Thứ Năm, 5 tháng 7, 2012

Câu Chuyện về Một Người Cha



Chuyện kể rằng : Người Cha Tốt Lành kia có một cô con gái nhỏ.

Người Cha rất cưng chiều cô con gái, và xem cô như Công Chúa của lòng ông. Cô con gái cũng rất yêu Cha mình và cố gắng luôn làm vui lòng Cha.

Một hôm, bạn bè trong lớp và cô bất đồng ý kiến, làm cô thật buồn, muốn giận hờn và nghỉ chơi với các bạn. Trong giờ học, cô bé không tập trung học, nghĩ miên man “Nếu là Cha, Cha sẽ theo phe mình rồi”. Cô chợt nghĩ “Hay do Cha luôn chiều mình nên mình trở nên đỏng đảnh, dễ hờn giận”. 

Về nhà, cô chạy đến ngay bên Cha “Cha ơi, Cha ơi!”. Người Cha mỉm cười và từ tốn hỏi: “Gì thế, công chúa nhỏ của Cha?”. Cô nhẹ nhàng đến bên và nói thật khẽ: “Từ nay Cha đừng nuông chiều con nữa nhé, kẻo con hư và dễ nổi giận với người khác”. Người Cha không trả lời gì, nắm hai tay con gái và nói: “Cha con mình ra vườn dạo chơi đi!”. Cô vui vẻ hớn hở theo Cha ra vườn, và quên ngay điều mình vừa xin. Cô vui sướng, hãnh diện được Cha nắm tay dắt đi. Cha dắt cô đến những cây này, hoa kia để nhìn ngắm, nhưng sao Cha chẳng nói điều gì, cứ trầm tư nghĩ ngợi. Rồi Cha buông tay và không nắm tay cô con gái cưng nữa. Cô cứ lẽo đẽo theo Cha mình. Một lúc, buồn chán vì Cha không để ý đến mình, cô đứng yên không đi nữa.

Đi khá xa con gái, người Cha như nhớ ra, vội quay đầu nhìn lại, thì thấy con gái nhỏ đứng từ xa, vẻ mặt đầy giận hờn muốn khóc. Người Cha vội vã quay trở lại và bồng con gái cưng trên tay. Cô liền vui vẻ ngay và thôi hờn giận Cha. Trên tay Người Cha Tốt Lành, cô bá vai, quàng cổ Cha, hôn lên đầu, lên mặt Cha vì Cha thật đáng yêu và dịu hiền.



Bạn thân mến, bạn thử nghĩ, Người Cha Tốt Lành đó là Thiên Chúa, và người con nhỏ như Công Chúa, Hoàng Tử là mỗi người chúng ta. Mỗi người chúng ta đều là Con Một của Thiên Chúa, và được Ngài rất mực yêu thương. Nghĩ như thế bạn không hạnh phúc sao!

Phải, mỗi người chúng ta đều có một chỗ đứng, một vị trí đặc biệt trong Trái Tim của Thiên Chúa: “Trước khi ngươi được thành hình trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi. Trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi” (Giêrêmia 1,5). Thiên Chúa luôn dành một Tình yêu thương nồng nàn cho chúng ta là những người Con Một của Ngài. Trước Tình yêu thương chân thành của Thiên Chúa là Cha, lẽ nào chúng ta vẫn nhắm mắt làm ngơ, như vô cảm trước Thiên Chúa?

Là cha là mẹ, khi con cái không yêu thương bạn, hất hủi bạc bẽo với bạn, bạn cảm thấy thế nào? Bạn hẳn rất buồn, đau khổ và thất vọng với người con của mình. Nhất là khi người con Duy Nhất không yêu thương, trái lại, rất vô cảm, dửng dưng với bạn, bạn còn đau khổ dường bao!

Cứ đặt trường hợp này vào Thiên Chúa, bạn sẽ hiểu Thiên Chúa đau khổ, Trái Tim Người thổn thức thế nào khi chúng ta thờ ơ lãnh đạm với Thiên Chúa! Chúng ta không đến với Ngài, không chuyện vãn với Ngài, trong khi Thiên Chúa luôn chờ đợi, luôn giang rộng tay chờ đón để ôm ta vào lòng.

Cuộc sống có quá nhiều điều vượt sức con người. Nếu chúng ta luôn dựa vào sức mình, sẽ có ngày chúng ta quỵ ngã vì mệt mỏi. Đừng chần chờ gì nữa, bạn hãy mau chạy đến với Thiên Chúa là Người Cha đầy Quyền Năng và Tình Thương, Người sẵn sàng đưa tay giải quyết mọi vấn đề cho chúng ta bằng tất cả sự Nhân Hậu của Người.

Bạn ơi, Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi bạn, vậy bạn cũng đừng bỏ rơi Thiên Chúa nhé!

T.CN

Một cuộc sống bình an


Các ngươi nhảy khập khiễng 2 chân cho tới bao giờ? Nếu Đức Chúa là Thiên Chúa hãy theo Người; còn nếu là Ba-al thì cứ theo nó. ( 1V18,21)

Dân Do thái nhảy khập khiễng hai chân, nghĩa là vừa tôn thờ Thiên Chúa lại vừa theo Ba-al; lúc thì theo Chúa, lúc thì theo Ba-al, như thế thì không được. Theo bên nào thì theo một bên thôi chứ. Nếu nhận Chúa là Thiên Chúa thì hãy theo Người; nếu nhận Ba-al là Chúa thì hãy theo nó, chọn cái nào chọn một cái thôi, chứ "bắt cá hai tay", thì chẳng được gì đâu. Hai tay, mỗi tay ta bắt một con cá làm sao mà bắt được. Bắt một tay, một con đã khó, đàng này hai tay mỗi tay bắt một con cá thì làm sao mà bắt được. Ta sẽ bị phân tâm, nhìn con này thì không thấy con kia; để ý tay này thì không điều khiển được tay nọ. Rốt cuộc vừa mệt mỏi, lại vừa chẳng bắt được con nào hết. Cũng như hai chân không bình thường mà lại khập khiễng, chân thẳng chân cong; chân dấu chấm, chân dấu phẩy thì làm sao mà đi cho thẳng thắn được, vừa không đẹp, lại vừa không vững, không nhanh, không mạnh, nhìn khó coi. Một chân giả, một chân thật; một chân thịt, một chân gỗ thì phải đi khập khiễng thôi. Ai vừa theo Chúa, vừa theo Ba-al (tức là theo thế gian hay tiền của); vừa theo ơn gọi này, vừa để ý tới ơn gọi kia; vừa làm công việc mình vừa để ý tới công việc của người khác; đứng núi này trông núi nọ thì cũng vậy. Sống một cách khập khiễng, hai lòng cũng không đẹp và không vững. Sống hai lòng không có tốt lành và không đạo đức được; vừa làm công việc của mình lại vừa xía vô việc của người khác sẽ không mang lại kết quả. Dở dở ương ương, hay thay lòng đổi dạ thì khó chịu và xấu xa lắm. Ta có quyền chọn một trong hai và chọn cái nào thì chọn một cái; theo bên nào thì theo một bên thôi, chứ đừng lừng khừng, đừng khập khễnh, lúc theo bên này, lúc theo bên kia; lúc thế này lúc thế nọ, làm sao mà sống, làm sao mà làm việc, làm sao mà được tin cậy và yêu mến được.



Bắt cá phải hai tay chụm lại thành một thì có thể bắt hai con cá cùng một lúc được, nghĩa là phải hết lòng, hết sức, dồn tâm, dồn trí vào một đối tượng, vào một Chúa, một ơn gọi, một công việc, ta sẽ bắt được cả hai, tức là vừa yêu người, vừa mến Chúa; vừa mến Chúa, vừa yêu người; sống ơn gọi của mình và nâng đỡ ơn gọi của người khác; vừa hoàn thành công việc của mình, vừa làm cho người khác đỡ cực, đỡ khổ. Đi đứng cho đàng hoàng, tử tế, đừng có đi vòng kiềng, đừng có đi kiểu "chấm phẩy", đừng có đi khập khễnh, xấu lắm. Nghĩa là đừng sống giả dối; ngoài miệng thì đạo đức, trong lòng thì mưu mô, "khẩu Phật, tâm xà"; "miệng thì Nam mô, trong lòng thì một bồ dao găm"; bên ngoài thì thánh thiện, trong lòng thì quỷ quái. Sống như thế là sống chân thật và chân giả; chân thịt và chân gỗ đấy. Sống ơn gọi nào thì phải sống hết mình cho ơn gọi đó, đừng có chân trong chân ngoài, đứng núi này, trông núi nọ, không có bình an, không có hạnh phúc. Làm việc thì hãy lo làm việc của mình, đừng có xía vô chuyện của người khác; việc mình thì mình lo; việc người thì để người lo, không đẹp, không mang lại kết quả tốt sao? Như thế đẹp hay xấu; nhanh hay chậm; vững vàng hay yếu nhược là do mình quyết định. Nếu ta chọn Chúa, chọn một ơn gọi, chọn việc của ta mà làm, mà trung thành thờ Chúa; hết lòng với ơn gọi; hết sức với bổn phận của ta thì tướng đi của ta đẹp lắm, oai phong lẫm liệt lắm; lòng của ta thánh thiện và bình an lắm; con người của ta sẽ vững vàng; trí óc của ta sẽ nhanh nhậy; cuộc đời của ta sẽ tốt lành và hạnh phúc lắm.

Vậy ta hãy suy nghĩ cho kỹ và quyết định cho dứt khoát để tôn thờ một Chúa, sống một ơn gọi và làm việc bổn phận và trung thành cho đến cùng, chứ đừng dở dở ương ương, hay thay lòng đổi dạ, chân trong chân ngoài, ta sẽ có một cuộc sống bình an và một cuộc đời hạnh phúc.

(Lm. Bosco Dương Trung Tín)

Bí ẩn Đại Hồng Thủy và con tàu của Nôê



Vào năm 1959, Llhan Durupinar, lúc ấy đang là một viên đại úy quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, đã khám phá ra một hình thù bất thường trong khi đang kiểm tra các bức ảnh chụp từ trên không. Vật thể này lớn hơn một sân bóng đá, nổi bật lên khỏi địa hình đồi núi mấp mô ở độ cao gần 2.000m thuộc dãy núi Ararat, gần biên giới Iran – Thổ Nhĩ Kỳ.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 1)
Tọa độ con tàu: 39 26’ 26.09″ Bắc, 44 14’ 04.29″ Đông


Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 2)
Con tàu nằm giữa một dòng bùn cổ (Ảnh chụp năm 1959)


Đây là một khu vực xa xôi hẻo lánh, chỉ có dân cư của một số ngôi làng nhỏ sinh sống tại đây. Trước đó chưa hề có báo cáo nào về vật thể kỳ lạ này. Vì vậy đại úy Llhan Durupinar đã chuyển âm bản của bức hình cho chuyên gia chụp ảnh trên không là tiến sỹ Brandenburger, thuộc Trường đại học bang Ohio nước Mỹ. Sau khi nghiên cứu bức ảnh chụp của đại úy Llhan Durupinar, Brandenburger kết luận: “Tôi chắc chắn, rằng vật thể này là một con tàu. Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, tôi chưa từng trông thấy vật thể nào như cái này…”.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 3)


Vào năm 1960, bức ảnh phía trên đã được xuất bản trong tạp chí LIFE trong bài viết tựa đề “Có phải tàu Noah?“. Cũng trong năm đó một nhóm nghiên cứu người Mỹ đã đi theo đại úy Llhan Durupinar đến địa điểm trong tấm hình. Họ trông đợi sẽ tìm được những cổ vật hay cái gì đó mà có thể chứng minh vật thể lạ kia đúng thật là một con tàu. Sau hơn 1 ngày đào bới trong khu vực mà không tìm được, họ tuyên bố rằng vật thể lạ có vẻ chỉ là một kiến tạo tự nhiên. Câu chuyện nhanh chóng chìm vào quên lãng.

Vào năm 1977, Ron Wyatt tới viếng thăm địa điểm này. Được chính quyền địa phương cho phép, Ron và những người khác đã nghiên cứu kỹ lưỡng khu vực này trong nhiều năm. Họ sử dụng máy dò kim loại, máy quét radar ngầm, tiến hành thăm dò cẩn thận, thực hiện các phân tích hóa học, vv… Những kết quả thu được hoàn toàn xứng đáng với tâm sức mà họ đã bỏ ra. Những khám phá của họ đã làm chấn động Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Vật thể lạ quả thực là một con tàu cực kỳ cổ xưa. Đó là một con tàu rất lớn, thuộc “thời tiền sử”, tại sườn núi ở độ cao 2.000m trên mực nước biển,… và không chỉ có thế.



Bằng chứng trực quan

Phần đầu tiên của cuộc nghiên cứu là kiểm tra vật thể và đo các kích thước của nó. Vật thể trông giống phần thân của một con tàu lớn. Một đầu nhọn là mũi tàu, đầu kia bo lại – đuôi tàu. Khoảng cách từ mũi đến đuôi là gần 160m (chính xác 300 cubit Ai Cập).

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 4)


Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 5)


Trên mạn phải của con tàu, gần đuôi (điểm B) có 4 thanh lồi ra khỏi phần đất bùn, cách đều nhau, đã được xác định là các sườn khung của thân tàu. Đối diện với chúng, ở bên mạn trái, có một thanh sườn cũng lồi ra khỏi đất bùn (điểm A). Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy dáng cong của nó. Xung quanh đó là rất nhiều sườn khác, phần lớn vẫn chôn vùi trong đất, nhưng kiểm tra kỹ đều có thể thấy được.

Gỗ của con tàu đã bị hóa thạch. Các chất hữu cơ đều đã bị thay thế bằng khoáng chất, chỉ còn lại hình thù và dấu vết của các thanh sườn tàu. Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao cuộc khảo sát năm 1960 đã không có kết quả, bởi tại những chỗ mà họ tìm kiếm, gỗ đều đã hóa thạch và xói mòn từ rất lâu trước đó.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 6)
Dấu vết những thanh sườn gỗ hóa thạch bên mạn tàu


Con tàu này nằm giữa một dòng bùn khô. Căn cứ theo vị trí của con tàu và dòng bùn, có thể thấy rõ vật thể này đã bị cuốn trôi cùng dòng chảy của bùn, ra cách xa khỏi vị trí ban đầu của nó khoảng 1,6 km. Các nhà địa chất học tin rằng ban đầu con tàu này nằm ở vị trí cao hơn chỗ hiện tại khoảng 300m, và bị bao bọc trong một lớp bùn cứng hơn. Họ cho rằng một trận động đất hồi năm 1948 đã phá vỡ lớp vỏ bùn cứng ấy và làm con tàu lộ ra. Điều này cũng được dân làng xung quanh đó xác nhận.

Phân tích tàn tích của con tàu, sử dụng các phương tiện khác nhau, người ta xác định con tàu ban đầu có cấu trúc khá phức tạp, với các kích thước cụ thể ghi trong hình:

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 7)


Radar xuyên đất

Mắt người chỉ nhìn được vật thể nhờ ánh sáng phản chiếu của nó. Để nhận ra những vật thể nằm bên dưới mặt đất, các nhà khoa học sử dụng sóng siêu âm xuyên qua mặt đất. Kỹ thuật này thường được dùng để xác định vị trí dầu mỏ và các khoáng chất khác. Thiết bị để làm việc này được gọi là Radar xuyên đất (máy GPR).

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 8)


Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 9)


Đội các nhà địa chất đánh dấu các dải băng màu vàng dọc theo vật thể. Sau đó họ rà quét theo các đường này để thu thập dữ liệu và phân tích. Sau khi phân tích toàn bộ, họ đã lập ra được bản đồ của vật thể cùng với những gì đang nằm bên dưới mặt đất. Và kết quả là đây:

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 10)
Radar ngầm đã giúp xác định rõ các cấu trúc bên dưới mặt đất. Chúng hoàn toàn đối xứng và có bố cục rất hợp lý


“Dữ liệu này không tương ứng với kiến tạo địa chất tự nhiên. Chúng là những cấu trúc nhân tạo…”- Ron Wyatt cho biết.

Radar cũng cho thấy nhiều cấu trúc cây gỗ bên trong thân tàu. Các phân tích đã xác định chúng là những thanh gỗ sống tàu, sống phụ, mép tàu, các buồng ở, các buồng động vật, hệ thống thang (con tàu có 3 tầng), cánh cửa phía mũi mạn phải, 2 cái thùng lớn ở gần mũi tàu kích thước 14 x 24 inch, và một giếng trời nhỏ ở khu vực chính giữa con tàu để thông khí cho toàn bộ 3 tầng của con tàu tiền sử vĩ đại này.

Các hiện vật

Sử dụng máy Radar xuyên đất, Ron Wyatt đã khám phá ra một khoang trống ở bên mạn phải của con tàu. Ông khoan vào bên trong khoang trống này để lấy mẫu và đã thu được những thứ rất thú vị.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 11)
Trái: lỗ khoan dò. Phải: phân động vật hóa thạch


Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 12)
Trái: gạc hươu hóa thạch. Phải: một chùm lông mèo


Có lẽ khám phá quan trọng và đáng kinh ngạc nhất thu được từ hiện trường là một miếng gỗ đã hóa thạch. Khi mới được tìm thấy, người ta tưởng rằng đó là một miếng gỗ đơn thuần của sàn tàu. Nhưng khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, nó hóa ra gồm 3 tấm ván khác nhau, được cán mỏng sau đó gắn chặt với nhau bằng một loại keo dán hữu cơ. Nó rất giống với cách chế tạo gỗ dán của chúng ta ngày nay! Gỗ dán có sức bền lớn hơn nhiều so với gỗ thường. Điều này chứng tỏ người cổ xưa có trình độ công nghệ rất cao.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 13)
Trái: Các kiểm tra do phòng thí nghiệm Galbraith Labs tại Knoxville, Tennessee, Mỹ thực hiện, cho thấy mẫu gỗ hóa thạch chứa 0,7% carbon hữu cơ.
Phải: Bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này, người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt


Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 14)


Kiểm tra cho thấy phần keo dán rỉ ra từ các lớp gỗ. Bề ngoài của mẫu vật từng được phủ một lớp nhựa đường, cũng đã hóa thạch.

Điều thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn nữa, là người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này.
Trong sách Genesis 6:14, Thần bảo Noah “hãy tự đóng một con tàu bằng gỗ gopher”.

Từ “Gỗ gopher” này thực ra là lỗi dịch sai, đúng ra phải là “gỗ kopher”. Kopher nghĩa là nhựa đường, “gỗ kopher” nghĩa là gỗ được phủ nhựa đường.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 15)
Ký tự tương đương với “g” và “k” trong tiếng Do Thái cổ


Nguyên nhân là khi người ta dịch Genesis từ văn bản tiếng Do Thái cổ sang tiếng Anh, thì họ đã bị lẫn lộn giữa ký tự G và ký tự K, vốn có cách viết rất giống nhau trong tiếng Do Thái. Thực ra bản Bible tiếng Anh, phiên bản King James, có nhiều lỗi dịch sai tương tự như thế. Ví dụ: Acts 7:45 , Hebrews 4:8,… Đáng chú ý là nhiều phiên bản Bible các thứ tiếng khác lại dịch từ tiếng Anh ra, cho nên lỗi hiểu sai và dịch sai còn phổ biến hơn nhiều.

Chúng ta thường bị dạy một cách quá bài bản rằng loài người trải qua “thời kỳ đồ đá”, “thời kỳ đồ sắt”, vv… Người ta xếp “thời kỳ đồ sắt” vào khoảng hơn 3.000 năm trước đây. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có những cây đinh sắt, cắm bên trong một tấm gỗ dán đã hóa thạch, của một con tàu khổng lồ thời tiền sử.

Mẫu vật đáng kinh ngạc nhất đã được khám phá nhờ các máy dò kim loại. Đội nghiên cứu đã xác định được một số vị trí mà ở đó có tín hiệu mạnh nhất. Sau khi đào lên, họ đã tìm thấy những cái đinh tán lớn có hình đĩa. Quan sát, chúng ta đều có thể thấy chỗ mà những đinh tán này đã được gõ bẹt đầu sau khi xỏ xuyên qua lỗ.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 16)
Chiếc đinh tán cắm ngập vào phần thân gỗ hóa thạch. Kết quả phân tích cho thấy nó được làm bằng một loại hợp kim mà thành phần có chứa cả nhôm


Người ta tiến hành phân tích để tìm hiểu xem kim loại gì đã được sử dụng để làm ra những cái đinh tán đó. Kết quả là: nó có chứa sắt (8.38%), nhôm (8.35%) và titan (1.59%). Nhưng đó chỉ là phần kim loại chưa bị rỉ sét hẳn, cho nên thành phần nguyên thủy ban đầu của thứ hợp kim kỳ lạ này chính xác gồm những gì vẫn còn là bí ẩn.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 17)
Kết quả phân tích của phòng thí nghiệm Galbraith


Sách giáo khoa nói rằng trong tự nhiên nhôm không tồn tại ở dạng kim loại, rằng đến cuối thế kỷ 19 người ta mới sản xuất được nhôm vì việc này đòi hỏi công nghệ luyện kim và kỹ thuật rất cao. Hợp kim Sắt-Nhôm tạo ra lớp nhôm ôxit mỏng có khả năng chống rỉ và ăn mòn rất tốt. Thành phần titan giúp hợp kim bền vững hơn. Có lẽ nhờ vậy mà những chiếc đinh tán còn tồn tại được đến tận ngày nay mà chưa bị rỉ nát.

Tàu Noah bị lãng quên từ bao giờ?

Cách con tàu vài km, người ta tìm thấy nhiều khối đá rất lớn, một số dựng đứng trong khi số khác nằm ngã trên mặt đất. Những khối đá này nặng nhiều tấn, có lỗ xuyên qua. Các nhà nghiên cứu đã xác định rõ rằng chúng là những cái neo, còn những cái lỗ là để buộc dây thừng.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 18)


Những khối đá neo này thường có nhiều dấu khắc chữ thập. Những dấu khắc hình chữ thập trên những khối đá này là do những người hành hương từ thời Trung cổ tới đây để được chiêm ngưỡng con tàu huyền thoại. Thực ra, con tàu này đã nổi tiếng ngay từ thời Trung cổ, thậm chí là từ trước đó nữa. Địa điểm của con tàu này đã được ghi lại trong nhiều tài liệu lịch sử khác nhau.

Sử thi Gilgamesh (niên đại ít nhất 2660 năm trước) nói rằng đỉnh núi Nisir là nơi an nghỉ của con tàu huyền thoại. Địa điểm trong thực tế tên là Nasar.

Cổ thư Houd Sura 11:44 (thuộc bộ sách Koran) ghi: “Một giọng nói cất lên: “Đất hãy rút nước của ngươi. Trời hãy ngừng mưa của ngươi”. Hồng Thủy dịu đi và ý chí của Allah đã được thực hiện. Con tàu đến an nghỉ trên ngọn Al-Judi, và nghe thấy một giọng nói: “Những kẻ xấu ác đều đã chết. Chính xác. Ngọn Al-Judi chính là nơi ban đầu con tàu nằm, trước khi bị dòng bùn cổ cuốn trôi xuống vị trí hiện nay.

Cổ thư Genesis 8:4-5 (thuộc bộ sách Bible) ghi: “Và con tàu yên nghỉ vào tháng thứ 7, ngày 17 tháng ấy, trên dãy núi Ararat. Và nước rút liên tục cho đến tháng thứ 10: vào tháng thứ 10, ngày đầu tiên tháng ấy, [con tàu] được trông thấy trên đỉnh của các ngọn núi ấy”. (chính xác)

Biên niên sử Ashurnasurpal II của Assyria (833-859 trước công nguyên) nói con tàu nằm lại ở phía nam của dòng sông Zab. (chính xác)

Cuốn Theophilus của Antioch (115-185) nói rằng vào thời của ông người ta có thể trông thấy được con tàu trong những ngọn núi của người Arab. (chính xác)

Vào thế kỷ 13, một du khách tên là Willam đã nói rằng ngọn núi Masis là vị trí mà con tàu nằm lại. Chính xác, ngày nay ngọn núi này có tên là Ararat.

Cuốn Geographia của Ptolemy (1548) nói dãy núi Armenia là vị trí của con tàu. Du khách Nicolas de Nicolay (1558) cũng nói như vậy. (chính xác)

Không phải ngẫu nhiên mà các nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Babylonia, Lưỡng Hà, Sumeria, Peru, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, châu Mỹ, xứ Wales, Hawaii, Scandinavia, Sumatra, Polynesia, vv… tất cả đều có các phiên bản riêng của họ về một trận Đại Hồng Thủy cực lớn toàn cầu. Thống kê cho thấy toàn thế giới có khoảng 2.000 “truyền thuyết” như vậy. Dưới đây là phân tích sơ bộ một phần nhỏ trong số này.

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 19)
Bảng phân tích nội dung các câu chuyện Đại Hồng Thủy khắp toàn cầu (35/~2000). Phần lớn các câu chuyện đều cho biết đại ý rằng: Đại Hồng Thủy là do Thần tạo ra để hủy diệt loài người vì nhân loại thời kỳ đó đã không còn lương tâm đạo đức, không còn xứng làm người. Nhấn vào hình ảnh để phóng lớn.

Báu vật quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ

Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 19)
Ron Wyatt và đằng sau là tàn tích hóa thạch của con tàu Noah “huyền thoại”. Địa điểm tại độ cao 2.000m trên mực nước biển thuộc dãy núi Ararat này đã trở thành Công viên Quốc gia Noah’s Ark – Báu vật quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ


Bí ẩn Đại Hồng Thủy vàcon tàu của Noah - Tin180.com (Ảnh 20)
Tờ báo lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ: Chính phủ xác nhận: “Đây là tàu Noah”


[youtube=http://youtu.be/cmF2ehsih5U]
Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ công nhận


Vào ngày 20/6/1987, Thống đốc tỉnh Agri của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố với thế giới rằng: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Ataturk, cơ quan khảo cổ Thổ Nhĩ Kỳ… đã công nhận khám phá của nhóm thám hiểm Ron Wyatt. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã công nhận vật thể hình chiếc tàu trên ngọn núi Ararat tại độ cao 2.000m so với mực nước biển ấy là con tàu của Noah. Khu vực này trở thành công viên quốc gia, báu vật quốc gia của họ.

Đây là một trong những phát hiện lịch sử học và khảo cổ học vĩ đại nhất, cho thấy Đại Hồng Thủy là sự thật. Nó đã được công nhận từ 24 năm trước. Nhưng, tại sao sự kiện này bị phớt lờ và hầu như không có phương tiện truyền thông đại chúng nào của thế giới dám nhắc đến? Ai đã buộc họ phải im lặng? Câu hỏi này thực ra còn bí ẩn hơn bản thân con tàu “huyền thoại” ấy.

Minh Trí
(tổng hợp)


Nguồn: Tin180

Hoa Mân Côi


Vua Alfonse VIII, cai trị xứAragonvà Castille, ông đã sống cuộc sống vô luân nên bị Thiên Chúa giáng phạt nhiều cách. Một trong những hình phạt đó là vua bị thất trận thảm hại phải ẩn tránh vào một thành liên minh.

Thánh Ðaminh cũng có mặt trong thành phố ấy. Ngài đang giảng về những ơn phúc lớn lao từ Kinh Mân Côi. Nhà vua chăm chú lắng nghe, và xin gia nhập hội Mân Côi. Với quyết tâm, nhà vua đọc Kinh Mân Côi hằng ngày, trung thành trong suốt một năm.

Gần Lễ Giáng Sinh năm sau, khi nhà vua vừa lần hạt xong, thì Ðức Mẹ hiện đến và phán: "Alfonse, con đã phục vụ Mẹ trong suốt một năm qua, bằng cách sốt sắng đọc Kinh Mân Côi hằng ngày. Vì thế, Mẹ tới để ân thưởng cho con. Mẹ đã cầu bầu cùng Con Mẹ, tha thứ mọi tội lỗi cho con. Mẹ ban cho con chuỗi tràng hạt này, hãy đeo luôn trong người, và Mẹ hứa sẽ không kẻ thù nào hãm hại được con bao giờ nữa".

Nhà vua đầy phấn khích và sung sướng dạt dào, liền đi tìm hoàng hậu, lúc đó đang bị mù vì biến chứng của một căn bệnh hiểm nghèo. Ngài kể cho bà nghe tất cả câu chuyện, những lời Mẹ hứa và món quà Mẹ trao.

Nhà vua giơ cỗ tràng hạt trước mặt hoàng hậu, và thật lạ lùng, bà liền nhìn thấy được. Bà lập tức ca ngợi kỳ công Mẹ đã làm và hết lòng tạ ơn phúc lành Mẹ đã ban.



Chỉ sau một thời gian ngắn, với sự giúp đỡ của đồng minh, nhà vua đã tập hợp được nhiều đạo quân, ngài gan dạ đánh bật quân thù ra khỏi lãnh thổ chúng đã lấn chiếm, khiến chúng phải đền bồi những xúc phạm, lăng nhục đối với ngài trước kia. Nhà vua trở thành kẻ nhiều may mắn, binh lính khắp nơi đều qui phục. Hình như bất cứ khi nào phải giao tranh thì chắc chắn phần thắng thuộc về nhà vua.

* * *


"Chắc chắn phần thắng thuộc về nhà vua". Ðiều đó không có gì lạ, vì không bao giờ ra chiến trường mà trước tiên nhà vua không quỳ gối thành kính đọc Kinh Mân Côi.

Ðức Viện Phụ Blosius dạy: "Kinh Mân Côi với việc suy niệm 15 Mầu Nhiệm về đời sống, cuộc Khổ Nạn và vinh quang của Chúa Giêsu, chắc chắn là điều đẹp lòng Chúa Giêsu và Ðức Mẹ nhất. Ðó là phương thế hết sức hữu hiệu để được mọi ơn phúc và phần rỗi đời đời".

Thật may mắn cho chúng ta, khi lương tâm đè nặng bởi tội lỗi, hãy cầm lấy chuỗi Mân Côi, đọc và suy niệm các Mầu Nhiệm, chắc chắn chúng ta sẽ được lòng thống hối.

Một ngày kia, Chúa Giêsu nói cùng thánh Alain de Roche: "Nếu các tội nhân khốn cùng thành khẩn đọc Kinh Mân Côi, họ sẽ được dự phần ơn phúc do các thương tích của Ta. Ta sẽ là trạng sư của họ, và sẽ làm dịu phép công thẳng của Cha Ta".

Thánh Alain có lòng sùng kính Ðức Mẹ sâu xa, ngài đã được Mẹ tỏ cho biết nhiều điều, chính ngài đã xác nhận sự chân thực của những mặc khải này:

- Nếu người ta bỏ đọc Kinh Kính Mừng vì khô khan hay vì chê ghét kinh này, thì đó là dấu chỉ có lẽ họ bị kết án đời đời.

- Những ai yêu thích lời sứ thần kính chào Mẹ, là mang lấy dấu chỉ đặc bệt của ơn tiền định.

- Những ai yêu mến và phụng sự Mẹ với hết tình con thảo, thì phải tiếp tục yêu mến và phụng sự Mẹ cho tới khi Mẹ đặt họ trên trời bên cạnh Con Mẹ trong mức vinh quang họ đã nắm được.
Lạy Mẹ nhân lành. Mẹ là nơi nướng náu cho các tội nhân. Xin Mẹ hãy che chở bảo vệ chúng con trong giờ phút chúng con lìa trần.

Xin đẩy xa chúng con kẻ thù rất độc ác dữ tợn là ma quỷ luôn rình rập ám hại chúng con.

Xin dẫn dắt chúng con tới tòa án Chúa Giêsu Con Mẹ, nhưng xin đừng bỏ mặc chúng con trước ngai tòa Người.

Xin hãy cầu khẩn cùng Chúa tha thứ cho chúng con, và xin dẫn đưa chúng con tới hàng thần thánh, những người con ưu tuyển của Mẹ, trong vương quốc vinh quang muôn đời của Người. AMEN.

(MARIA: Mẹ Tuyệt Mỹ)

Tiếng sét của tình thương và ơn Thánh


Một thanh niên Canada 23 tuổi đã thuật lại hành trình đi từ khát vọng của ma túy sang lãnh vực của tình yêu như sau:

Ngay từ nhỏ, tôi đã mang một mặc cảm tự ti nặng nề. Vì thế, để người khác chú ý và yêu thương tôi thường đóng kịch. Nhưng trong thâm tâm, tôi tự thấy mình gian dối và trống rỗng. Để lấp đầy khoảng trống đó tôi đã lao đầu vào ma túy, tôi nghe nhạc kích động. Thế là tôi đánh mất tuổi trẻ tươi đẹp của mình, tôi hủy diệt niềm hy vọng mà cha mẹ đặt nơi tôi.

Chỉ có một điều may mắn là tôi luôn giữ vững niềm tin. Cha mẹ luôn truyền đạt niềm tin cho tôi như cơm bánh các ngài nuôi tôi hằng bữa.

Lúc nhỏ, vì không có bạn thân để thổ lộ tâm tình, tôi thường bày tỏ tâm sự với Chúa Kitô. Nhưng giờ đây, tôi đã dìm mình trong ma túy và sa đọa.


Một buổi tối, tôi đang ở nơi ăn chơi thường ngày, bỗng cha mẹ tôi đến, cha tôi nói:

- Thường thì vào giờ này, bố mẹ đi dự buổi cầu nguyện chung. Nhưng tối nay thì bố mẹ thấy sự hiện diện của bố mẹ là cần thiết cho con. Nếu con bằng lòng thì trở về gia đình, bố mẹ hứa sẽ lo đủ mọi điều mà con cần.

Trong mấy phút suy nghĩ về những lời của cha tôi, tôi tâm sự với Chúa và lúc ấy tôi nghe Chúa nói: Muốn thoát khỏi gông cùm của ma quỷ, phương thuốc công hiệu nhất là tình gia đình. Con phải chấp nhận sự chỉ dạy của cha con.

Thế là tôi trở về nhà.

Nhưng dứt hẳn mọi thứ xấu xa ngay đâu có phải là chuyện dễ làm. Vì nghĩ như thế nên ít lâu sau tôi lại đi vào con đường cũ.

Một hôm, tôi đi chơi về khuya lắm, tôi mở cửa vào nhà thì gặp mẹ tôi; bà nhìn tôi với nét mặt lo âu nhưng rất hiền. Mẹ không la rầy mà chỉ nói cho tôi biết là bà đang chờ tôi về. Lúc ấy, tôi như kẻ mất hồn, không trả lời mẹ cũng không để ý đến lòng yêu thương của bà.

Một lần nữa, cũng như lần trước, tôi về khuya và thấy cha mẹ đang cầu nguyện. Cha tôi nói chuyện với Chúa về tôi. Tôi lo lắng, và đã nhận ra tình thương của cha mẹ đối với tôi. Hôm ấy, tiếng sét của tình thương và ơn thánh đã quật chúng tôi.

Thế là tôi nhất định dứt khoát với tội lỗi và dĩ vãng của mình. Đêm hôm đó, tôi còn giữ trong túi số lượng cần sa trị giá 1000 đôla. Nhưng tôi không ngần ngại liệng nó đi vào đống rác. Tôi nhận ra rằng khoảng trống trong tâm hồn chỉ có thể được lấp đầy bằng tình yêu của Thiên Chúa.

(Sưu tầm)

Thứ Tư, 4 tháng 7, 2012

Tin Cậy Mến Đức Chúa Giêsu Thánh Thể



Tháng 10 năm 1135, vua nước Pháp, Louis VI-le-Gros, bất ngờ lâm trọng bệnh. Vốn sẵn có lòng đạo đức sâu xa, nhà vua can đảm chịu bệnh cách anh hùng. Nhà vua bày tỏ ước muốn về Đan Viện Biển Đức Saint-Denis – nằm sát vòng đai thủ đô Paris – để lột bỏ vương-miện và khoác tu phục Biển-Đức. Nhưng cơn bệnh lúc đầu tưởng thoát khỏi nào ngờ trở thành hiểm nghèo. Và dĩ nhiên nhà vua không thể thực hiện ước nguyện. Ít lâu sau, các bác sĩ hoàng gia đồng thanh tuyên bố bệnh tình nhà vua tới hồi nguy kịch, vô phương chữa trị.

Khi nghe các bác sĩ tuyên án tử, vua Louis-le-Gros liền qui tụ một số rất đông các Giám Mục, Tu Viện Trưởng và Linh Mục. Rồi trước sự hiện diện của Các Vị nhà vua công khai xưng thú mọi lỗi lầm. Sau đó nhà vua xin rước Mình và Máu Thánh Đức Chúa Giêsu Kitô. Trong lúc chờ đợi Mình Thánh Chúa mang đến như Của-Ăn-Đàng, vua Louis-le-Gros bỗng đột nhiên đứng lên tự vận y phục. Nhưng vì còn quá yếu nên nhà vua bảo hai người hầu đi đỡ hai bên. Khi vị Linh Mục mang Mình Thánh Chúa đến, nhà vua tiến ra tiếp đón.

Trước Mình Máu Thánh Chúa, nhà vua cung kính quì gối sấp mình thờ lạy. Xong, trước sự hiện diện của hàng giáo sĩ và các quan đại thần, nhà vua chính thức từ chức, nhường ngôi cho thái tử. Nhà vua rút nhẫn đeo vào tay thái tử là Louis VII-le-Jeune (1120/1137-1180). Nhà vua tuyên bố phân phát cho người nghèo trọn của cải cùng mọi vật dụng châu báu bằng vàng bằng bạc. Riêng những gì quí giá trang hoàng nguyện đường hoàng cung, nhà vua quyết định dâng cúng cho Đan viện Biển Đức Saint-Denis. Sau khi từ bỏ chức tước cao trọng cùng mọi của cải sang giàu trên trần gian vua Louis-le-Gros long trọng tuyên xưng Đức Tin Công Giáo vào Đức Chúa Giêsu Thánh Thể:

Con, Louis kẻ tội lỗi, xin tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất, chân thật là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Con tin rằng một trong Ba Ngôi là Thiên Chúa Con, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời và đồng bản tính với Đức Chúa Cha, Người đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria, đã chịu khổ hình, chịu chết và sống lại .. Trong Thánh Thể đây có thân xác đích thật của Đức Chúa Giêsu Kitô, thân xác sinh ra từ Đức Nữ Trinh Rất Thánh Maria. Bửu Huyết Chúa đây, con tin vững vàng rằng Bửu Huyết này cũng cùng Máu Thánh chảy ra từ cạnh sườn Chúa, khi Chúa bị treo trên Thánh Giá. Con xin tuyên xưng điều này từ chính miệng và trái tim con. Con nồng nhiệt ao ước Mình Máu Thánh Chúa con sắp được hồng phúc rước lấy sẽ ban sức mạnh cho con tiến qua bên kia thế giới, thoát hẳn mọi quyền lực đen tối âm phủ ..

Mọi người có mặt đều cảm động trước thái độ cung kính cùng lời tuyên xưng Đức Tin của vua Louis-le-Gros đối với sự hiện diện đích thật của Đức Chúa Giêsu Kitô trong Bí Tích Thánh Thể. Chưa bao giờ hình ảnh nhà vua lại cao cả lớn lao như chính lúc nhà vua khiêm tốn sấp mình thờ lạy Mình Máu Thánh Đức Chúa Giêsu Kitô.

Sau khi công khai xưng thú tội lỗi một lần nữa, vua Louis-le-Gros sốt sắng lãnh Mình Máu Thánh Chúa. Lạ lùng thay, vừa khi Mình Thánh Chúa vừa chạm vào môi, nhà vua tức khắc cảm thấy khoẻ hẳn. Nhà vua tự bước trở về phòng mà không cần 2 người hầu đi đỡ hai bên. Nhà vua cởi bỏ mọi tiện nghi cùng những trang hoàng lộng lẫy, rồi nằm nghỉ trên một tấm chăn trắng thường, rất đơn sơ.

Vừa lúc bình phục, nhà vua tức khắc đi Paris. Trên đường, dân chúng đứng chờ hai bên và đón tiếp nhà vua thật nồng hậu. Nhà vua đi thẳng đến Đan Viện Biển Đức Saint-Denis. Nơi đây, nhà vua dâng lời cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho mình không biết bao nhiêu ơn lành trọng đại.

Vua Louis-le-Gros sống tốt lành thánh thiện cho đến lúc Chúa gọi về với Ngài ngày 1-8-1137, sau 57 tuổi thọ.

“Con ơi, đã trót phạm tội thì đừng phạm nữa! Hãy xin ơn tha thứ những tội con đã phạm. Con hãy tránh tội như tránh rắn, vì nếu con tới gần, nó sẽ cắn con. Răng nó khác nào răng sư tử, cướp mạng sống con người. Vi phạm Lề Luật bao giờ cũng là gươm hai lưỡi, gây ra vết thương không tài nào chữa trị .. Ai tuân giữ Lề Luật sẽ điều khiển được tâm tư. Khôn ngoan là hết lòng kính sợ Thiên Chúa” (Sách Huấn Ca 21,1-3+11).

(P. Eugène Couet, “Les Miracles Historiques du Saint Sacrement, Éditions D.F.T, Réédition)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Khi cầu nguyện



Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo (Mt 6,6)

Lời này của Đức Giêsu lấy từ bài giảng trên núi, phần nói về làm phúc, cầu nguyện và ăn chay. Bắt đầu từ những tập tục này, đã luôn luôn chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống đạo của Dân Chúa, Đức Giêsu giải thích thái độ nên có nơi một môn đệ đích thực của Người khi làm những việc lành này.

Như thường lệ, ngôn ngữ Đức Giêsu sử dụng rất cụ thể, bắt đầu từ đời sống hàng ngày. Bàn về cầu nguyện, mọi người đều biết quá rõ về hành vi của những người thích “đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy”. Đức Giêsu nói rằng các môn đệ của Người phải làm ngược lại, hãy vào phòng, chỗ khuất nhất trong nhà, nơi chẳng có ai trông thấy và nghe thấy mình, ngoại trừ Cha.  

Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo.

Ngữ cảnh cho thấy không nên hiểu lời của Đức Giêsu theo nghĩa đen. Đức Giêsu không nêu ra một sự tương phản giữa cầu nguyện tư và cầu nguyện công, giữa cầu nguyện cá nhân và cầu nguyện cộng đoàn, hoặc giữa một lời cầu nguyện tự phát từ trái tim và lời cầu nguyện thành tiếng theo những công thức nhất định đã soạn sẵn. Đức Giêsu  không có ý nói Thiên Chúa gần ta hơn ở chốn riêng tư nhất và yên tĩnh trong phòng của ta so với bất kỳ nơi nào khác. Người chỉ muốn ta hiểu rằng lời cầu nguyện của ta tuyệt nhiên không được có dấu vết gì của sự vênh vang và tham vọng. Khi cầu nguyện, ta không được tìm kiếm bản thân, mà tìm kiếm một mối quan hệ cá nhân với Thiên Chúa.

Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo.

Vậy, cầu nguyện là gì? Cầu nguyện là thưa chuyện với Cha. Ngay cả trong những quan hệ con người, nói chuyện với ai là đòi hỏi ta phải xem người đó là đối tượng của sự chú ý và kính trọng của ta, huống hố là mối quan hệ của ta với Thiên Chúa. Khi cầu nguyện, ta phải ban tặng Thiên Chúa tất cả tình yêu của ta. Ta phải bày tỏ tâm tư và tình cảm của ta cho Người. Ta phải thổ lộ những niềm đau của ta cho Người. Ta phải xin Người tha thứ và ban tất cả các ơn ta cần.

Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo.

Làm thế nào ta có thể sống Lời Sống này?

Ta hãy hy vọng rằng lời cầu nguyện của ta không bị hư bởi thói khoe khoang và phù phiếm tâm linh mà Đức Giêsu tố cáo ở đây. Ta phải cầu nguyện cho phải đạo. Ta phải cầu nguyện theo cách thức Đức Giêsu muốn ta cầu nguyện. Đôi khi, ta không còn cảm thấy buồn cầu nguyện, hoặc lời cầu nguyện của ta trống rỗng và nghèo nàn bởi vì tình yêu Thiên Chúa của ta quá yếu. Thay vào đó, Đức Giêsu muốn một lời cầu nguyện chân thành và sống động như một cuộc nói chuyện cá nhân thân tình với Cha.

Một cách tốt để hoàn thành điều này là hãy yêu người gần bên, thấy Đức Giêsu ở trong họ. Thật vậy, tình mến Chúa và yêu người nối kết với nhau: càng mến Chúa thì càng yêu người, càng yêu người thì càng mến Chúa. Ta càng yêu tha nhân thì tình yêu của Chúa càng thấm sâu trong ta. Đây là một kinh nghiệm mà tất cả chúng ta đều có thể có. Khi ta lớn mạnh trong tình yêu Chúa, ta còn có thể truyện trò với Người một cách tự phát và lời cầu nguyện của ta trở nên chân thực. Lẽ tự nhiên, luôn luôn có một điều gì đó có thể quấy rối ta khi ta cầu nguyện, ta cần nhớ lại điều đó khi ta cầu nguyện và phải chiến đấu chống lại sự chia trí.

Qua những cách này, cầu nguyện sẽ tìm thấy đúng chỗ của mình: cầu nguyện sẽ trở nên như bầu không khí cho tâm hồn ta được thở. Cầu nguyện sẽ trở thành nền tảng cho cả cuộc đời của ta và cuộc sống thường ngày của ta. Trên cơ sở này ta sẽ có thể xây dựng được một điều gì đó thực sự có giá trị.

Chiara Lubich


Đan Quang Tâm dịch