tin tức về những chuyện bắt oan các tín hữu, bỏ tù gian, ném đá giấu tay, hay mượn tay người gây thương tích cho các linh mục trên đường mục vụ đều có thể truyền đi nhanh như chớp, làm sao mà lấy “thúng úp voi được”? Ấy vậy, những chuyện “quả tang”, “công khai” tra tấn những người theo Chúa Kitô trong Giáo hội Chúa Kitô đang diễn ra hằng ngày khắp nơi và cả trên đất nước chúng ta, mà chúng ta nói rằng chúng ta không tham dự được với Thập Giá Chúa Kitô sao?

Tại nơi chúng ta đang sống, Chúa Giêsu vẫn đang bị bán đứng với giá 30 đồng bạc, có khi ít hơn chỉ vài đồng, hoặc chỉ cần là sự đổi chác một chỗ ngồi, chỗ đứng cho vinh thân phì gia. Chúa Giêsu vẫn đang chịu bao lời phỉ báng, bôi nhọ, hạ nhục. Chúa Giêsu vẫn đang bị bắt bớ giam cầm, đánh đập tra tấn, đổ máu và cả mất mạng nữa. Vâng cuộc Thương Khó Chúa Giêsu đang hiển hiện nơi các tín hữu Chúa.

Như vậy, tín hữu Công giáo Việt Nam vào cuộc Thương Khó với Chúa Giêsu không chỉ là những giờ ngắm rằng, ngắm đứng, ngắm quỳ sốt sắng đến rơi lệ, không chỉ là những vành khăn tang trắng xoá quấn trên đầu suốt Tuần Thánh, không chỉ là những cử hành Phụng vụ long trọng trong thánh đường, không chỉ là những việc chay tịnh sám hối chỉ với Chúa, mà thiết tưởng còn phải cụ thể hơn là: khẩn cấp nhận ra và tham dự vào nỗi lo, niềm đau của các chủ chiên, của các tín hữu khắp nơi trên đất nước. 

Là con cái trong nhà, xin dâng những hy sinh và vác đỡ Thánh Giá cho cha mẹ mình trong việc lo cái ăn, cái mặc, cái học và nhất là trong việc bảo vệ đời sống Đức Tin trước những nguy cơ. Là con chiên trong một đoàn chiên Giáo Hội, xin dâng những hy sinh và vác đỡ Thánh Giá cho những Chủ Chiên, những tín hữu đang gặp bức bách, giam cầm, tra tấn. Là tín hữu Công giáo trong xã hội, xin dâng những hy sinh và chia sẻ niềm đau thương của mọi người, niềm đau do gian ác, bất công, đàn áp, niềm đau của bệnh hoạn tật nguyền, niềm đau của những mảnh đời nghiệt ngã không ai giống ai…

Đang viết bài này, tôi nhận được cú điện thoại của chị H., có người chồng 15 năm bại liệt, mọi sinh hoạt tại chỗ, con trai lớn cột sống dính khớp 9 năm nay cũng nằm luôn một chỗ cho chị H. lo lắng, con trai thứ có vợ tận Cà Mau, con gái út vừa đi học đi làm ở Sài Gòn, nhà mái tôn rách nát. Mùa mưa tới rồi, chẳng biết tính sao? Tôi có thể trả lời rằng trong cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu đâu thấy có cảnh bại liệt hay dính khớp cột sống để từ chối một cảm thông được không?

Tôi bỗng nghe tiếng lòng nhắc bảo: xin đừng vừa sốt sắng tham dự Phụng vụ cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu lại vừa dửng dưng vô tâm trước cảnh thương khó của biết bao người.

Lạy Chúa, Thánh Phanxicô đã thưa: “Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”. Xin cho chúng con cũng nhận ra Chúa Giêsu đang đau buồn, thương tích, bị nhục mạ, bắt bớ, giam cầm, đánh đập nơi những anh chị em chúng con, và cho chúng con nhiệt tình vác đỡ Thánh Giá của anh em, như vác đỡ Thánh Giá Chúa Giêsu vậy. Amen.

PM. Cao Huy Hoàng

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Tử Nạn

[caption id="attachment_3778" align="aligncenter" width="450" caption="“Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả, cho đi tất cả” (1 Cr 13,7)."][/caption]

Câu chuyện bắt đầu từ một câu hỏi của cô bé tuổi mười lăm: Cha ơi, sao Chúa không chọn cách khác để cứu độ nhân loại, có nhiều cách mà phải không cha?

Đúng là có nhiều cách Chúa cứu độ nhân loại, tại sao Chúa lại chọn cách nhập thể làm người rồi đón nhận cái chết trên thập giá. Chúng ta có thể hỏi nhiều câu hỏi tại sao, tại sao như thế, nhưng chúng ta có thể tự hỏi lại mình, tại sao Chúa lại chọn cách thức như thế cho chính chúng ta? Một tình yêu điên rồ và cũng là một tình yêu tinh tuyền.

Điên rồ vì tình yêu

Nếu như một người cha mẹ biết được rằng con mình bị bọn tống tiền bắt cóc, điều cha mẹ của bé ấy sẽ làm gì? Trả bất cứ giá nào cho bọn tống tiền để chuộc con? Dĩ nhiên, nhưng bọn tống tiền đòi giá đắt hơn, đòi chính mạng sống của người cha mẹ phải chết để đứa con tự do, người cha mẹ nếu yêu con hơn mạng sống mình sẽ làm gì? Dĩ nhiên, vì mạng sống con mình cũng chấp nhận, chấp nhận tất cả để chuộc lại tự do cho con cái.

Tình yêu có phải sự điên rồ? Phải, có khi tình yêu thôi thúc đến không còn lý trí, nhưng Tình Yêu Thiên chúa không là mất trí mà là “hết linh hồn hết trí khôn, hết sức”. Một tình yêu tuyệt đối là một tình yêu cho đi tất cả. Chính vì trao đi tất cả nên: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Một tình yêu điên rồ có thể thấy ở đâu đó trong cuộc đời này, một phần nào diễn tả: khi người mẹ chỉ mong chết thay cho con, một người cha hy sinh mạng sống mình để cứu con, khi người anh, chị em sẵn sàng trao tặng cho nhau một phần thân thể.

Cái điên rồ vì tình yêu Thiên Chúa thật khó diễn tả hơn, làm sao có thể yêu thương, đến nỗi chấp nhận mọi sỉ nhục, roi đòn, trong khi chính Người có đủ sức mạnh hay quyền phép để cứu Con ra khỏi. Như người cha, mẹ bán cả gia tài để chữa trị cho con, dùng mọi sự quen biết để cứu con, tại sao không? Chúa Cha thinh lặng nhìn Con chịu roi đòn, sỉ nhục, chịu chết dưới tay người đời? Vậy mới thấy tình yêu đích thực là một tình yêu: “Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả, cho đi tất cả” (1 Cr 13,7).

Một tình yêu tinh tuyền


Tình yêu tinh tuyền diễn tả bằng sự nhẫn nại. Trong văn hoá “fast food”, cái gì người ta cũng muốn giải quyết nhanh chóng, nhanh chóng giải quyết vấn đề xung đột bằng chiến tranh, bạo lực, bắt bớ...; những căn bệnh lâu dài người ta chỉ mong giải quyết nhanh bằng cách “an tử”; những đau khổ tâm hồn đến cùng cực người ta giải quyết bằng “tự tử”; không chấp nhận hôn nhân bế tắc và chọn giải quyết nhanh, ly dị... Văn hoá “fast food” cũng đi vào hành vi thường nhật, nó cho thấy cái trẻ con trong con người trưởng thành, khi người ta hờn giận, ghen ghét... Một tình yêu tinh tuyền bao giờ cũng đòi nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ.

Tình yêu tinh tuyền diễn tả bằng hành động tích cực. Chúa Giêsu, trên thập giá đón nhận bao sự khinh miệt, roi đòn, xúc phạm, và kể cả chịu đóng đinh, vẫn một lời: “Xin tha cho chúng”. Tình yêu tinh tuyền là tình yêu chiến thắng các xúc cảm: giận, oán, ghét, thù hận... Kiên vững trong yêu thương, nghĩ tích cực về kẻ đang làm hại mình, Chúa Giêsu đã cho rằng những người đang giết chết Người họ hành động vì họ đã không biết. Chính trong suy nghĩ tích cực này mà lòng khoan dung được bồi thêm và tình yêu tha thứ được tỏ bày.

Tình yêu tinh tuyền là tình yêu cả kẻ thù. Trong 8 câu kệ luyện tâm của Langri Thangpa, người Tây Tạng vào thế kỷ 11 viết:

Mỗi khi tôi hợp tác với ai, ước gì tôi nghĩ về mình như kẻ thấp kém nhất và coi người khác tôn quý tự đáy lòng tôi.

Khi tôi thấy người ta ác tâm, bị dồn ép bởi tội lỗi, bạo lực và hoạn nạn. Ước gì tôi được ôm lấy những con người đáng quý ấy như gặp được một kho báu.

Khi người khác do ghen tỵ, ngược đãi tôi bằng nhục hình, phỉ báng và những điều tương tự. Ước gì tôi chấp nhận thua thiệt để dâng chiến thắng cho những họ.

Khi có người mà tôi giúp đỡ lại làm tôi tổn thương đau đớn. Ước gì tôi xem người ấy như vị thầy của mình”.

Những lời ước nguyện trong câu kệ này cũng cho thấy hoạ lại đều răn mới của Chúa: “Yêu thương nhau như chính Thầy yêu thương anh em” (Ga 15,12). Một tình yêu tinh tuyền là ôm lấy hết tội nhân, gánh hết tội đời, để chuộc tội và để tha thứ: “Để cứu chúng ta thoát khỏi cõi đời xấu xa hiện tại, Đức Giêsu Kitô đã tự hiến vì tội lỗi chúng ta” (Gl 1,4).

Tình yêu điên rồ là kết quả của một tình yêu tinh tuyền không tỳ vết. Thiên Chúa yêu thế nhân đến tận cùng vì một điều đơn giản: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8) và tình yêu đó được bày tỏ: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,16-17).

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

Sự chết - Một điểm hẹn của tình yêu

[caption id="attachment_3585" align="aligncenter" width="450" caption="Khi bạn sinh ra đời, bạn khóc còn mọi người xung quanh cười. Hãy sống sao cho khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn cười."][/caption]

Người ta sinh ra trong đời bằng một tiếng khóc do chính người được sinh ra cất lên. Tiếng khóc chào đời báo hiệu một niềm vui vì một sự sống mới đi vào trần thế. Nhưng khi người ta giã từ trần gian, lúc mà không tự mình khóc được thì bao nhiêu người khác sẽ khóc thay cho họ. Người ta khóc thay cho một tình yêu đã không còn hiện hữu trên trần gian này nữa. Có lẽ đây là tiếng khóc da diết, thảm sầu nhất. Thế nhưng, dường như chính sự chết đã quy tụ người ta lại trong tiếng khóc, và chính tiếng khóc này là điểm gặp gỡ của tình yêu tha nhân.

Ngẫu nhiên, sự chết tạo nên một tình cảm sâu lắng trong lòng người để diễn tả thành một thứ tình yêu nào đó. Tình yêu của sự nhớ thương. Tình yêu của sự tiếc nuối. Tình yêu của sự chia ly. Tình yêu của sự liên đới… Như một quy luật vang dội trong lòng người nơi một điểm hẹn là giây phút cuối đời tạo nên một cảm giác rất đặc biệt. Chính sự chết của người thân yêu chúng ta muốn bộc lộ ra một mạc khải về tình yêu của trời cao mà chỉ có Thiên Chúa mới ban phát được điều này. Không cảm nghiệm được khía cạnh này của tình yêu bao nhiêu là do người ta không biết vượt lên trên, vượt ra ngoài thực tại của sự chết; hoặc coi nhẹ những lời an ủi, khích lệ.

Con người luôn cần một nhu cầu là chia sẻ. Thực chất của vấn đề này là tình yêu. Khi người ta chết thì nhu cầu tự chia sẻ không còn nữa nhưng người chết lại trở thành nguyên nhân của tình yêu, trở thành điểm gặp gỡ của tình yêu con người và Thiên Chúa. Thông thường lúc chết, người ta được mọi người quan tâm và yêu thương hơn lúc nào hết. Đối với Thiên Chúa, một tình yêu tuyệt đối sẽ muốn gặp gỡ người đã chết như một sự đón nhận tất cả trong vòng tay yêu thương của Ngài, bởi vì đứa con ấy nay đã trở về với tất cả con người thực của mình làm Thiên Chúa phải reo lên:  “Con Ta đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.

Chính sự mong manh của phận người cộng với sự bất ngờ của giây phút tắt thở là lý do để Thiên Chúa bộc lộ tình thương của Ngài. Nếu như người ta còn biết thông cảm cho những thiếu sót, những lỡ hẹn của nhau thì Thiên Chúa là Đấng nhân từ sao lại có thể chấp nhất chúng ta điều ấy được. Chúa đã chẳng dạy Phêrô rằng phải tha bảy mươi lần bảy đó sao?

Tính đột ngột của cái chết sẽ gây nên một sự “chấn động” kinh khủng cho Thiên Chúa khi biết đứa con mình đã không còn nữa, sẽ làm Ngài xúc động mãnh liệt nên bắt buộc phải yêu thương. Giống như khi chúng ta được tin người thân qua đời bất ngờ sẽ ra sao? Hẳn đây là sự suy diễn theo kiểu con người trần thế nhưng nó vẫn hàm chứa một mạc khải về tình thương của Thiên Chúa có tính cách “như nhân”. Dĩ nhiên đối với Thiên Chúa thì không có điều gì là bất ngờ, không có điều gì khiến cho Ngài phải hoang mang. Sự sống và sự chết của con người nằm ở trong tay Ngài. Vận mạng chúng ta do Ngài nắm giữ. Vậy thì chính những biến cố và sự kiện sẽ nảy sinh ra tình yêu cũng là do Thiên Chúa điều khiển. Tính bất ngờ của sự chết nơi người thân yêu của chúng ta do Thiên Chúa an bài để từ đó tạo ra những xúc cảm, những bác ái, yêu thương ở nhiều mức độ khác nhau tuỳ theo sự liên đới giữa người sống và kẻ chết. Như vậy, cái chết là một thực tại có dáng vẻ buồn nhưng lại rất cần thiết làm cho các mối tương giao về tình thương yêu được thể hiện rõ ràng hơn.

Hàm chứa trong nỗi đau thương mất mát qua sự chết có rất nhiều điều mà người ta cứ tưởng rằng đó là sự qua đi vĩnh viễn nhưng chỉ có con mắt đức tin mới nhận ra được sức sống đang hình thành nơi hạt lúa mì vừa được gieo vào lòng đất. Tình yêu thương cũng có lúc ẩn lúc hiện như thế. Đôi khi không cần qua những dấu hiệu, thế mà lại diễn tả được một nội dung thật đầy đủ. Đôi khi không cần sự ồn ào náo nhiệt bên ngoài nhưng lại có sức lay động nơi những gì là sâu thẳm thiêng liêng nhất trong con người ta. Chỉ cần nhìn vào biến cố phục sinh của Đức Giêsu Kitô thì hiểu rõ điều này. Giây phút Ngài phục sinh nào ai biết, cũng không ai nghe thấy âm thanh rung chuyển nơi khu vực quanh mộ Ngài, nhưng lại có một sức mạnh ghê gớm làm lay động và biến đổi tất cả thế giới và con người.

Có lẽ phần nào mỗi người chúng ta cũng đang cảm nghiệm được một chút lay động nơi con người mình khi đến bên người chết. Chỉ có tình yêu mới giải thích giúp ta. Chỉ có nội tâm mới giúp ta gặp gỡ được người chết. Chỉ có niềm tin mới đưa  ta vào mối hiệp thông thiêng liêng, chứ không phải là tiếng than van, nghẹn ngào rên rỉ hay những nghi thức bề ngoài. Nó chỉ diễn tả được phần nào của chiều kích hiệp thông giữa con người với nhau mà thôi.

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

Sự Chết - Ơn Cứu Độ và Phục Sinh

[caption id="attachment_3348" align="aligncenter" width="504" caption="“Không phải thế đâu, nếu các ông không sám hối thì cũng sẽ chết hết như vậy” (Lc 13,3)"][/caption]

Nhờ cái chết của Người,
Người đã tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết,
Tức là ma quỷ
Và đã giải thoát những ai vì sợ chết
Mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ.


(Dt 2,14-15)


 Sự chết vẫn là ẩn số trong cuộc đời, làm nhức nhối trái tim con người. Đối với người vô thần, chết là hết, không còn gì để bàn cải. Nhưng đối với những kẻ tin, chết là một khởi đầu cho đời sống mới.

Có người nói với tôi: “Chị bảo Chúa thương tôi? Chúa thương sao không cứu con tôi, để nó chết khiến tôi đau khổ thế này! Vậy, một là chị nói láo: Chúa không thương tôi mà chị bảo có; hai là… không có Chúa!”. Sự mất mát người thân yêu là một đau khổ tột cùng, đến độ làm người ta buồn chán, thất vọng mà trách móc, hờn giận cả Chúa nữa. Tâm lý ấy bình thường nơi một người chịu tang, nên thời gian cư tang cần có những cảm thông, an ủi, nâng đỡ tinh thần từ những người chung quanh, thân nhân hay bằng hữu, để giúp họ chịu đựng nỗi đau lớn lao, và cùng cầu xin Chúa giúp họ vượt qua những đau khổ của kiếp người giới hạn, dần dà tìm lại được bình tâm.

Có người cho tội là nguyên nhân gây ra cái chết, nên những nạn nhân xấu số thường bị cho là chịu án phạt do tội lỗi của họ. Nhưng đối với Chúa Giêsu thì không phải thế. “Không phải thế đâu, nếu các ông không sám hối thì cũng sẽ chết hết như vậy” (Lc 13,3), khi Ngài nói về những câu chuyện có thật xãy ra trong thời Ngài tại thế. Giữa tội và sự chết, Đức Giêsu đã nhắc đến 2 lần chữ Sám Hối (x. Lc 13,1-5), như một đáp án cho cả hai tiền đề Tội Lỗi và Sự Chết. Đức Giêsu nói vậy vì chính Ngài, Đấng là Chiên Thiên Chúa, đã biết rõ chương trình Cứu Chuộc do chính Ngài thực hiện để cứu nhân loại.

Mùa Chay, Sám Hối luôn luôn là đề tài chính, được nhắc lại trong suốt hành trình 40 ngày chuẩn bị vào Tuần Thánh, cao điểm là cái chết tủi nhục đau thương của Chúa Giêsu trên Thập Giá. Tương quan giữa tội lỗi, sự chết và lời kêu gọi hoán cải của Đức Kitô được trình thuật khéo léo, dẫn con người nhận ra Tình Thương bàng bạc của Thiên Chúa dành cho họ trong mọi hoàn cảnh, kể cả nghịch cảnh đen tối nhứt như sự chết, mà Ngài dám lảnh nhận để giải thoát con người. Thiên Chúa không bao giờ hời hợt, việc Chúa làm luôn luôn là một thách đố thẳm sâu cho những ai thiết tha kiếm tìm Chân Lý.

Cuộc đời Đấng Cứu Thế là lời rao giảng sâu sắc nhất, vừa là lời mời gọi, vừa là chứng tá cho Tình Yêu Thiên Chúa, giúp con người nhận ra Chúa là Cha, để trở về sống trong Tình Yêu Thương của Ngài. Có lẽ hành trình Sám Hối không cần phải đặt ra nếu chỉ duy nhất có một Thiên Chúa đầy yêu thương hiện hữu. Người ta chỉ sám hối nếu nhận biết mình sai lạc khi nhận định được đúng sai, tốt xấu, lành dữ. Rõ ràng, Sự Dữ là một hữu thể có thật phải có, đối nghịch với Thiên Chúa, Đấng Thiện Hảo, trong lựa chọn của con người.

Ma quỷ xuất hiện rất sớm trong hiện hữu của con người. Sự hiện diện của nó tàng ẩn dưới nhiều hình thức, con người khó nhận ra cho đến khi Đức Kitô xuất hiện. Ngay từ khởi điểm của chương trình Cứu Độ, chính Chúa Giêsu đã làm lộ diện khuôn mặt nham hiểm, độc ác của tên thủ lĩnh thế gian, luôn luôn muốn con người chối bỏ Thiên Chúa để chỉ tôn thờ nó. Phần lợi trước mắt ma quỷ hứa cho những ai theo nó là của cải, quyền hành và danh vọng thế gian, nhưng đã quủ quyệt giấu đi hậu quả về sau là sự huỷ diệt con người. Thiên Chúa là Sự Sống, thì kẻ đối nghịch với Chúa là Sự Huỷ Diệt lớn lao; duy chỉ có Đức Kitô nhìn thấy sự gian trá của nó, Ngài đã quyết liệt đối đầu cho đến giờ phút cuối cùng trên Thập Giá. Thiên Chúa đã dùng chính cái chết của Chúa Giêsu để tiêu diệt Sự Chết lớn lao của kẻ đối nghịch cùng Thiên Chúa.

Tội lỗi xuất hiện cùng thời với ma quỷ, như một xác định không có ma quỷ thì không có tội lỗi. Tội lỗi không phải là căn nguyên gây ra Sự Chết. Chính ma quỷ cũng xác nhận điều đó khi nó nói với ông bà nguyên tổ: Không chết chóc đâu mà sợ! Nhưng tội lỗi là một khế ước vô hình, bất thành văn, mà ma quỷ đã quỷ quyệt giấu đi, khi con người do ngu muội đã (và vẫn đang) ký kết để trở thành nô lệ của nó. Bằng dối gạt ban đầu, ma quỷ đã mở cho con người một con đường khác, con đường nô lệ cho thế gian, đưa nhân loại vào Sự Chết lớn lao, mà ngày nay càng ngày người ta càng nhận rõ qua những biến cố khắp nơi trong thế giới này, hòng nhận chìm con người vào đường huỷ diệt. Người ta không lo giải nguy trước hiểm hoạ thiên nhiên gieo thiên tai khắp nơi, người ta chỉ lo làm giàu, ẩn nấp dưới hình thức kinh tế. Giàu sang đang trở thành tai hoạ cho con người mà ai cũng muốn chạy theo, không còn biết hậu quả sẽ đưa nhân loại về đâu.

Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế, đã đến để đem con người về Sự Sống thật trong Thiên Chúa, nên đường Ngài đi là con đường hoàn toàn đối nghịch với thế gian, để cứu sống con người, tất cả mọi người. Thiên Chúa biết rất rõ con người là những thụ tạo yếu đuối, nên tội lỗi là điếu ắt có nơi con người, là điều không phải Ngài quan tâm. Tội con có đỏ như son, Ta cũng làm nó trắng như tuyết, nếu con người tùng phục Thiên Chúa. Và chính vì yếu đuối, con người thành đáng thương trước mặt Chúa, căn nguyên của Ơn Cứu Độ. Thiên Chúa luôn luôn tha thứ cho những lỗi lầm của chúng ta, dù lầm lỗi đó to lớn ra sao vì Ngài là Tình Yêu tuyệt đối. Cũng chính từ Tình Yêu tuyệt đối đó, tự do được phát sinh. Một câu hỏi được đặt ra: Chúa ở đâu khi người ta phạm tội, nếu Chúa biết tội lỗi làm hại đến con người như vậy sao Ngài không ngăn chặn nó? Ngài đã lặng thinh, xem chừng bỏ mặc con người cho tội lỗi? Ôi Tự Do, quyền đáng sợ Chúa đã ban cho loài người, quyền của tiêu diệt mà cũng là quyền để cứu sống, trái cấm Tội Lỗi được sử dụng trong Tự Do nên biết Dữ biết Lành, ma quỷ đã khéo léo sử dụng để tiêu diệt con người. Khi phạm tội, con người ngu muội đã lầm lẫn sử dụng Tự Do, “chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,34), để ký kết một khế ước vô hình bất thành văn mà trở thành nô lệ cho ma quỷ. Họ đã không biết với khế ước này, họ đã chọn ông chủ khác có tên là Huỷ Diệt, kẻ đối nghịch cùng Thiên Chúa Sự Sống, giao ước đó đem họ đến Sự Chết.

Khế ước Sự Chết đã thành lập bằng Tự Do thì muốn huỷ bỏ nó, con người phải tự mình quyết định cũng trong Tự Do mà một Thiên Chúa quyền năng vẫn không can thiệp, Ngài chỉ bảo đảm với con người Ơn Thứ Tha tuyệt đối, qua Thánh Giá Chúa Kitô, một mai con người trở về với Thiên Chúa. Con người đã ấu trĩ khi sử dụng Tự Do, thì chính quá trình chọn lựa Chúa hay Kẻ Đối Nghịch với Chúa trong Tự Do, con người nên trưởng thành. Nét đẹp của Hoán Cải là đây, mà phép Giải Tội đã thực hiện rõ ràng nhất, mạnh mẽ nhất của đạo Công giáo. Nơi toà cáo giải, khế ước đã ký với ma quỷ bất cứ vì lý do nào hoàn toàn được huỷ bỏ trong tự do của con người tuyên tín trở về cùng Thiên Chúa. Các linh mục của Chúa, người ban ơn Hoà Giải, là trung gian tuyệt vời như Đấng Trung Gian ngày xưa trên Thập Giá để phục sinh con người. Tự Do cho thấy tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria cao trọng và đáng quý biết chừng nào. Trong Tự Do, Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống mình (x. Ga 10,18), Ngài bằng lòng đón nhận cái chết, là điều đắc thắng của ma quỷ, vì lòng mến yêu Thiên Chúa. Đó là cuộc chiến đấu quyết liệt để Tình Yêu và sự vâng phục Thiên Chúa đã thắng những tự hào của thế gian đem con người trở về cùng Thiên Chúa là Sự Sống. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13). Không tình thương nào lớn hơn tình của người đã thí mạng để cứu tôi, mỗi lần nhớ đến Tình Thương ấy, tim tôi bồi hồi tan nát.

Cách đây hơn 10 năm, để chống lại Sự Dữ như tôi thường nói, tôi đã viết một bài để chỉ về những hình thức ẩn náu của Con Rắn Xưa. Bài viết của tôi không những được chọn đăng trên một website Công giáo và được đọc cả trên đài phát thanh của trang web còn ở thời gian đầu thành lập. Tôi cả gan, vì thực ra tôi không cho ma quỷ còn hiện diện trong thế giới ngày nay. Sau đó ít lâu, một sự việc xảy ra trong nhà tôi đã nên một biến cố lớn cho đời tôi. Chồng tôi ngã bệnh đột ngột và qua đời vài tháng sau. Khi chồng tôi vừa ngã xuống, tôi đã nhìn thấy điều khác thường xuất hiện mà tôi đã phải chiến đấu trực diện với nó trong suốt nhiều tháng trời, để nhận ra trong đời sống xem chừng bình thường này vẫn có điều mầu nhiệm. Cách đây vài tháng, tôi viết bài thứ hai để chống ma quỷ, lần này tôi chuẩn bị bằng một thời gian cầu nguyện trước khi viết vì tôi biết nó sẽ không để tôi và những người thân yêu của tôi yên. Tôi đặt mình dưới sự che chở của Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, và Sự Dữ đã nên cơn lốc đi qua chúng tôi. Sau lần thứ hai, tôi không còn dám nghĩ tới việc kình chống nó vì, quả thật, tôi nao núng. Nhưng có một lần, và tôi biết không phải do tình cờ, khi tham dự Thánh Lễ, tôi ngồi ngay sau một anh bạn trẻ mặc chiếc t-shirt đỏ có dòng chữ phía sau lưng Armed & Ready (Ep 6,10), như một hướng dẫn thiêng liêng cho tôi tìm lại sức mạnh tinh thần, và quyết định không bỏ cuộc. Tôi nói với người bạn năm xưa rằng tôi sẽ viết tiếp bài thứ ba chống lại Sự Dữ, và tôi biết lần này nó sẽ tấn công tôi bằng cách nào đó, lúc nào đó thì tôi chưa biết, nhưng tôi không thể vì sợ chết mà thinh lặng. Tôi nói đùa với chị bạn, lần thứ ba ma quỷ đã tấn công trực tiếp vào Job, thì tại sao nó lại chừa tôi, tôi xin chị ấy cầu nguyện cho tôi và “đừng ngạc nhiên nếu thấy điều gì đó xảy ra cho tôi”, tôi đã nói khi chào chị ra về. Tôi ăn chay và cầu nguyện, sẵn sàng để chiến đấu, một chút cảm nghiệm cùng với Thầy trong Vườn Dầu năm xưa đã có trong tâm hồn tôi.

Khi chồng tôi còn trên giường bệnh, một người bạn đã nói với tôi: You là tấm kiếng ở giữa chồng của you và Chúa; để ánh sáng và hơi ấm của Mặt Trời Công Chính chiếu được tới người chồng đang bất động, tấm kiếng đó phải thật sạch trong. Tôi nghe lời khuyên của chị, ngay tức khắc tôi nghĩ đến việc xưng tội. May mắn cho chúng tôi, lúc ấy bệnh viện còn có một linh mục tuyên uý. Tôi xưng tội rất thường xuyên, hầu như mỗi tuần, có khi chỉ vài ngày, tôi muốn tấm gương linh hồn tôi phải thật sạch trong, xứng đáng rước Chúa hằng ngày để cầu nguyện. Tôi yêu quý phép Giải Tội từ ngày ấy, đối với tôi, phép Giải Tội là cơ hội cho con người phàm hèn tham dự trực tiếp vào chương trình Cứu Độ của Thiên Chúa. Phép Giải Tội phục sinh con người do chính Đấng Phục Sinh đã thành lập cho nhân loại. Ơn Thánh Chúa tuôn đổ xuống tâm hồn tôi qua hai bí tích cực trọng - Phép Giải Tội và Phép Thánh Thể - cho linh hồn nhìn thấy được chính Đấng Cứu Thế, qua Chúa Giêsu Thánh Thể, đã hiện diện ngày đêm bên tôi, cùng chúng tôi chiến đấu chống Kẻ Thù quái ác đang ra sức tiêu diệt chúng tôi.

Phép lạ đã xảy ra, không phải như người ta thường nghĩ là chồng tôi sẽ bình phục, được sống thêm như lòng chúng tôi mong ước; nhưng chồng tôi đã chết sau nhiều tháng chống chọi với bệnh tật. Điều tôi hằng ghi nhớ trong lòng: Ngay buổi chiều thứ năm đó, lúc từ bệnh viện trở về nhà sau khi hôn vĩnh biệt thân xác lạnh giá của chồng, tôi đến quỳ trước bàn thờ trong nhà chuẩn bị tâm hồn để rước Chúa lần chót, vì từ ngày mai, tôi không có quyền được giữ Mình Thánh Chúa kề cận bên tôi suốt ngày đêm như hơn 100 ngày qua vì chồng tôi đã qua đời, tôi không còn lý do để được rước Mình Thánh Chúa cho chồng hằng ngày nữa theo lòng ao ước của anh. Khi mở nắp hộp đựng Mình Thánh Chúa, tôi ngạc nhiên đến sững sờ vì Mình Thánh Chúa còn nguyên vẹn nửa Bánh Thánh. Tới bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao, vì hằng ngày tôi cho chồng rước lễ chỉ một mẩu bánh nhỏ, bằng chiếc móng tay được bẻ ra từ Bánh Lễ mà phải lén y tá vì chồng tôi không được ăn bằng miệng. Vì thế, Mình Thánh Chúa bao giờ cũng méo mó vì những lần bẻ bánh bất kỳ, không tài nào tôi bẻ nửa chiếc Bánh nguyên vẹn như vậy, như một bằng chứng Chúa đã cất đi một nửa của chồng tôi, nửa còn lại này Ngài dành cho tôi. Lần thứ hai, khi tham dự Thánh Lễ đầu tiên sau ngày an táng chồng, với tâm hồn u sầu vô hạn, tôi cầu xin Chúa cho biết giờ này “chồng con đang ở đâu?!”. Khi lên rước lễ, tôi nghe một tiếng “rắc” nhỏ lúc cha vừa đặt Mình Thánh Chúa vào tay tôi. Nhìn xuống bàn tay, tôi thấy Mình Thánh Chúa đã bể ra một mảnh nhỏ, như chiếc móng tay, giống mẩu Bánh Thánh hằng ngày tôi vẫn trao cho chồng lúc anh còn trên giường bệnh. Từ ngày tôi được rước lễ vở lòng cho đến ngày hôm ấy, và từ ngày hôm ấy đến nay, chưa bao giờ Mình Thánh Chúa bể trên tay tôi như vậy. Tự dưng tôi hiểu lời đáp trả của Đấng Hằng Sống đang thực sự hiện diện trong Thánh Thể: “Cả chồng con và con đều đang ở trong tay Cha, tại sao con lại quá lo âu?” Ôi, với lòng tín thác, trông cậy và yêu mến thiết tha, linh hồn tôi đã nghe và hiểu được ngôn ngữ thiên đàng từ Đấng Hằng Hữu đầy yêu thương, Đấng không rời bỏ tôi trong cơn buồn sầu cùng cực. Từ ngày đó, Mình Thánh Chúa đối với tôi là nơi hiện diện thật sự của Chúa Giêsu Thánh Thể, Đấng Hằng Hữu đang Sống giữa chúng ta trong thế giới hôm nay, và mãi mãi như lời hứa: Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế.

Từ ngày đó, tôi cũng nhìn thấy rõ hơn sự chết của thân xác này không ảnh hưởng gì đến Sự Sống đời đời nơi Thiên Chúa; con người thật không chỉ giới hạn trong thân xác. Khi chồng tôi qua đời, cũng như bất cứ ai đã lìa trần trong Ơn Nghĩa Chúa là họ đang trở về với Chúa, Đấng là Sự Sống trong tình yêu thương và nhờ vào lòng yêu thương của Ngài, vì Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống (Lc 20,38). Tên thủ lĩnh thế gian đã quỷ quyệt lôi kéo con người bằng một đời sống vật chất sung túc đến độ người ta đã yêu mến nó, và nghĩ rằng Sự Sống chỉ có trong đời sống hiện tại mà thôi, chết là mất hết, chẳng còn gì, nên đã có người quá thất vọng khi mất người thân yêu dẫn đến lìa xa Chúa, như trường hợp thất vọng của người bạn tôi. Cả chồng con (kẻ đã chết) và con (người còn sống) đều đang ở trong tay Cha. Chúng tôi, cũng như tất cả chúng ta, đều đang ở trong Tay nhân lành của Đấng là Sự Sống, tất cả chúng ta đều đang Sống trong Sự Sống vô biên của Thiên Chúa, nếu chúng ta luôn luôn giữ được mối liên hệ mật thiết với Ngài. Đó là Sự Thật, chính Chúa Giêsu Kitô đã chỉ cho chúng ta qua lời của Ngài, qua cả cuộc đời đã Sống, đã Chết và đã Sống Lại của Ngài. Sự Chết mà tên thủ lĩnh độc ác đã mang vào thế gian đã không còn tác dụng nào trên những kẻ tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa và Đấng Cứu Thế: “Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1).

Trong Sự Sống vô biên, tôi nhìn lại đời sống này, trong cuộc đời này, nơi tôi đang sống, để nhận ra Thiên Chúa là Cha vô cùng yêu thương tất cả chúng ta, không trừ một ai vì Ngài là Đấng Tạo Thành đáng mến yêu, luôn luôn mong muốn chúng ta cũng được sống như Ngài. Vì những giới hạn làm con người thành thiển cận, đóng khung Sự Sống vô biên vào sự sống nơi này hay nơi khác, mà không nhận biết Sự Sống bắt nguồn bằng Sự Sống Lại (x. Ga 11,25). Cũng vì thiển cận, người ta đã giới hạn Phục Sinh mà không nhìn thấy Sự Sống Lại của con người do Đấng Phục Sinh mang đến cũng đã có ngay trên trần gian. Tình Yêu lớn lao của Đức Kitô đã chuộc lại Sự Sống cho con người bằng Máu Châu Báu của Ngài để mọi người đều có quyền Sống Lại trong Sự Sống mới, ngay hôm nay. Sự Sống vô cùng tốt đẹp và cũng vô biên vì Thiên Chúa, Đấng là Sự Sống, thiện hảo và vô biên. Tám Mối Phúc Thật là hiến chương Sự Sống, trong ấy Chúa Giêsu không nói gì đến điều cấm kỵ, Ngài chỉ chúc phúc, ai muốn sống hạnh phúc thật, bền vững, dài lâu thì cứ sống như vậy. Tám Mối Phúc Thật là hiến chương Tự Do của Đấng Thập Toàn, Đấng Phục Sinh, hoàn toàn trưởng thành trong Thiên Chúa, mà con người vẫn còn xa lắm mới đạt được nếu không nhờ Ơn Chúa trợ giúp và sự quyết tâm đi theo Ngài.

Tám Mối Phúc Thật không phải chỉ là Đường dẫn tới thiên đàng, nhưng thật sự là Đường Sống còn, Đường Phục Sinh cho nhân loại hôm nay. Giữa thế giới đầy biến động, khi sự huỷ diệt loài người đã nhìn thấy được như hôm nay, thì Tám Mối Phúc Thật là cách sống duy nhứt mà con người muốn sống còn phải từ bỏ lối sống cũ, theo đường lối thế gian, để trở về sống trong đường lối của Thiên Chúa mà Tám Mối Phúc Thật, Chúa Giêsu rao truyền, là bản chỉ nam cho con người muốn được sống phải đi theo. Đó là đường lối Cứu Độ của Thiên Chúa, 2.000 năm trước, Chúa Giêsu đã rao giảng với tất cả tâm huyết của Ngài, mà nhân loại vẫn thờ ơ, ngay cả trong thế giới hôm nay.

Lạy Chúa Giêsu, ngày xưa trên Thánh Giá, Chúa đã dâng lên Chúa Cha lời tín thác, thì hôm nay, trong đời sống này, con xin dâng lên Chúa lời tín thác của con: Lạy Cha, con xin dâng linh hồn và xác con trong tay Cha vì con biết trong Bàn Tay Nhân Lành của Cha, mọi sự sẽ nên tốt đẹp. Ôi, lạy Đấng Phục Sinh, chỉ có Chúa là Đấng làm cho loài người chúng con được sống lại, để được sống dồi dào trong Ơn Chúa. Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ chúng con, con tin tưởng nơi Ngài.

Kính chúc hành trình Mùa Chay Thánh dồi dào Ân Sủng để nhìn thấy con đường Cứu Độ của Chúa chúng ta, ngay trong thế giới hôm nay.

Mai Hoa



Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Đừng thất vọng

[caption id="attachment_3318" align="aligncenter" width="491" caption="Hãy tạ ơn Chúa đi vì sự thiếu thốn của bạn chưa nhằm nhò gì"][/caption]

Thánh Tông đồ Phaolô đã nói: “Tôi sống thiếu thốn cũng được mà sống dư dật cũng được” (Pl 4,11-12). Được Thiên Chúa chăm sóc không có nghĩa là bạn luôn dư dật hoặc mọi việc sẽ luôn xuôi chèo mát mái. Điều ấy có nghĩa là khi bạn tìm kiếm Chúa, Ngài sẽ giúp bạn thoả mãn, tin tưởng rằng Ngài sẽ giữ gìn bạn và chăm sóc cho bạn.

Ngài coi trọng tất cả những gì bạn đã cho đi từ chính bản thân bạn và cuộc sống của bạn cũng như thời gian phụng sự Ngài. Đôi khi, Ngài ban cho bạn sự an ủi và dư giả, nhưng đôi khi, để có được những dư giả ấy bạn phải trải qua những gian khó. Chúa sử dụng những gian khó để hoàn thành rất nhiều việc. Khi bạn tranh đấu, ý chí chiến đấu của bạn sẽ được củng cố, hoặc bạn sử dụng những vũ khí tinh thần mà bạn đã không sử dụng nhiều trước đó. Bạn thiết tha hơn với Chúa và hướng đến một tinh thần và tâm hồn trong trắng. Bạn trở nên khiêm tốn hơn và cậy dựa vào sức mạnh của Ngài hơn. Bạn biết cảm kích mỗi một ơn lành hơn.

Mỗi một trận chiến đều khác nhau, nhưng có một điều luôn giống nhau chính là bạn luôn có thể cậy dựa vào tình yêu của Chúa dành cho bạn. Bạn có thể cậy dựa vào Ngài, và Ngài sẽ không bao giờ làm bạn thất vọng.

***


Satan luôn chống lại Lời Chúa. Có thể hắn sẽ chống lại lòng tin của bạn vào những lời hứa của Chúa và khiến bạn hoài nghi. Nhưng điều ấy không làm suy giảm tính xác thực của lời thề hứa Thiên Chúa dành cho bạn. Chắc chắn cần đến sự kiên nhẫn để tin tưởng vào sự bảo đảm của Chúa, bởi vì, thỉnh thoảng Ngài không thực hiện lời hứa nhanh chóng hoặc không theo như cách chúng ta nghĩ. Chúng ta không thể cho mình có được sự khôn ngoan của Chúa, để biết toàn bộ bức tranh như Ngài và biết Ngài nên trả lời thế nào cho lời cầu nguyện của chúng ta và nên làm trọn Lời Ngài như thế nào. Nhưng, giống như những thế hệ tín hữu trước chúng ta, chúng ta vẫn có thể hoàn toàn tin tưởng vào lời thề hứa của Ngài đối với chúng ta, rằng Ngài không thất hứa, rằng chúng sẽ được thực hiện khi đến giờ của Ngài theo cách của Ngài và rằng Ngài sẽ hoàn thành những gì Ngài biết là tốt nhất; bổn phận của chúng ta là làm tốt phần việc của mình.

Một phần trong việc bước đi bằng lòng tin chính là tin tưởng vào sự khôn ngoan của Chúa. Việc bạn trải qua những lúc khó khăn hoặc gian gian và thử thách - thậm chí là những cuộc chiến dữ dội, đi qua thung lũng bóng tối của sự chết, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng - không phải là dấu hiệu Chúa không giữ Lời Ngài. Có rất nhiều lý do Chúa để cho những khó khăn và nghịch cảnh xảy đến. Nếu bạn xin Ngài cho bạn biết nguyên nhân trong hoàn cảnh đặc biệt của bạn, Ngài sẽ chỉ cho bạn. Những khó khăn và những lời hứa vẫn chưa được thực hiện không có nghĩa là Chúa thất hứa hoặc không có khả năng thực hiện lời hứa.

Cuộc sống nơi thế gian có rất nhiều trở ngại, và đó là lý do tại sao chúng ta cần Chúa và tại sao chúng ta cần bám chặt vào niềm tin của chúng ta dù cho có bất cứ điều gì đang xảy ra quanh ta. Lời hứa của Chúa chính là sự bảo đảm và bạn có thể dựa vào chúng! Tuy nhiên, bạn có lựa chọn tin tưởng hay không là tuỳ ở bạn. Bạn lựa chọn tin tưởng không phải bởi vì bạn nhìn thấy những thực tế, nhưng vì bạn có lòng tin. Chúa không bao giờ thất hứa với con cái của Ngài, và bạn có thể đặt cược cuộc sống của bạn trong Lời ngài, và lời ấy sẽ luôn được chứng thực như Chính Ngài là Đấng hiện hữu.

***


Tương lai có thể làm bạn chán nản, sợ hãi. Tương lai có thể hiện ra như thế vì có quá nhiều điều bạn chưa được biết về nó. Tuy nhiên, hãy nghĩ về việc Chúa luôn chăm sóc bạn và sẽ luôn chăm sóc bạn.

Hãy tiếp tục trông cậy vào Chúa. Đừng để lòng tin của bạn bị giao động bởi hoàn cảnh, nhưng thay vào đó hãy để Lời Chúa và mối liên hệ mật thiết giữa bạn với Chúa Giêsu cho bạn lòng tin mà bạn cần cho bất kỳ hoàn cảnh nào. Chúa sẽ luôn đồng hành, hướng dẫn và ban ơn cho bạn. Dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, bạn không bao giờ đơn độc. Bạn có được Chúa Giêsu - và xung quanh bạn là những người cần tình yêu của Ngài.

***


Chúa Giêsu đã nói Ngài sẽ không để bạn mồ côi (x. Ga 14,18). Bạn cần được an ủi khi mọi việc không như bạn mong đợi. Chúa luôn ở bên bạn, và sự an ủi của tình yêu và sự che chở của Ngài sẽ giúp bạn vượt qua những lúc khó khăn, và nhờ thế, bạn trân trọng và yêu quý sự an ủi ngay cả khi mọi việc tốt đẹp trở lại.

Nguồn an ủi đích thực không phải là những hoàn cảnh thể lý mà chính là biết rằng Chúa luôn ở bên bạn, không rời xa bạn, không ruồng bỏ bạn hoặc lãng quên bạn. Bạn ở trong đôi tay của Ngài và luôn được an toàn.

***


Những lời hứa của Chúa mãi luôn tốt lành. Những lời hứa bảo vệ và chu cấp của Ngài không bao giờ hết hạn hoặc giới hạn về mặt thời gian; chúng có hiệu lực luôn mãi. Khi bạn đọc những lời hứa này, sống và làm theo những lời chỉ dạy và kế hoạch Ngài dành cho bạn ngày hôm nay, bạn sẽ nhận thấy chúng rất vững chắc và đáng tin cậy. Hãy để Ngài bày tỏ cho bạn biết kế hoạch của Ngài.

Chúa Giêsu đã hứa sẽ an ủi và chăm sóc cho bạn. Bạn có thể hoàn yên tâm về điều này và biết rằng Ngài sẽ làm tròn những lời hứa của Ngài vì Ngài chính là “nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta, và luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo” (Tv 46,1). Bạn có thể xác tín rằng Ngài sẽ tiếp tục làm tất cả những gì bạn cần trong thế giới vĩnh hằng, một thế giới không hề có những khó khăn và đau khổ.

Thiên Ân

Biến hình - biến cố “giải quyết” cuộc khủng hoảng niềm tin

[caption id="attachment_3312" align="aligncenter" width="450" caption="“Đây là Con Ta yêu dấu. Các Ngươi hãy nghe lời Ngài” (Mc 9,7)"][/caption]

(Chúa Nhật II Mùa Chay B)


Cuộc khủng hoảng nợ công tại một số quốc gia thuộc khối EU (Âu Châu) đang diễn ra ngày một trầm trọng. Nó được ví như là một cơn sóng thần hung hãn có nguy cơ nhấn chìm cả nền kinh tế thế giới. Khởi điểm của cơn sóng thần này chính là Hylạp, rồi đến Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, và rồi lan rộng đến Italia. Khi Italia, nền kinh tế lớn thứ ba khu vực đồng Euro chính thức trở thành tâm điểm mới của cuộc khủng hoảng nợ công thì nguy cơ mà EU sẽ phải đối mặt đó là cuộc khủng hoảng tài chính trong toàn khu vực. Khủng hoảng nợ công cũng kéo theo cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn đó là khủng hoảng niềm tin, niềm tin đối với các ngân hàng tín dụng, với thị trường chứng khoán, với các nhà đầu tư và với toàn thể người dân.



Các nhà lãnh đạo EU, tích cực nhất là Pháp và Đức, phải nhóm họp liên tục nhằm tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng. Một loạt các giải pháp đã được thông qua, chẳng hạn chính sách thắt lưng buộc bụng, thắt chặt chi tiêu, thắt chặt tài khoá đi kèm với hạ giá tiền tệ, đồng thời kêu gọi sự trợ giúp tài chính từ các nước có nền kinh tế mạnh khác trong khu vực, đặc biệt là từ Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF).

Có thể nói rằng khi nghe Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó và tử nạn của Ngài, các một đệ cũng đã trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng không kém. Có điều đây không phải là khủng hoảng về nợ nần mà các ông đã vướng mắc trong 3 năm long bong theo Thầy, cũng không phải khủng hoảng về tài chính kinh tế do các ông “thất nghiệp” suốt một thời gian dài, mà là cuộc khủng khoảng niềm tin. Niềm tin vào chính người Thầy của mình, Đức Giêsu Kitô.

Khủng hoảng vì khi Chúa Giêsu cho biết Ngài sẽ phải đương đầu với sự bắt bớ, bách hại, các ông không còn nhìn thấy được đâu là Đấng Cứu Tinh mà muôn dân đang trông đợi. Khủng hoảng vì khi sắp sửa phảiđối mặt với Thập Giá của Thầy, các ông chẳng còn nhận ra được đâu là thần tính của Đấng mà các ông nhiều lần gọi là Thầy, là Chúa nữa. Khủng hoảng hơn nữa vì khi chạm trán với viễn tượng chết chóc, các ông chẳng còn định hình được đâu là sự sống đời đời mà Thầy mình đã từng cao rao.

Thấu hiểu cơn khủng hoảng mà các môn sinh của mình đang phải đối mặt, Chúa Giêsu đã khéo léo đưa họ, không phải vào bàn hội nghị để tìm giải pháp tháo gỡ cuộc khủng hoảng, mà là lên núi cao, để họ được chiêm ngưỡng một biến cố đặc biệt đầy ý nghĩa, biến cố mở ra cho họ một viễn tượng mới tràn đầy hy vọng: biến cố Biến Hình. Qua biến cố này, Chúa Giêsu sẽ nói cho các ông biết đâu là sự sống tràn trào ẩn sau cái chết, đâu là thần tính vinh quang của Ngài, và đâu là niềm hy vọng chứa chan trước Mầu nhiệm Thập Giá.

1. Biến cố hiển dung, biến cố chứng thực cho sự sống sau cái chết


Quan niệm của người Dothái về sự sống lại, và sự sống sau cái chết vẫn còn có nhiều bất đồng và mơ hồ. Thậm chí nhóm Sađốc còn chủ trương không tin là có sự sống lại. Tuy nhiên, trong biến cố hiển dung, sự xuất hiện rạng ngời vinh hiển của hai nhân vật quá cố thời Cựu Ước xa xưa là Môisê và Êlia, như một bằng chứng hiển nhiên và chắc chắn nói cho các môn đệ rằng có sự sống lại và sự sống sau cái chết. Nói cách khác, qua biến cố hiển dung, Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng các ông cứ tin tưởng có thế giới bên kia, nơi mà hai vị đại ngôn sứ đang sống hạnh phúc ngập tràn. Và rằng các ông cứ an tâm Thầy của họ có chết thì cũng sẽ phục sinh vinh quang.

2. Biến cố hiển dung, biến cố biểu lộ vinh quang thần tính của Đức Kitô

Trong cuộc sống thường nhật, Chúa Giêsu thường chỉ biểu lộ nhân tính của Ngài là một con người như mọi người, ngoại trừ tội lỗi. Còn thần tính của Ngài vẫn còn ẩn giấu, ẩn giấu trong một thân xác nghèo hèn dân dã.

Thế nhưng, qua biến cố hiển dung, vinh quang Thiên Chúa, tức thần tính của Đức Giêsu tỏ hiện rõ nét và rạng ngời. Rõ nét đến độ, Thánh Matthêu mô tả là các môn đệ choáng ngợp, té sấp mặt xuống đất: “Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, y phục Ngài trắng sáng như tuyết” (Mc 9,3). Rạng ngời đến nỗi các môn đệ chỉ còn muốn sống mãi trên núi với Chúa mà thôi. Chính Thánh Phêrô xác nhận điều này: “Lạy Thầy, chúng con ở đây thì tuyệt cú mèo rồi. Nếu Thầy muốn, con xin làm 3 lều…” (x. Mc 9,5). Trong một bài suy niệm của mình, Đức Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt cũng đã viết: “Thần tính Chúa Giêsu biểu lộ chứng thực Người là Thiên Chúa ẩn mình. Thì ra manh áo đơn sơ của bác thợ mộc che giấu cả một nguồn ánh sáng chói lọi. Tâm thân dân dã nghèo hèn lại là chiếc bình chứa đựng Ngôi Hai Thiên Chúa cao sang”.

3. Biến cố hiển dung, biến cố khích lệ niềm tin cho các môn đệ trước viễn tượng cuộc thương khó của Thầy mình  

Chúng ta thấy rằng khi Chúa Giêsu bị bắt, ít là có 2 trong 3 môn đệ (Phêrô, Giacôbê và Gioan) đã từng chứng kiến biến cố hiển dung đã không bỏ trốn như các môn đệ khác. Điều này chứng tỏ niềm tin của các môn đệ đã được củng cố rất nhiều, nhờ thấy trước vinh quang Phục Sinh của Đức Giêsu. Đối tượng cụ thể của niềm tin đó chính là Đức Kitô, Con Một Yêu Dấu của Chúa Cha trên trời. Và vì tin vào Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa, các ông cần phải lắng nghe lời dạy của Ngài: “Đây là Con Ta yêu dấu. Các Ngươi hãy nghe lời Ngài” (Mc 9,7). “Lời Ngài” mà Chúa Cha muốn nói ở đây là lời Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó, tử nạn và phục sinh của Người. “Lời Ngài” ở đây là lời tiên báo về sự bắt bớ, tra tấn, đánh đập và bị giết chết nhục nhã trên Thánh Giá. Nghe để không bị chao đảo, nghe để không bị mất đức tin trước những thử thách nặng nề như thế.

Vậy, khi tái khám phá những ý nghĩa của biến cố biến hình của Chúa Giêsu trên núi Taborê, chúng ta được mời gọi điều gì? Chúng ta được mời gọi mỗi khi đối diện với những khủng hoảng, bế tắc nghiệt ngã trong cuộc sống vô thường ở đời này, hãy chiêm ngắm biến cố hiển dung để hy vọng, để cậy trông vào một cuộc sống vĩnh cửu đích thực mai sau. Hơn nữa, chúng ta còn được gọi mời khi gặp những thử thách đau thương của thập giá, hãy hướng lòng trí lên Đức Kitô vinh quang trên núi Taborê để được khích lệ, để được vấn an hầu có thể vượt qua được những thử thách đau thương ấy trong cuộc đời này. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Lầm lỗi là chuyện thường

[caption id="attachment_3136" align="aligncenter" width="385" caption="Cuộc đời là thế. Chúng ta có nên bi quan không?"][/caption]

Hôm nay kỷ niệm ngày sinh của George Washington, vị tổng thống đầu tiên của Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Con người đã có công đưa nước Mỹ đến độc lập, tự do và phồn thịnh ấy nổi tiếng là người nóng nảy, nhưng luôn biết phục thiện và yêu sự thanh liêm. Ngay từ lúc thiếu thời, ông đã tỏ ra là người đơn thành và sẵn sàng nhận lỗi của mình...

Ngày kia, cậu bé George được trao cho một con dao để ra vườn làm cỏ. Trong vườn có một cây anh đào nhỏ mà cha mẹ cậu rất quý. Chưa phân biệt được thế nào là cỏ dại thế nào là cây trái, George đã chặt đứt cây anh đào vô cùng qúy giá của cha mẹ mình.

Cha của George đau lòng nhìn thấy cây anh đào đổ xuống mặt đất. Ông đã thoáng nghi George là thủ phạm, nên mới hỏi cậu: "Con có biết ai là người đốn hạ cây anh đào không? Cha không muốn thấy điều đó lập lại một lần nữa...". George suy nghĩ một lúc và trả lời: "Chính con là người đã đốn cây anh đào. Cha cứ phạt con đi".

Và George ngạc nhiên vô cùng khi nghe cha cậu trả lời: "Ðiều con vừa làm là một điều sai trái.Nhưng con đã chữa được điều sai trái đó khi dám nói lên sự thật. Cha đánh giá lòng can đảm và sự thành thật của con cao hơn là trăm nghìn những cây đẹp như thế...".

Không ai trong chúng ta, đặc biệt là tuổi trẻ, mà lại không sống với hy vọng tốt đẹp hơn trong tương lai. Nhưng phải thành thật mà nói thì cuộc đời không phải lúc nào cũng là con đường trải hoa, vì nhiều lần chúng ta gặp hoàn cảnh vô cùng tệ hại. Ðố với nhiều người, dường như hy vọng về những điều tốt đẹp chỉ thành tựu trong mơ mộng mà thôi và thực tế rất phũ phàng.

Tuổi trẻ đi qua rất nhanh. Ngày tháng trôi qua, chúng ta chẳng mấy chốc già đi. Tóc trên đầu chúng ta mỗi lúc một điểm thêm nhiều muối tiêu. Sau khoảng 45, mỗi lần nhìn vào trong gương, chúng ta giật mình thấy mình già mau quá. nhìn lại tập ảnh của gia đình, lắm khi chúng ta không có can đảm ngắm lâu hơn. Chẳng những gương mặt, mái tóc bên ngoài, mà tuổi già còn gặp nhiều hạn chế hơn tuổi trẻ. Những môn thể thao trước kia ưa thích, nay không còn đủ sức để chơi nữa. Cặp mắt sắc sảo đã phải đeo thêm kính mới đọc được sách. Khi bước vào lớp tuổi 60 trở lên, bước đi của chúng trỏe nên chậm chạp hơn. Trí nhớ mỗi lúc một ra kém cỏi...

Tuổi trẻ là một chuỗi những vấp ngã, tuổi già là những tháng ngày để ân hận và hối tiếc khi chợt nhận ra giới hạn của mình. Cuộc đời là thế. Chúng ta có nên bi quan không?

Người Kitô chúng ta luôn được mời gọi để sống hy vọng. Ðổ vỡ, thất bại không phải là những ngõ cụt trong cuốc sống, nhưng phải là bàn đạp để chúng ta vươn cao hơn. Cuộc đời không phải là một chuỗi ngày giữa chiếc nôi và ngôi mộ. Cuộc đời là một hành trình đi từ chỗ hữu hạn đến chỗ vô hạn, từ chỗ tuyệt vọng đến chỗ đầy hy vọng. Và cuối cùng cánh cửa của sự chết mà chúng ta rồi đây sẽ bước qua chỉ là một khúc quanh của cuộc hành trình này mà thôi...

 Nguồn: RVA


 

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Tránh nhưng không trốn sự khổ đau

[caption id="attachment_2875" align="aligncenter" width="432" caption="“Hãy yêu đi thì bạn sẽ vơi hết khổ đau. Nếu có đau khổ thì cái đau khổ ấy cũng đã được yêu rồi”"][/caption]


Ông Gióp than thở: “Cuộc sống con người nơi dương thế chẳng phải là thời khổ dịch sao?… Gia tài của tôi là những tháng vô vọng, số phận của tôi là những đêm đau khổ ê chề” (G 7,1-3). Vấn nạn đau khổ là vấn nạn muôn thuở của kiếp người. Không riêng gì các trang của sách Gióp, kho tàng văn chương của nhân loại từ cổ chí kim vẫn đầy dẫy các hình thái khổ đau của con người được trình bày, mô tả và mạn bàn. Nói đến chuyện đau khổ, bàn đến chuyện đau khổ qua các trang sách hay phim ảnh thì như rất dễ thu hút lòng người. Có nhiều nguyên cớ tuy nhiên cần chân nhận lý do chung này: người ta thấy có chút đồng cảm nào đó, vì chính họ cũng khổ đau. Đồng bệnh thì tương liên, chuyện đời là vậy.

Bài Tin Mừng Hội Thánh cho trích đọc trong Chúa Nhật V TN B này tường thuật một ngày làm việc của Chúa Giêsu là chữa lành nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật về tinh thần lẫn thể xác. Sau khi chữa cho bà mẹ vợ ông Phêrô khỏi cơn sốt nặng thì “chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những người bị quỷ ám đến cho Người. Cả thành xúm lại trước cửa. Chúa Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ” (Mc 1,32-34). Khó có thể chối cãi sự thật này là Chúa Giêsu tìm mọi cách xoa dịu khổ đau của con người. Thế nhưng tại sao khi người ta kéo nhau đến cùng Người thì Người lại đi nơi khác? Phải chăng Chúa Giêsu muốn “nhổ cỏ tận gốc”, tức là tìm cách diệt trừ căn nguyên của sự đau khổ?


Vì sao có đau khổ? Một câu hỏi rất khó tìm được câu trả lời cách rõ ràng và có tính thuyết phục. Anh em Phật tử thì chủ trương rằng đau khổ có căn nguyên nơi cái “dục” của con người. Vì ước muốn mà không được toại nguyện nên phải chịu đau khổ. Chính vì thế, con đường thoát khỏi khổ đau được đề ra đó là “diệt dục”. Nếu nhìn cuộc đời con người với vòng đời “sinh - lão - bệnh - tử” là bể khổ thì làm sao giải thích được việc một người được sinh ra là khổ, cho dù “thoặt sinh ra thì đà khóc choé”? Người ta có thể muốn trẻ mãi không già, muốn mạnh khoẻ, không bệnh tật, muốn trường sinh bất tử, nhưng không một ai trên trần gian có thể tự mình “muốn” được hay không được hoài thai trong dạ mẹ cũng như tự mình muốn được hay không được chào đời làm người.

Lão tử thì quan niệm đau khổ có ra là vì con người sống không hợp với Đạo, vói lẽ trời, với sự vận hành của giới tự nhiên. Khi con người không làm chủ ước vọng của mình, để cho tham muốn của mình đi thái quá cũng gây ra khổ đau. Chính vì thế, để diệt khổ đau không gì hơn là tiết chế tham muốn của mình một cách nào đó theo kiểu cách của thi nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc
Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn.


Và sống thuận theo lẽ trời tự nhiên như:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.



Các triết gia, các nhà đạo đức học phân biệt đau đớn với đau khổ. Các loài vật vì không có lý trí và ý chí tự do nên chỉ có đau đớn mà không có đau khổ. Đau khổ là một phạm trù thuộc lý trí. Biết được chuyện chẳng may, chẳng lành mà không tránh được thì mới có khổ đau. Người ta thường dí dỏm rằng người điên không hề có khổ đau. Một giải thích ngắn gọn đó là vì họ không biết. Tuy nhiên, ngoại trừ một vài nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch bệnh… thì người ta đều chân nhận rằng chính tội lỗi con người là nguyên nhân lớn gây ra đau khổ cho đồng loại. Và Kitô giáo ủng hộ lập trường này, mặc dù vẫn quan niệm đau khổ là một huyền nhiệm.

Để có cái nhìn tương đối khách quan về đau khổ, thiết tưởng chúng ta cần xem xét bản chất đau khổ là gì? Đau khổ là tâm trạng khó chịu khi gặp phải sự dữ hay khi thiếu một điều thiện hảo nào đó. Rất khó và dường như không thể xem xét đau khổ như là hiện tượng độc lập, tự thân nó. Đã nói đến đau khổ là nói đến một ai đó đau khổ. Như thế sự đau khổ luôn gắn liền với nhận thức và ước muốn của con người. Con người cảm thấy đau khổ khi các hiện tượng khách quan lẫn chủ quan như cưỡng lại ý muốn của mình.

Đến thế gian, Chúa Kitô không giải thích cặn kẻ về khổ đau cũng như các nguyên nhân của nó. Tuy nhiên qua các hành vi, lời nói và chính cuộc sống của Người, Người dẫn chúng ta đi trên con đường kinh qua đau khổ để sống yêu thương. Dù rằng vẫn cố gắng đến quên ăn, quên ngủ để làm dịu cơn khổ đau của nhân loại, nhưng Người đã biết rõ cuộc đời con người khó có thể thoát được mọi nổi khổ đau, cả về thể lý lẫn tinh thần. Người đã tự nguyện chọn con đường đối diện với đau khổ bằng một tình yêu vị tha bao la. Không phải diệt dục là hết khổ đau, vì chính hành vi diệt dục cũng là một cách muốn, cho dù các bậc minh triết trong Phật giáo diệt dục bằng sự “tri kiến”. Không phải cứ thuận theo lẽ tự nhiên là khổ đau biến mất vì sự vận hành của giới tự nhiên lắm khi quá nghiệt ngã. Biết dừng cái ham muốn của mình trong sự trung dung, vừa đủ thì hết khổ chăng? Cũng thật cam go vì biết thế nào là đủ, là vừa.

Trong niềm tin, với lời mạc khải, đặc biệt là qua con đường Chúa Kitô đã đi, chúng ta có thể quả quyết rằng chính khi hướng cái dục là lòng muốn đến tha nhân với các mục tiêu tốt đẹp kiểu “hãy thực hiện cho tha nhân những gì ta muốn tha nhân làm cho mình”, thì sẽ có cơ may vượt qua đau khổ. Thánh Augustinô đã từng chỉ dạy: “Hãy yêu đi thì bạn sẽ vơi hết khổ đau. Nếu có đau khổ thì cái đau khổ ấy cũng đã được yêu rồi”.

Cần phải diệt trừ tội lỗi là một nguyên nhân lớn gây ra đau khổ, đồng thời cần phải tránh các khổ đau cho bản thân cũng như cho tha nhân và tích cực xoa dịu khổ đau cho đồng loại hết khả năng có thể, vì đó là điều chính đáng và phải đạo. Tuy nhiên, nếu gặp phải sự đau khổ không như ý hay chẳng đặng đừng thì hãy can đảm đón nhận nó để sống yêu thương. Tình yêu vị tha mà kinh qua đau khổ là tình yêu thật đáng giá và đượm đầy tính vô cầu. Như thế không phải là tìm cách diệt dục hay hạn chế sự dục mà là hướng cái dục của chúng ta theo thánh ý Cha trên trời, Đấng tốt lành và nhân hậu. Là Kitô hữu, chúng ta tránh, nhưng không trốn sự đau khổ.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Ngôn ngữ của tình yêu

[caption id="attachment_2865" align="aligncenter" width="435" caption=""Ðức Tin không việc làm là một Ðức Tin chết""][/caption]

Có lẽ cái tên của Helen Keller, một cô gái câm điếc người Mỹ, đã trở thành bậc khoa bảng, không còn xa lạ với chúng ta nữa. Vừa được 19 tháng, sau một cơn đau màng óc, cô gái bất hạnh này trở thành mù lòa và câm điếc. Thế giới của âm thanh và màu sắc đã khép hẳn cánh cửa lại với cô.


Làm thế nào để truyền thụ kiến thức cho một người đã câm điếc lại còn mù lòa? Cha mẹ của cô bé dường như muốn bó tay. Nhưng có một cô giáo tên là Anna Sullivan đã không muốn bỏ cuộc. Hy vọng duy nhất mà cô giáo này còn đó là còn có thể truyền thông và liên lạc với cô gái mù lòa và câm điếc này qua việc tiếp xúc với bàn tay của cô. Chỉ có thể tiếp xúc với thế giới bằng đôi tay, nhưng Helen Keller đã có thể học xong Ðại Học, tốt nghiệp Tiến sĩ và trở thành văn sĩ. 

Cho người mù lòa và câm điếc chạm vào một sự vật và viết lên tên gọi của sự vật ấy: đó là phương pháp của cô giáo Anna Sullivan. Dạy về những sự vật cụ thể như cái bàn, cuốn sách, cành cây, con chó xem ra không hẳn là điều khó. Nhưng làm thế nào để diễn tả cho Helen hiểu được những ý niệm trừu tượng như tình yêu chẳng hạn? 

Ngày kia, cô giáo Anna Sullivan đã viết lên tay của Helen Keller hai chữ "Tình Yêu" rồi ôm trầm lấy cô bé hôn lấy hôn để với tất cả sự thành thật và nhiệt tình của cô. Lần đầu tiên trong đời, cô gái câm điếc mù lòa bỗng cảm thấy tim mình đập mạnh và cô hiểu được thế nào là Yêu Thương.

Ngôn ngữ của Tình Yêu là những hành động cụ thể.

Ánh mắt trìu mến, những âu yếm vuốt ve của người mẹ đối với đứa con mới lọt lòng có giá trị hơn bất cứ một quyển sách biên khảo nào về tình yêu. Nhưng mồ hôi và nước mắt, những hy sinh hằng ngày của người cha giúp con cái hiểu được thế nào là Yêu thương hơn bất cứ lời dẫn giải nào về Tình Yêu. Và có lẽ cũng thừa thãi để bảo rằng khi hai người yêu nhau thì sự thinh lặng và những cử chỉ âu yếm có sức mạnh hùng hồn hơn những lời nói hoa mỹ, những trống rỗng.

Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài tỏ tình, Ngài bộc lộ tình yêu với con người không chỉ bằng những lời nói suông, mà bằng cả lịch sử của những can thiệp, những thể hiện cụ thể.

Một tình yêu không được chứng tỏ bằng những hành động cụ thể là một tình yêu giả dối, lừa bịp.

Ðạo Kitô của chúng ta là Ðạo của Tình Yêu. Một người kitô không sống Tình Yêu, không viết lên hai chữ Tình Yêu bằng những hành động cụ thể đối với tha nhân, người đó chỉ là một người Kitô giả hiệu, một Ðức Tin không việc làm là một Ðức Tin chết. Một lòng Mến không được thể hiện bằng hoa trái của lòng Mến chỉ là lòng Mến giả tạo.

Đài Chân Lý Á Châu

 

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Rừng Mắm

[caption id="" align="aligncenter" width="360" caption=""Tôi đã làm gì được cho tôi, cho quê hương, cho Giáo Hội?""][/caption]

Trong một chuyện ngắn mang tựa đề "Rừng Mắm", cố văn sĩ Bình Nguyên Lộc đã giải thích về ích lời của cây mắm qua mẩu đối thoại sau đây giữa hai ông cháu:


- Cây mắm sao con không nghe nói đến bao giờ?


- Con không nghe nói vì cây mắm không dùng được để làm gì hết, cho đến làm củi chụm lửa cũng không được nữa là.


- Vậy trời sinh nó làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sinh ra hằng hà sa số như là cỏ vậy?


Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước, phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một mai kia, cây mắm sẽ ngã rạp, giống tràm sẽ nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được. Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, Ông cụ vịn vai nó nói tiếp: "Ông với tía, má con là cây mắm, chân giam trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lắm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau. Ðời cây mắm tuy vô ích nhưng không uổng đâu con". 



Mỗi lần nhìn lại thời gian đã qua, chúng ta thường tự hỏi: "Tôi đã làm gì được cho tôi, cho quê hương, cho Giáo Hội?". Suy nghĩ về sự vô tích sự của mình có thể tạo nên trong tâm hồn chúng ta mỗi chua xót, đắng cay, thất vọng.


Chúng ta hãy nhìn lại của đất phù sa và cây mắm trong câu chuyện trên đây. Cần phải có cây mắm, đất phù sa mới trở thành đất thịt, để rồi từ đó cây tràm và các laọi câu khác mới có thể mọc lên.


Mỗi một người sinh ra trên cõi đời này, dù tàn tật, dù dốt nát và xấu xa đến đâu, cũng có thể là một thứ cây mắm, cây tràm để cho đất đai trở thành màu mỡ, nhờ đó những cây ăn trái mới có thể vươn lên.


Ước gì ý nghĩa ấy giúp chúng ta có một cái nhìn lạc quan hơn về quá khứ, về chính bản thân của chúng ta. Trong Tình Yêu Quan Phòng của Chúa, mỗi người đều có một chỗ đứng trong lịch sử nhân loại và đều có một giá trị bổ túc cho những thiếu sót của người khác.


Với ý nghĩ ấy, còn tâm tình nào xứng hợp hơn trong giây phút này cho bằng tri ân, cảm mến đối với Thiên Chúa Tình Yêu? Cảm tạ Ngài đã tạo dựng nên chúng ta, cảm tạ ngài đã ban chúng ta được phục vụ Ngài, cảm tạ Ngài đã cho chúng ta được hữu dụng trong Tình Yêu Quan Phòng của ngài.


Đài Chân Lý Á Châu


Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2012

Sức mạnh của lòng tin

[caption id="attachment_2788" align="aligncenter" width="360" caption="“Tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý” (Mc 11,24)"][/caption]

Một trong những lý do đầu tiên giải thích cho thất bại trong đời sống cầu nguyện của chúng ta chính là chúng ta cầu xin quá nhiều nhưng lại không bao giờ trông đợi lời đáp trả. Chúng ta không ngừng cầu xin, nhưng lại không hề thật sự trông chờ câu trả lời, cho đến khi cơ bắp tâm hồn chúng ta mềm nhũn vì chúng ta đã không tập luyện sức mạnh nhận lãnh.

Tôi thà cầu nguyện với Thiên Chúa bằng lòng tin thật sự và nhận được lời đáp trả, hơn là gửi vô số những lời cầu xin và không bao giờ nhận lại được gì. Sẽ tốt hơn rất nhiều khi xin Chúa vài điều và nhận được câu trả lời hơn là bị tổn hại đến niềm tin bởi việc làm suy yếu sức mạnh của sự lãnh nhận.

Thật đáng thương cho những người cầu nguyện liên lỉ, kiên nhẫn chờ đợi, rồi than khóc, vì những lời cầu nguyện của họ dường như không được nghe thấy và không được đáp trả, và cuối cùng, đau khổ và thất vọng, họ bỏ cuộc, nghĩ rằng Thiên Chúa không quan tâm, trong khi chính họ không nhận ra và tuân theo quy tắc của đức tin mà Chúa nói rất rõ trong Lời của Ngài.

Vấn đề là ở chỗ chúng ta hành động như thể Thiên Chúa là một Đấng chuyên quyền nhẫn tâm, Đấng mà chúng ta cố vượt qua sự kiên quyết và không sẵn lòng của Ngài bằng những lời cầu nguyện than van liên lỉ, nhưng sự thật Thiên Chúa đang cố gắng vượt qua sự thiếu lòng tin của chúng ta và mong muốn ban cho chúng ta những gì lòng chúng ta khao khát.

Phần việc của chúng ta chính là nhận lấy. Phần việc của Ngài chính là trao ban. Đúng vậy, chúng ta cầu xin, nhưng lại không nhận lấy. “Khi cầu nguyện, hãy tin là mình đã được rồi”. Ngài đã ban và Ngài chờ đợi ban nhận lấy, và bạn hoàn toàn có thể nhận lấy, vì Ngài đã ban cho bạn khả năng làm điều đó.

“Tôi có thể tin, tôi sẽ tin và tôi tin”. Tôi có thể tin bởi vì Chúa ban cho tôi khả năng đó. Ngài không bao giờ đòi hỏi con cái của Ngài điều gì mà chúng không có khả năng. Vì thế, tôi có thể tin nếu tôi tin. Vì thế tôi sẽ tin bởi vì Thiên Chúa mong đợi tôi rèn luyện ý chí tin tưởng của tôi vào Lời Ngài. Và tôi tin, bởi vì giờ đây chính là thời gian của Thiên Chúa, bởi vì tôi cầu nguyện và tôi tin rằng tôi nhận được ngay sau khi lời cầu nguyện của tôi kết thúc, như Kinh Thánh đã nói: “Tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý” (Mc 11,24).

Vì thế, có những lúc tôi phải ngừng cầu nguyện và bắt đầu tin tưởng. Khi tôi cầu xin, tôi phải tin tưởng ngay chứ không phải tin tưởng trong tương lai. Lòng tin vào tương lai chính là hy vọng chứ không phải là tin tưởng, và như ai đó đã nói rất khôn ngoan: “Niềm tin không phải là hy vọng”. Hy vọng đặt một sự việc vào trong tương lai, trông đợi một thời gian xa, nếu Chúa thấy phù hợp, Ngài sẽ cho câu trả lời; còn lòng tin đặt sự việc vào trong quá khứ và xem như nó đã hoàn thành. Sự việc được hoàn thành đơn giản bởi vì Thiên Chúa đã phán như thế.

Niềm hy vọng hướng đến ngày mai, trong khi lòng tin để lại vấn đề ở ngày hôm qua, xem như sự việc đã xong và sẽ luôn nhìn lại nơi ấy và nói: “Sự việc đã xong, tôi đã hoàn thành giao dịch với Chúa. Tôi tin Ngài sẽ thực hiện lời Ngài và xem như nó đã xong, bởi vì Ngài đã nói thế”. “Lý do khiến chúng ta mạnh dạn trước mặt Thiên Chúa, đó là: Người nhậm lời chúng ta khi chúng ta cầu xin điều gì hợp ý Người. Nếu chúng ta biết rằng Người nhậm mọi lời chúng ta xin, thì chúng ta cũng biết rằng chúng ta có được những gì chúng ta đã xin Người” (1 Ga 5,14-15).

Những gì chúng ta nghĩ không quan trọng, nhưng quan trọng chính là những gì Thiên Chúa nói. Những gì chúng ta cảm thấy không quan trọng, nhưng quan trọng chính là niềm tin chúng ta xác tín điều gì. Dù không nhìn thấy cũng không quan trọng, vì chúng ta bước đi bằng lòng tin.

Có thể bạn có lòng tin, nhưng lòng tin ấy có thích đáng không?

Một vị linh mục cố giải thích thật rõ nguyên tắc của lòng tin, ông chìa ra một chiếc đồng hồ đắt tiền trước một nhóm những bé trai ngồi hàng ghế đầu trong nhà thờ.

“Tony, con có muốn có chiếc đồng hồ này không?” - vị linh mục đưa chiếc đồng hồ ngay trước mặt cậu bé. “Ồ, cha đừng trêu con” - cậu bé trả lời. Vị linh mục lặp lại câu hỏi với cậu bé tiếp theo. Và câu trả lời nhanh nhảu: “Cha đừng gạt con. Hôm này đâu phải ngày Cá Tháng Tư”.

Câu hỏi lại được lặp lại, hết lần này đến lần khác dọc theo dãy ghế và tiếp tục với những câu trả lời hài hước tương tự. Cuối cùng, vị linh mục đưa chiếc đồng hồ đến một bé trai khoảng 5 tuổi ngồi phía ngoài, với đôi mặt sáng rỡ nhìn chằm chằm vào vị linh mục. Đôi chân của cậu bé không chạm tới đất, nhưng cậu bé vẫn ngồi thăng bằng sát mép ghế và sẵn sàng nhảy lên, vị linh mục không có cơ hội nói hết câu: “Cậu trai, con có muốn…”. Bấy nhiêu đó đã đủ, bàn tay mũm mĩm nhanh chóng chộp lấy chiếc đồng hồ. “Chộp lấy” là từ duy nhất có thể diễn tả đúng hành động hăm hở và mạnh bạo của cậu bé với niềm tin tưởng, vào rồi cậu bé bỏ món quà vào túi, nhích người ngồi lại sát vào ghế vòng tay nghiêm trang với vẻ mặt toại nguyện. Đó là món quà cậu mong ước đã lâu.

Sau buổi lễ, nhóm các bé trai vây quanh vị linh mục phân trần: “Làm sao con biết chắc là cha nói thật?” và “đó là chiếc đồng hồ chúng ta luôn muốn có”.

“Tại sao cha không nói với chúng con là cha nói thật?” “Nếu cha nói thật, tại sao cha không đặt vào tay con, hoặc hỏi lại lần nữa, như vậy con biết chắc”.

Mỗi cậu bé đều muốn vị linh mục đặt vào tay chúng, hơn là tự chúng chìa tay ra nhận lấy, trong khi đứa bé nhỏ nhất kia có được lòng tin thích đáng và đã tự nhận lấy món quà được mời tặng. Cậu bé ấy đã đặt đức tin vào trong hành động.

Rất nhiều người không có lòng tin thích đáng. Cách nào đó, họ tin rằng mình được cứu độ và họ tin những lời hứa của Chúa chỉ là bâng quơ không cụ thể cho từng người. Nhưng họ không biết rằng những lời hứa của Thiên Chúa “phù hợp” với từng người một. Họ không biết phải “nhận từ Chúa như thế nào”. Dù luôn cầu xin, nhưng họ không bao giờ nhận được gì, đơn giản bởi vì họ không hiểu được nguyên tắc lòng tin. Nó được giải thích thật dễ hiểu trong Kinh Thánh: “Tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý”. Nếu không có được niềm tin như thế, chúng ta không thể nào tận dụng hết đặc quyền vinh dự được làm con Thiên Chúa hoặc hoàn toàn sử dụng quyền thừa kế của mình.

Nghi Ân dịch

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Bàn Chân Năm Ngón

[caption id="attachment_2765" align="aligncenter" width="294" caption="Lạy Chúa, xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúa"][/caption]

Một người thanh niên tên là Tony Melendez bỗng trở nên quen thuộc với nhiều người kể từ khi Ðức Gioan Phaolô II đến viếng thăm tiểu bang California, Hoa Kỳ dạo mùa hè năm 1987. Nhiều người đã chứng kiến buổi lễ tiếp đón Ðức Thánh Cha hôm đó và khó quên hình ảnh vô cùng cảm động khi vị Giáo Hoàng bước xuống từ một lễ đài cao để ôm hôn một người thanh niên đang hát với tiếng đàn Guitar của mình. Ðiều gì đã làm cho khung cảnh ấy trở nên khác lạ và giây phút ấy đã trở nên luyến nhớ cho nhiều người? 

Tony là hiện thân của niềm Hy Vọng. Tony đã chào đời không có hai cánh tay. Nhưng Tony đã vận dụng những ngón chân của mình để học đàn guitar. Không những thế, anh còn dùng chân trong nhiều công việc khác như xếp quần áo, vắt một ly nước chanh.

 Anh đã biết biến sự tàn tật kém may mắn của mình thành một khả năng thuần thục. Ngạc nhiên trước khả năng lạ lùng ấy của anh, nhiều người đã hỏi anh: "Bí quyết nào đã giúp anh chẳng những chấp nhận chính mình để sống bình thường mà còn sử dụng guitar một cách tuyệt diệu như thế?". Anh đã trả lời như sau: "Tôi đã cầu nguyện: Lạy Chúa, xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúa. Tôi đã tự hiến cho Chúa như một của lễ sống động và Chúa đã nhậm lời tôi".

Không ai trong chúng ta chọn lựa được sinh ra hay không sinh ra. Không ai trong chúng ta chọn lựa làm đàn ông hay đàn bà. Không ai trong chúng ta chọn lựa được làm người xinh đẹp hay xấu xí, thông minh hay ngu đần, khỏe mạnh hay bệnh tật, giàu sang hay nghèo hèn. Dưới mắt người đời, mỗi người chúng ta đến trong trần gian này với cả một định mệnh. Người ta vẫn nói: có người sinh ra dưới một ngôi sao xấu, có người sinh ra dưới một ngôi sao tốt, có người kém may mắn.

Nhưng trong ánh mắt Tình Yêu của Thiên Chúa, thì số phận nào cũng là một hồng ân cao cả. Trong chương trình Quan Phòng của Ngài, mỗi người, dù nhỏ bé hèn mọn, dù tàn tật bất hạnh đến đâu, cũng đều có một chỗ đứng. Do những bất trắc của thiên nhiên, hay do hậu quả của tội lỗi, nhiều người phải sinh ra với tất cả một gánh nặng của bất hạnh. Nhưng Thiên Chúa không bao giờ bỏ cuộc vì những hư hỏng ấy, Ngài luôn có một chương trình cho mỗi người. Lắm khi chúng ta thấy được những kỳ diệu của Thiên Chúa được thể hiện qua những bất hạnh, mất mát của con người.

Đài Chân Lý Á Châu

Lời cam kết của Thiên Chúa

[caption id="attachment_2769" align="aligncenter" width="420" caption="“Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành; hãy vào mà hưởng niềm vui với Chủ ngươi!”"][/caption]

Tôi hiểu được cảm giác của bạn tha thiết muốn biết, muốn thấy những gì còn bỏ trống về tương lai. Mặc dù những lúc gian nan rất khó để chịu đựng, nhưng chúng là thời gian quý giá để ngẫm nghĩ lại những mục tiêu của bạn, ngẫm lại những công việc bạn muốn làm nhiều hơn, để đánh giá lại nền tảng đức tin của bạn. Đó chính là những vấn đề cá nhân rất quan trọng, và Thiên Chúa hài lòng khi Ngài nhìn thấy bạn tin tưởng vào sự hướng dẫn và chăm sóc của Ngài. Chúa Giêsu biết bạn đang phải khó khăn thế nào, và Ngài luôn trung tín trong việc ban cho bạn sự chỉ dẫn, ân huệ và tất cả những gì bạn cần - bao gồm cả điều quan trọng nhất chính là những câu trả lời bạn ao ước.


Những lời hứa của Thiên Chúa luôn đáng tin cậy trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Tôi tin rằng Thiên Chúa sẽ mở những cánh cửa để ban cho bạn những cơ hội tuyệt vời để bạn được dư đầy và đạt được những mục tiêu của mình. Bao lâu bạn hành động vì Chúa dựa vào những phương tiện và khả năng Ngài ban cho bạn, Ngài sẽ hành động vì bạn.

Khi bạn trải qua những mối hiểm nguy mới hoặc thử sức với cơ hội mới, bạn phải kiên nhẫn và kiên định. Hãy cho Thiên Chúa thời gian để Ngài có thể cho bạn thấy những gì Ngài muốn bạn làm, và Ngài ban ơn cho bạn thế nào để vượt qua chúng.

Có thể bạn tự hỏi liệu bạn có thể trông chờ những lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện không. Liệu bạn có thể tin vào chúng, dựa vào chúng và biết rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi bạn nhưng Ngài sẽ ban ơn cho bạn và giữ gìn bạn?

Tôi tin rằng bạn hoàn toàn có thể trông chờ những lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện. - Có thể sẽ không luôn theo như cách bạn nghĩ, nhưng Thiên Chúa sẽ thực hiện theo sự khôn ngoan và tình yêu của Ngài dành cho bạn. Bạn có thể tin tưởng vào những lời hứa ấy, cậy dựa vào chúng, và biết chắc rằng Ngài sẽ ban ơn và chăm sóc cho bạn.

Hãy nghĩ lại: Hầu hết các bạn đều trải qua hết lần này đến lần khác, trông cậy Thiên Chúa giữ gìn bạn, và Ngài đã luôn như thế. Có thể không phải luôn theo đúng như bạn mong đợi, nhưng khi bạn trông cậy vào Thiên Chúa trong đức tin, Ngài giữ gìn bạn qua rất nhiều, rất nhiều điều.

Điều quan trọng không phải là những gì bạn đang làm, mà là bạn đang làm nó như thế nào và tấm lòng của bạn trước Thiên Chúa ra sao. Ngài không quan tâm bạn đang làm gì. Ngài chỉ quan tâm đến lòng tin tưởng, cậy trông và thái độ phục vụ của bạn đối với Ngài, và sự tôn vinh bạn dâng cho Ngài trước bất cứ điều gì Ngài ban cho bạn và giúp đỡ bạn.

Bạn dâng cho Ngài lòng tin tưởng và niềm xác tín năm này qua năm khác, và tôi biết rằng bạn sẽ tiếp tục sống niềm tin ấy trong tương lai cho dù ở bất cứ nơi nào Thiên Chúa dẫn bạn đến hoặc bất cứ điều gì Ngài muốn bạn làm. Và như thế, bạn tiếp tục nhìn thấy sự chăm sóc của Ngài dành cho bạn và cho những người bạn thương yêu, vì chỉ duy nhất Ngài mới có thể làm.

Những suy nghĩ và những ý định của lòng bạn luôn được Ngài nhìn thấy. Ngài luôn ở bên bạn, chăm sóc bạn và dẫn đường chỉ lối cho bạn. Tình yêu của Ngài dành cho bạn luôn không thay đổi, hôm qua cũng như hôm nay và mãi mãi. Tình yêu của Ngài là yếu tố kiên định, không thay đổi và không thể chuyển dời - bạn có thể cậy dựa vào tình yêu của Ngài bây giờ và mai sau.

Mọi người đều trải qua những lúc suy ngẫm, suy tư, nhìn lại mình và tự hỏi: “Tôi đã làm gì với cuộc sống của mình?” và “Tôi sẽ phải trình bày cuộc sống của tôi thế nào một khi nó kết thúc?” Thiên Chúa không muốn bạn nghĩ rằng bạn đang bị Satan tấn công khi những câu hỏi ấy xuất hiện trong tâm trí bạn. Thiên Chúa đã tạo nên quá trình của cuộc sống, và những lúc suy tư, suy ngẫm lại cuộc sống chính là một phần trong quá trình cuộc sống mà tất cả chúng ta đều phải trải qua.

Mỗi người trải qua quá trình suy tư ấy cách khác nhau, vì mỗi người nhìn nhận cuộc sống và phản ứng lại những trải nghiệm trong cuộc sống cách khác nhau.

Khi bạn trải qua quá trình suy ngẫm, hãy xin Chúa giúp bạn nhìn sự việc theo cách nhìn của Ngài. Ngài sẽ nhắc bạn nhớ tất cả những gì Ngài đã làm trong cuộc sống của bạn và Ngài đã dùng bạn như thế nào để hoàn thành ý định và mục đích của Ngài. Bạn đã theo Ngài, có những hy sinh mỗi ngày để làm vui lòng Ngài, vì thế, bạn hãy vui mừng. Có thể bạn không biết rằng mình đã có những ảnh hưởng tích cực đến rất nhiều người - rất nhiều cuộc sống nhờ bạn mà trở nên tốt hơn, phần thưởng trên trời dành cho bạn là vô cùng lớn lao.

Nếu bạn tự hỏi: “Tôi có thật sự hoàn thành được điều gì không? Cuộc sống của tôi không có gì để trình bày cả, không có việc gì lớn lao cả?” Chỉ cần nhớ rằng những việc thuộc về tinh thần mà bạn đã làm bằng tình yêu ảnh hưởng đến cuộc sống và tâm hồn của người khác không phải lúc nào cũng được nhìn thấy. Đôi lúc, bạn nhìn thấy hoặc nghe những kết quả, nhưng có lúc lại không.

Thiên Chúa muốn bạn biết chắc chắn rằng tất cả những gì bạn dâng cho Ngài qua những giọt mồ hôi, những giọt nước mắt đều tác động đến cuộc sống của những người khác bằng tình yêu của Ngài. Một ngày nào đó, Ngài sẽ nói với bạn: “Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành; hãy vào mà hưởng niềm vui với Chủ ngươi!”

Đó là bước đầu tiên - nhìn thấy cuộc sống và những phục vụ của bạn dành cho Chúa thông qua cặp kính 5D của thiên đàng. Vì chỉ bằng cách nhìn thuộc về thiên đàng bạn mới có thể thấy được cuộc sống của bạn, cả ở quá khứ và hiện tại là thật sự như thế nào.

Những thay đổi là tốt, bởi vì chúng giúp bạn đánh giá lại lòng tin của mình. Liệu lòng tin của bạn có được xây dựa trên Thiên Chúa và quyền năng của Ngài có thể gìn giữ, bảo vệ, giúp đỡ, ban phát cho bạn cho dù bạn ở đâu hoặc đang ở cùng ai hay không? Hay nó được xây dựa trên những gì bạn nghĩ sự việc nên xảy ra theo ý mình? Bạn thấy đấy, những thay đổi có thể mang đến một sự suy tư sâu sắc nơi lương tâm và tâm hồn và mang đến sự suy ngẫm cần thiết để củng cố lòng tin của bạn, nhờ thế, bạn có thể hành động dựa với lòng tin theo cách mà bạn lựa chọn.

Những lúc suy ngẫm và đánh giá lại có thể khiến bạn giao động, nhưng hoàn toàn có mục đích. Một khi bạn trải qua thời gian biến đổi và trở về với Thiên Chúa, lòng tin của bạn sẽ được gia tăng thêm.

Những lời hứa của Thiên Chúa không có giới hạn. Ngài sẽ gìn giữ, trợ giúp và bảo vệ bạn cho đến khi Ngài mang bạn về bên Ngài, cho dù hoàn cảnh và điều kiện sống của bạn có thế nào. Vì thế, không phải vì mọi thứ quanh bạn đang thay đổi có nghĩa là tất cả đều biến mất và rằng bạn thất bại. Điều ấy chỉ có nghĩa là bạn cần tìm kiếm Chúa để có được những hoàn cảnh, những điều kiện và những yếu tố mới mang đến sự cân bằng mới cho cuộc sống của bạn, và cùng Ngài tìm ra sự cân bằng mới ấy.

Chúa sẽ luôn giúp bạn chuẩn bị sẵn sàng trước những yêu cầu của tương lai. Ngài sẽ ban cho bạn những ý tưởng và sự khôn ngoan để biết những gì thích hợp với bạn.

Chúa sẽ làm những gì cần làm và sử dụng mọi phương cách để chăm sóc bạn, và bạn sẽ không bị bỏ rơi. Những kết quả trong quá khứ chính là bằng chứng chứng tỏ rằng Thiên Chúa đầy quyền năng ban cho bạn tất cả mọi giải pháp cần thiết trong tương lai.

Đừng lo lắng về tương lai và cố hình dung xem điều gì có thể xảy ra hoặc không xảy ra. Hãy cố gắng hết sức để chuẩn bị cho tương lai, và tiếp tục theo Ngài như bạn đã theo Ngài trong suốt nhiều năm qua, và Ngài sẽ dẫn đường, hướng dẫn bạn và đưa bạn đến những nơi đầy niềm vui - những nơi mang đến hoa thơm trái ngọt cho Vương Quốc của Ngài - và ban cho bạn dư đầy những gì bạn cần.

Nghi Ân dịch

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Tầm quan trọng của niềm tin

[caption id="attachment_2713" align="aligncenter" width="375" caption="Tất cả đều cần đến lòng tin."][/caption]

Hoàn cảnh và điều kiện sống rất dễ ảnh hưởng đến lòng tin của chúng ta. Có rất nhiều điều không diễn ra theo như chúng ta nghĩ và hiếm khi những phép lạ diễn ra một cách rõ ràng. Chúng ta cũng rất dễ dàng cảm thấy bản thân thiếu lòng tin và cảm thấy không xứng đáng có được phép lạ hoặc lời đáp trả cho lời cầu nguyện khi chúng ta nghĩ đến tội lỗi, lỗi lầm, những thiếu sót hoặc những nhân tố khác khiến chúng ta không dám cầu xin Chúa điều gì đó bằng cả lòng tin.

Giải pháp không phải là cố hiểu tại sao sự việc lại xảy ra hoặc không xảy ra - trừ khi có nguyên nhân cụ thể Thiên Chúa muốn bày tỏ cho chúng ta biết để chúng ta có thể rút kinh nghiệm lần sau - nhưng chúng ta hãy rèn luyện phản ứng của chúng ta trước những sự việc ấy. Mục tiêu của chúng ta chính là đối mặt với tình huống bằng lòng tin, sự tin tưởng, trông cậy Thiên Chúa thực hiện những gì Ngài biết là tốt nhất, và tin rằng Ngài sẽ giúp chúng ta vượt qua cho dù mọi việc chuyển biến thế nào đi nữa.

Có rất nhiều yếu tố có liên quan, nhưng chỉ có một thực tại tuyệt đối duy nhất chính là lòng tin - lòng tin vượt xa hẳn bất cứ “bằng chứng” hoặc sự công nhận rõ ràng nào, lòng tin chúng ta có được để bám chắc và vững mạnh trong suốt những ngày đời của chúng ta ngay cả khi chúng ta “chết vẫn còn tin dù chưa được hưởng các điều Thiên Chúa hứa” (Dt 11,13).

Cũng giống như những Kitô hữu khác qua mọi thời đại, chúng ta phải “tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa” (2 Cr 5,7). Dùng những lời hứa của Chúa để đối phó những điều kiện khó khăn và khắc nghiệt trong cuộc sống chính là một phần trong những thách thức và cũng là thể hiện vai trò chứng tá đức tin của họ. Đó chính là một phần danh dự của họ. Đó chính là một phần trong đời sống đức tin. Và điều ấy cũng tương tự đối với chúng ta.

Chúng ta không phải là những người đầu tiên đối mặt với nghịch cảnh và chúng ta cũng không phải là những người cuối cùng. Đó là lý do tại sao chúng ta quay lại với lời của Gióp: “Dù Ngài có giết tôi, tôi vẫn sẽ tin tưởng nơi Ngài”, chúng ta nên có lòng tin như thế, và không lo lắng về những gì không xảy ra hoặc không diễn tiến theo như chúng ta chờ mong.

Hãy tưởng tượng chúng ta đang ở trong một căn phòng với vô số những cánh cửa, và Thiên Chúa nói với chúng ta rằng chúng ta có được chìa khoá để mở hết tất cả những cánh cửa ấy. Chúng ta thử mở hết cánh cửa này đến cánh cửa khác, và không phải mọi chiếc chìa khoá đều mở được hết tất cả những cánh cửa; một vài cánh cửa không mở được bởi vì một quyền năng và một sức mạnh vĩ đại hơn đang đóng chặt nó - chính là thánh ý Thiên Chúa.

Điều cần làm chính là tạ ơn Chúa về những gì không diễn ra suôn sẻ và tiếp tục tìm kiếm thánh ý Ngài. Tin tưởng rằng Ngài sẽ luôn chăm sóc cho chúng ta và Ngài sẽ làm cho chúng ta trở nên thịnh vượng, Ngài sẽ mang chúng ta đến với thành công - thành công mà Ngài biết chúng ta cần và dựa theo những tiêu chuẩn của Ngài. Nếu chúng ta trông chờ rằng chúng ta có thể đòi hỏi điều gì đó theo ý chúng ta và không phải theo ý Ngài, chúng ta sẽ thất vọng (x. Ga 5,30; 1 Ga 5,14).

Thành công đích thực đến từ lòng tin - sự tin tưởng. Điều này không có nghĩa là mọi việc sẽ diễn ra theo cách bạn nghĩ, nhưng có nghĩa là Thiên Chúa sẽ mang đến thắng lợi lúc cuối cùng.

Hãy nghĩ đến tất cả những Kitô hữu đã chết vì đạo hoặc vì tai nạn hay do bệnh tật, cho dù Chúa đã hứa rằng “riêng phần bạn, tuyệt nhiên không hề hấn” hoặc Ngài sẽ giải thoát ta khỏi mọi hành vi hiểm độc (x. Tv 91,7; 2 Tm 4,18).

Ngay cả vào thời Giáo Hội sơ khai, khi có rất nhiều những phép lạ rõ ràng và những biểu hiện về quyền năng của Thiên Chúa, các Tông đồ vẫn phải đối mặt với sự bách hại. Giacôbê đã bị hành hình từ rất sớm, mặc cho những lời cầu nguyện xin cho ông được thoát và an toàn; rồi Phêrô bị bắt và được cứu cách lạ lùng (x. Cv 12)… Chiến thắng trong trường hợp như thế chính là ca ngợi Thiên Chúa, và tiếp tục tin tưởng mạnh mẽ vào Ngài cho dù mọi việc dường như trái ngược.

Kế hoạch của Thiên Chúa luôn sinh hoa kết quả vào lúc cuối cùng, và chúng ta sẽ luôn biết ơn về những lúc chúng ta đã bước đi nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được nhìn thấy Chúa. Càng tin tưởng vào Thiên Chúa chúng ta càng có được sự tự tin để xin và đón nhận. Chúng ta muốn trước hết có được những dấu chỉ, nhưng sự việc không xảy ra theo cách như thế. Chúng ta phải tin tưởng và tiếp tục tin tưởng, và rồi chúng ta sẽ nhìn thấy những câu trả lời.

Mọi điều trong cuộc sống hy sinh và phục vụ của chúng ta đều dựa vào lòng tin. Có những bằng chứng về sự chỉ dẫn thiêng liêng của Ngài, chẳng hạn như qua những thụ tạo của Ngài, và chúng ta nhìn thấy những phép lạ và những lời đáp trả cho lời cầu nguyện nhắc nhớ chúng ta rằng Thiên Chúa là Đấng siêu nhiên và đang hành động thay cho chúng ta. Nhưng chúng ta cần đến niềm tin để tin tưởng, để nhận ra và cảm kích những phép lạ ấy. Từ khởi đầu cho đến hoàn thành đều cần đến lòng tin.

Thiên Chúa biết rõ những lúc chán chường của chúng ta, và kế hoạch của Ngài tuyệt vời hơn kế hoạch của chúng ta. Đó chính là lòng tin - tin rằng Thiên Chúa luôn hiện diện, và xác tín rằng điều gì Ngài đã hứa, thì Ngài cũng có đủ quyền năng thực hiện, và Ngài còn sẽ thực hiện (x. Rm 4,21).

Thiên Chúa biết có những lúc chúng ta cảm thấy những lời hứa của Ngài thật mơ hồ - rằng cần quá nhiều điều kiện, hoặc để nhận được câu trả lời thì lời cầu nguyện phải phù hợp với ý định của Ngài. Đó là sự thật - bất cứ lời hứa nào cũng bao gồm những điều kiện. Thật khó cho chúng ta khi chúng ta không biết được hết kết quả. Nhưng khi chúng ta đặt lòng tin của mình vào một kết quả nào đó thay vì tin Thiên Chúa sẽ thực thi ý định tuyệt hảo của Ngài, khi đó chúng ta dễ dàng bị thất vọng.

Mỗi một tình huống đều có những khía cạnh vượt xa sự hiểu biết của chúng ta. Chúng ta hãy nhớ điều này và đặt lòng tin của chúng ta vào quyền năng của Thiên Chúa rằng Ngài luôn thực hiện những gì Ngài biết là tốt nhất, chứ không phải vào tầm nhìn hạn hẹp của chúng ta cho là tốt nhất.

Trận chiến đức tin mà chúng ta đang đối mặt không phải là điều gì mới mẻ. Bất cứ Kitô hữu nào ở mọi thời đại đều đối mặt với thực tại này và cần đến sự vâng phục và khiêm tốn trước Thiên Chúa trong đức tin.

Chúa đã hứa rất rõ ràng: “Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó” (Ga 14,14). Hãy tưởng tượng tất cả những người đã dùng lời hứa này để xin điều gì đó nhân danh Thiên Chúa, và rồi mọi việc không diễn ra như họ mong đợi hoặc cầu xin. Đó quả là một tình huống thật khó khăn, và khi chúng ta cố chứng minh lời hứa của Ngài là thật bằng cách nói: “Được rồi, nếu lời hứa của Ngài là thật, vậy hãy cho một hộp vàng xuất hiện trước mặt con”, sự việc không xảy ra và chúng ta phải đối mặt với quyết định vẫn tin tưởng vào Ngài, ngay cả khi những điều mâu thuẫn quá rõ ràng và mọi việc khiến chúng ta không hiểu nổi.

Chúng ta phải tin rằng không phải mọi việc điều xảy ra như chúng ta nghĩ. Mọi Kitô hữu đều đối mặt với những tình huống thất vọng và những lần khủng hoảng niềm tin. Nhưng cho dù có đối mặt với những thất vọng, nếu chúng ta có được mối quan hệ mật thiết với Chúa và có một niềm tin đích thực vào Ngài, chúng ta sẽ lựa chọn niềm tin để chống lại tất cả mọi lý lẽ, và chúng ta sẽ hiểu rằng khi mọi việc không xảy ra theo ý chúng ta chính là Thiên Chúa có một kế hoạch khác tốt hơn; Ngài luôn ở bên chúng ta, và đối với Ngài mọi việc đều có thể.

Xét về lâu dài, những thất vọng thách thức lòng tin của chúng ta sinh ích cho chúng ta nhiều hơn những sự việc diễn tiến theo cách chúng ta muốn. Những thất vọng khiến chúng ta chín chắn hơn, giúp chúng ta xem xét lại lòng tin của mình, và khi chúng ta làm như thế, chính là lúc chúng ta đạt đến điểm mấu chốt: có rất ít những điều thuộc thế giới tinh thần được chứng tỏ trong thế giới vật chất, và rằng quyết định tin hay không tin là do lựa chọn của chúng ta, chứ không phải nhờ vào thực tế. Đó là lý do tại sao chúng ta gọi đó là đức tin, bởi vì chúng ta không thể nhìn thấy, chúng ta không thể chứng minh. Không thấy mà tin là một mối phúc (x. Ga 20,29).

Chúng ta có thể lựa chọn tin hoặc không tin. Nếu chúng ta chọn tin, chúng ta sẽ ít bị quật ngã bởi “những cơn gió và những đợt sóng”, bởi những hoàn cảnh và điều kiện sống vốn kéo chúng ta ra xa niềm tin, và chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn chứ không phải yếu đuối hơn. Đó chính là chu trình chiến thắng, phát triển và là những lời đáp trả cho lời cầu nguyện, là chu trình của niềm hạnh phúc và lòng cậy trông vào Chúa.

Lòng tin chính là chiến thắng. Không có bằng chứng nào thoả mãn được tâm trí thuộc về xác thịt; không thử thách nào mà Thiên Chúa đặt ra trả lời được một lần cho tất cả mọi câu hỏi. Không một điều gì có thể thay thế được vai trò của lòng tin. Lòng tin chính là cây cầu vô hình bắc ngang giữa những gì chúng ta nhìn thấy và những gì chúng ta không thể nhìn thấy. Lòng tin bắc ngang khoảng trống và đạt được những phép lạ. Ngay cả khi chúng ta chết trong niềm tin mà chưa nhận được trọn vẹn lời hứa, chúng ta cũng đã toàn thắng (x. Rm 8,37) vì chúng ta bước đi nhờ lòng tin chứ không phải do được nhìn thấy, và chúng ta đã làm những gì phải làm và đã hoàn thành nhiệm vụ.

Từ nay trở đi, lòng tin chính là mối liên kết duy nhất giữa chúng ta với thế giới thần linh. Lòng tin không phải dựa vào điều gì đó chúng ta có thể nhìn thấy hoặc cảm nhận hoặc có thể chứng minh. Có những thứ vượt ra khỏi thế giới vật chất, và có điều gì đó ở bên trong chúng ta tạo nên một sự nối kết cho dù đối với tâm trí tự nhiên nó còn quá mơ hồ.

Đức tin đích thực không bị ảnh hưởng bởi kết quả. Đức tin của chúng ta không được củng cố bởi những sự kiện xảy ra xung quanh, mà được củng cố bằng việc tin tưởng vào Chúa mặc cho những gì đang diễn ra quanh ta. Chúng ta củng cố lòng tin nhờ tin tưởng vào Chúa và tin rằng Ngài sẽ thực hiện lời Ngài đã hứa mặc cho kết quả có ra sao.

Dù mọi việc có tồi tệ và chúng ta vẫn yêu Ngài - đó chính là lòng tin. Bạn đọc những lời Ngài đã hứa và sự việc không diễn ra theo như bạn muốn, nhưng bạn vẫn tiếp tục bước đi cùng Ngài - đó chính là lòng tin. Bạn thất vọng, và rồi lại tiếp tục cố gắng - đó chính là lòng tin. Bạn không bỏ cuộc dù cho sự việc có như thế nào và cho dù điều gì đó xảy ra hoặc không xảy ra - đó chính là lòng tin.

Khi chúng ta hành động như thế, kết quả cuối cùng chính là chúng ta sẽ nhận ra rằng tất cả mọi việc đều thật sự có thể đối với chúng ta, và rằng không hề có thất bại trong cuộc sống vì Chúa. Nhờ bước đi trên con đường của đức tin và không bận tâm về “bằng chứng”, cuối cùng chúng ta sẽ nhận ra rằng những câu hỏi của chúng ta đều được trả lời, tất cả những nhu cầu của chúng ta đều được đáp ứng, và Thiên Chúa giúp chúng ta vượt qua. Nếu một việc gì đó không phải là ý định của Ngài dành cho chúng ta, chúng ta cũng không thật sự muốn nó; tất cả mọi việc cần xảy ra đều xảy ra, chúng ta không bao giờ thất bại, và cuối cùng, kế hoạch của Chúa được hoàn tất.

Tất cả đều cần đến lòng tin.


Nghi Ân dịch