Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Hãy chặn đứng cái lưỡi! Nó thường tha lửa châm mồi Hoả Ngục và Luyện Ngục

[caption id="attachment_3811" align="aligncenter" width="540" caption=""Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi""][/caption]

Césaire kể cho ta nghe một thánh tích, dạy không nên chuyện trò ở nơi tôn nghiêm, vì làm mất lòng Chúa.

Trong một dòng Xita, gọi là dòng Đấng Cứu Thế, có hai cô gái đến tu. Người ta để họ ngồi gần nhau trong cung thánh. Tên hai dì là Giêtruđê và Mácgarita. Giêtruđê, tuy rất nhân đức, có một thói xấu là hay nói, thường phá sự im lặng.

Một cơn bệnh đã chấm dứt đời xuân xanh của dì. Dòng chôn dì ở cuối nhà thờ.

Một tối kia, các nữ tu tập trung tại nhà thờ đó, dì hiện về trước bàn thờ, bái quỳ như thường lệ, và đến ngồi bên Mácgarita, không một dì nào thấy cả; trừ Mácgarita là bạn nhập tu và đồng phạm, sợ quá, xanh như tàu lá chuối, run lập cập và sắp ngã.

Cả dòng xúm lại săn sóc và hỏi cớ sự.

Bấy giờ dì kể lại đầu đuôi và thêm: người quá cố, sau khi hát kinh chiều, đứng dậy bái lạy sát đất và biến mất. Mẹ bề trên, sợ đó chỉ là sản phẩm của tưởng tượng lộn xộn hay là ảo tưởng của ma quỷ.

Bà chỉ thị: “Nếu Giêtruđê còn hiện về nữa, con hãy nói: Benedicite, chắc dì sẽ đáp như thông lệ trong dòng: Dominus (hai tiếng Latinh nghĩa là Hãy Ngợi Khen Chúa) rồi con sẽ hỏi dì ở đâu đến và muốn gì?”.

Ngày hôm sau cũng giờ ấy, hồn về nữa. Mácgarita chào:

- Benedicite!

- Dominus! hồn đáp và Mácgarita hỏi:

- Dì Giêtruđê quý mến, dì ở đâu đến và muốn gì?

- Em đến thoả mãn sự công lý của Chúa tại chính nơi em phạm tội với chị, khi em đã nhiều lần phá sự thinh lặng và làm cho chị phải phá sự thinh lặng theo, vì những điều vô ích trong khi cử hành các nghi lễ phụng vụ. Đấng Thẩm Phán Tối Cao muốn em trả hết nợ tội ngay ở nơi và trong những hoàn cảnh em đã phạm đến Chúa.

“Ôi! nếu chị biết được em đau khổ biết chừng nào! Em bị lửa thiêu đốt tứ bề: nhất là lưỡi em bị nung đốt, không được giảm nhẹ một chút nào. Chị nên lấy gương em mà giữ mình, nên hãm dẹp lời ăn tiếng nói; hãy quên gương xấu em đã làm và đừng lôi cuốn ai theo nó, vì một khổ hình tương tự ắt sẽ dành cho chị đó”.

Nói đoạn, Giêtruđê biến mất. Hồn còn về nhiều lần nữa để xin các dì phước cầu nguyện, cho đến khi được siêu thoát. Nàng thân ái vĩnh biệt bạn và đi đến mồ đã chôn nàng. Nàng dở mồ lên và nằm xuống đó, không còn hiện về nữa.

Bị xúc động nhiều phen và quá mãnh liệt, Mácgarita lâm trọng bệnh đến dứt điểm cuộc đời.

Ai cũng tưởng dì đi luôn. Nhưng đó chỉ là một trạng thái xuất thần nhập hoá, trong đó nhiều điều lạ lùng bên kia đời được tiết lộ cho dì. Dì kể lại cho các chị em đồng tu kinh ngạc và khuyên họ can trường mỗi ngày mỗi tiến trên đường hãm dẹp ngũ quan. Phần dì, dì trung thành đến thận trọng giữ luật làm thinh. Hình phạt kinh khủng Giêtruđê chịu luôn luôn lởn vởn trong trí dì.


"Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các Linh Hồn"



Trích sách tháng các Linh Hồn

Người nghèo trên thập giá

[caption id="attachment_3802" align="aligncenter" width="480" caption="“Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46)"][/caption]

Đức Giêsu đã mở đầu bài giảng trên núi bằng lời kêu gọi khó nghèo: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Đối với khá nhiều người của thời đại hôm nay, lời chúc phúc nghèo khó xem ra là một cung đàn lạc điệu. Trong bối cảnh xã hội mà vật chất được coi như tiêu chuẩn để lượng giá mọi sự, thì lời hứa “Nước Trời” chẳng có chi hấp dẫn. Có nhiều người lập luận: Nước Trời tính sau, lo hiện tại trước đã.

Chắc chắn có nhiều người trong đám đông dân chúng được Thánh sử Mátthêu nhắc tới đã mở lòng đón nhận lời mời gọi khó nghèo của vị ngôn sứ thành Nazareth. Dưới ngòi bút của tác giả, Đức Giêsu như một vị Môisen mới, ngồi trên núi, thuyết giảng những bài huấn từ dài, với nội dung giáo huấn thâm sâu. Dân chúng lắng nghe, chẳng cần giấy bút ghi lại, nhưng họ đã nuốt từng lời và ghi vào trái tim, sau đó được thực hiện bằng chính cuộc đời. Không chỉ những người có mặt hôm đó, mà đã hơn 2.000 năm qua, biết bao người, nam cũng như nữ, đã sống sứ điệp sống nghèo vì Nước Trời. Họ là những vị thánh đã được Giáo Hội tôn vinh như mẫu mực của các tín hữu. Họ cũng còn là những người sống rất âm thầm như những “vị thánh không hào quang”, đã tình nguyện chọn lý tưởng sống nghèo một cách tự nguyện, thảnh thơi và an bình.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Đức Giêsu đã thực hiện lời chúc phúc này nơi cuộc sống cũng như cái chết của chính mình. Đọc Tin Mừng, chúng ta không thấy Đức Giêsu có chốn định cư, trong khi “con cáo có hang, chim trời có tổ”. Ngay cả một vật dụng đơn giản như chiếc gối để có một giấc ngủ ngon Người cũng không có. Khi cần tiền đóng thuế, Người bảo ông Phêrô đi câu một con cá, có đồng tiền ngậm nơi miệng, đủ suất thuế cho Thầy và trò (x. Mt 17,24-27). Những người hoạt động chính trị và kinh doanh thương mại thì thường khoe khoang một cuộc sống khá giả về vật chất để lôi kéo người ta ủng hộ mình. Nhiều khi họ tung tiền để mua những người hâm mộ. Đức Giêsu thì không như thế. Người hoàn toàn sống nghèo. Các môn đệ cũng chấp nhận cái nghèo của Người. Các ông từ bỏ mọi sự, lập tức lên đường theo Chúa vừa khi nghe tiếng Người kêu gọi (x. Mc 1,16-20).

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Đức Giêsu nghèo khó để đến với người nghèo. Đối tượng quan tâm của Người trước hết là những người nghèo về vật chất như những người ăn xin, những người bệnh tật. Đó cũng là những người nghèo vì nỗi khổ đau đang cắn rứt lương tâm, như các tội nhân, những cô gái điếm và người thu thuế. Họ còn là người nghèo vì đang oằn lưng đau đớn trước gánh nặng cuộc đời, như người mù bẩm sinh hay người đàn bà góa có con trai duy nhất vừa chết. Sau cùng, họ là những người nghèo do đời sống ích kỷ, khô cằn, khép kín lòng từ tâm đối với anh chị em mình như những người biệt phái, luật sĩ. Đức Giêsu gặp gỡ mọi người để nói với họ về triết lý sống nghèo.

Trên thập giá, Đức Giêsu được giới thiệu như một người nghèo đúng nghĩa: Người không mảnh vải che thân, người thân kẻ nghĩa xa lánh và chạy trốn. Phêrô, người được đặt làm tông đồ trưởng cũng chối Thầy vì sợ hãi. Người-Nghèo-Giêsu trên thập giá còn mất hết cả danh dự, bị sỉ nhục phỉ báng chê bai, chết như phường trộm cắp. “Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn. Dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích” (Is 53,2).Tình trạng nghèo trên thập giá bi đát đến nỗi dường như Thiên Chúa cũng vắng bóng vào giờ phút đau thương. “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Lời kêu than xé lòng cho thấy Đức Giêsu mang thân phận của con người bị nhục mạ, bỏ rơi đến mức tột cùng. Trên cây thập giá, Đức Giêsu đã đọc lời cầu nguyện của người đau khổ được ghi trong Thánh vịnh 22, diễn tả tâm trạng của một người bất hạnh, cảm thấy ngay cả Thiên Chúa cũng bỏ rơi mình trong lúc cô đơn. Tuy vậy, lời kinh trên đây cũng cho thấy người cầu nguyện không vô vọng hoàn toàn, vì vẫn tin vào Chúa, vẫn than thở với Ngài. Đây là lời than vãn thở dài của một người bị ngược đãi, đang bên bờ vực thẳm, nhưng đã tìm lại được lòng tự tin và niềm xác tín.

Cái nghèo nơi Đức Giêsu còn được thể hiện qua tâm tình phó thác của Người nơi Chúa Cha. Thánh sử Luca là người duy nhất ghi lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Đây là một lời cầu nguyện cảm động đầy tình nghĩa. Thánh Gioan còn diễn tả cái chết của Đức Giêsu trên thập giá như một cử chỉ hiếu thảo với Chúa Cha: “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,30). Vâng Đức Giêsu hấp hối không đơn côi. Người không ở một mình. Có Chúa Cha ở với Người. Đây là một hiến tế đau thương, nhưng qua đó, tình thương của Thiên Chúa được thể hiện cách mạnh mẽ và hào hùng. Khởi nguồn từ cái chết của Người, Thần Khí được ban tràn đầy cho thế gian.

“Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta vốn giàu sang phú quý, nhưng đã trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2 Cr 8,9). Người Nghèo có tên là Giêsu trên thập giá đã thực hiện sự hoán đổi diệu kỳ: cũng như nhờ việc Con Thiên Chúa làm người mà chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, nay nhờ sự nghèo khó của Người mà chúng ta được giàu có cao sang. Đức Giêsu đã mang lấy phận nghèo của con người, làm cho người nghèo từ nay không còn tủi phận nữa, nhưng tìm thấy niềm vui trong sự khốn cực, tìm thấy hy vọng trong đau thương, tìm thấy hướng đi cho tương lai của đời mình.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Lời chúc phúc ấy sẽ không còn là một cung đàn lạc điệu nếu tôi biết lắng nghe bằng “tần số” của trái tim. Ơn gọi của người tín hữu là ơn gọi sống nghèo. Thánh Mátthêu nói rõ: tâm hồn nghèo khó. Một người có tiền bạc mà vẫn có thể mang tâm hồn nghèo khó. Một người ăn bữa nay lo bữa mai mà có thể tâm hồn lại không nghèo. Như thế, khái niệm giàu-nghèo, theo lời chúc phúc của Chúa Giêsu không giống như khái niệm của đời thường. Chỉ khi nào làm cho tâm hồn mình nghèo thật sự mới có thể đón nhận được giáo huấn có vẻ nghịch lý này. Một tâm hồn chứa đầy những tham vọng vật chất không còn chỗ chứa phúc lành của Thiên Chúa. Một cuộc đời quá bận tâm về những điều thế tục, chẳng còn khả năng đón nhận những hồng ân Ngài thông ban.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Với ơn gọi của người tín hữu, chính tôi cũng được mời gọi lên đường để đem lời chúc phúc ấy cho anh chị em tôi. Việc chiêm ngưỡng Người-Nghèo-Giêsu trên thập giá phải dẫn tôi đến việc nhìn đến biết bao người nghèo trên chặng đường thập giá cuộc đời. Biết bao mảnh đời “vỡ vụn” vì bị bỏ rơi, lay lắt trong cảnh khốn cùng. Biết bao người đang hẫng hụt trước sự ra đi đột ngột của người thân. Sống lời chúc phúc nghèo khó của Chúa Giêsu còn là tình liên đới với những người đang bị “đóng đinh” trên cây thập giá cuộc đời, nghiệt ngã và đau thương, bi quan và cùng khốn.

Thập giá đời tôi còn đó. Tôi có thể vẫy vùng, hằn học kéo lê thập giá mỗi ngày. Tôi cũng có thể gắng gượng bước đi với ơn phù trợ của Chúa. Dù chọn lựa cách nào, thì thập giá vẫn gắn liền với đời tôi, như hơi thở, như nhịp sống hằng ngày. Có hai cây thập giá được dựng lên trên đồi Canvê cùng lúc với cây thập giá của Chúa Giêsu. Trên đó, hai người trộm bị đóng đinh. Một người trộm sám hối, người kia không. Người sám hối cũng như người không sám hối, chẳng ai được tha hình phạt thập giá; nhưng người sám hối được nghe những lời ngọt ngào của Chúa hứa cho anh hạnh phúc thiên đàng (x. Lc 23,43), còn người kia thì ôm mối hận ngàn thu. Cả hai người đều nghèo đến mức không còn mảnh vải che thân, nhưng một người đón nhận cái nghèo trong phó thác, khiêm nhường; người kia đón nhận cái nghèo trong kiêu căng, hằn học và tìm cách lên án người khác.

“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó”. Chiêm ngưỡng Đức Giêsu trên thập giá cũng giúp tôi sống tinh thần phó thác. Trong bất kỳ biến cố đau thương nào, Chúa cũng luôn hiện diện bên tôi. Noi gương Chúa Giêsu trong lời kinh trên thập giá, tôi cần xác tín mình được Chúa yêu thương săn sóc, bởi lẽ, tôi còn giá trị hơn con chim sẻ và đáng quý hơn đóa hoa huệ mọc hoang giữa đồng. Là con người được Chúa tạo dựng, tôi mang trong mình hình ảnh của Thiên Chúa tối cao (x. St 1,27).

Nhìn lên thập giá Đức Giêsu, người tín hữu tìm thấy sức mạnh để tiếp tục vác thập giá đời mình. Đức Giêsu không hủy bỏ thập giá nơi cuộc đời con người, nhưng Người đang cùng với con người vác thập giá bước đi. Con Thiên Chúa không xóa bỏ đau khổ đang gậm nhấm con người, nhưng Người lại ban cho họ sức mạnh để vượt lên những đau khổ ấy. Như thế, tôi hiểu ý nghĩa của điều Chúa dạy: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con thờ lạy và tôn vinh Chúa, vì Chúa đã dùng thập giá mà cứu chuộc chúng con. Amen! 
 Nguồn: WHĐ

Bệnh “hùa theo đám đông”

[caption id="attachment_3797" align="aligncenter" width="450" caption="“Người ta làm sao, tôi làm vậy. Người ta làm bậy, tôi làm theo”"][/caption]

Khi làm sai một điều gì đó, người ta thường biện minh: “Người ta làm sao, tôi làm vậy. Người ta làm bậy, tôi làm theo”. Câu nói này không hẳn là lời nói cho vui mà dường như là căn bệnh của xã hội qua mọi thời đại. Một cách đơn giản, mỗi khi dừng trước đèn đỏ mà có một người vượt lên trước, thì y như rằng sẽ có rất nhiều người vượt lên theo. Lúc này người ta không để ý đến đèn chỉ dẫn mà chạy theo đám đông. Đám đông làm bậy, tôi làm theo.

Người ta kể rằng: có một cậu bé đang đi trên lề đường bỗng dừng lại, ngửa mặt lên trời. Có vị giáo sư đi tới, thấy thế cũng ngạc nhiên dừng lại, ngước mắt nhìn theo. Rồi một bà đứng tuổi đi ngang qua cũng làm y như vậy; một người, rồi một người nữa… Lúc cậu bé cúi xuống, quay qua quay lại, ngạc nhiên khi thấy cả chục người đứng chung quanh mình đều ngửa mặt nhìn trời. Cậu thành thực hỏi: “Ủa! Các ông các bà cũng bị chảy máu cam như cháu sao?”.

Đây là căn bệnh “hùa theo đám đông”. Đám đông làm mình cũng làm. Sự làm theo đám đông đôi khi bất chấp lề luật, bất chấp tội lỗi. Dường như người ta nghĩ rằng nhờ đám đông mà dảm bớt tội, hay giảm bớt trách nhiệm. Những bệnh “hùa theo đám đông này”, ta có thể thấy nhan nhản qua các tội: nam nữ  sống “góp gạo thổi cơm chung” nơi khá đông tầng lớp công nhân và sinh viên xa nhà; chuyện phá thai nơi những bà mẹ mang con ngoài ý muốn; chuyện buôn gian bán lận để có đồng lời trong thời buổi cạnh tranh mà nhiều người nói rằng “không gian làm sao có lời”; chuyện hối lộ và tham nhũng để được việc và giữ được ghế lâu dài...; lợi dụng đám đông để người ta phạm tội mà không e ngại, không xấu hổ và nhất là không còn ý thức đâu là tội. Đám đông làm bậy đã khiến cho tội trở thành điều bình thường như: nói  tục, chửi bậy, nói dối, nói sai sự thật của người Việt Nam hôm nay. Đám đông làm bậy đã làm cho nhiều trẻ nhỏ và những người kém hiểu biết mất ý thức về sự việc là tội hay không tội. Họ đã làm theo đám đông mà không còn ý thức về căn tính sự việc.

Lần giở lại lịch sử cách đây hơn 2.000 năm, Chúa Giêsu được hoan nghênh và kết án, được tôn vinh, và tẩy chảy cũng chỉ một đám đông. Đó chính là đám đông dân thành Giêrusalem. Họ đã từng tung hô Chúa Giêsu. Họ đã từng lấy áo lót đường cho Chúa Giêsu đi qua. Họ cầm ngành lá vạn tuế để cùng nhau tung hô Chúa là Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến. Thế nhưng, cũng đám đông đó, chỉ nghe nhóm biệt phái và thượng tế định tội Chúa Giêsu, họ đã mau chóng quay lưng lại với người mà họ đã từng tung hô. Những bàn tay cầm cành lá vạn tuế lại được giơ lên trong tư thế nắm đấm đòi triệt hạ Chúa Giêsu. Những lời tung hô đầy niềm vui được thay bằng những lời hằn học đầy căm phẫn. Có lẽ có rất nhiều người trong đám đông đó không hề thù ghét Chúa Giêsu. Có lẽ trong đám đông đó còn có rất nhiều người đã từng nhận ân nghĩa của Chúa Giêsu. Thế nhưng, họ đã bị đám đông lôi cuốn vào chuyện gian ác để đòi đóng đinh người vô tội trên thập tự giá.

Dòng đời hôm nay vẫn còn đó những người công chính bị hạ bệ, bị lấy mất thanh danh bởi đám đông đang rỉ tai nhau bỏ vạ, cáo gian, nói hành, nói xâu...

Dòng đòi hôm nay vẫn còn đó những người bị tước mất tất cả danh dự, lẫn vật chất vì đám đông hãm hại mà không biết thanh minh từ đâu.

Dòng đời hôm nay vẫn còn đó những bất công khi đám đông cuồng tín bất chấp lề luật toa rập với nhau hãm hại người công chính.

Dòng đời hôm nay vẫn còn đó những người công chính dám bảo vệ chân lý lại bị đám đông tẩy chay theo chủ nghĩa đồng cảm chứ không đồng thuận.

Dòng đời hôm nay tội lỗi vẫn lan tràn, khi mà đám đông đã không đủ tỉnh thức để hồi tâm, để dừng lại. Nhưng lại hùa theo nhau để làm bậy đến mức độ mất ý thức về tội.

Đám đông dân thành Giêrusalem đã toa rập với nhau giết hại người công chính. Có lẽ, họ đã hối hận sau cái chết của Chúa Giêsu. Có lẽ, họ đã hoảng sợ khi nghe tin Ngài đã từ cõi chết sống lại. Nhưng đã muộn. Giuđa đã tự vẫn. Phêrô xấu hổ. Viên đội trưởng chỉ thở não nề mà nói: “Người này thật là Con Thiên Chúa”. Đám đông xôn xao lo lắng. Tất cả đã muộn khi sự ác chiến thắng. Người công chính đã bị kết án tử hình.

Là người Kitô hữu, chúng ta phải sống yêu thương. Tình yêu thương đòi buộc chúng ta đừng làm điều gì có lỗi với lương tâm. Tình yêu đòi buộc chúng ta vượt trên đám đông, trên dư luận để đừng hùa theo đám đông mà phải can đảm bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải. Tình yêu đòi buộc chúng ta phải sống trung thực với chính mình, biết tôn trọng sự thật và can đảm bảo vệ sự thật. Đừng vì sợ hãi mà im lặng để bất công lan tràn, sự dữ ngự trị.

Xin cho mỗi người chúng ta luôn tỉnh thức trước sự dữ, luôn có lập trường vững chắc trong cuộc sống. Xin đừng vì nhát đảm mà làm ngơ trước bất công nhưng luôn can trường bảo vệ chân lý và sự thật. Amen.

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền


Thứ Năm, 29 tháng 3, 2012

Ý nghĩa cái chết của Chúa

[caption id="attachment_3789" align="aligncenter" width="504" caption="“Tôi thấy bình minh của thế giới đang bắt đầu ló dạng qua Thập giá Đức Kitô”"][/caption]

Có một làng nọ hay xảy ra nạn ăn cắp, vị quan ra chỉ thị: nếu ai ăn cắp sẽ bị đánh 10 roi. Luật được phổ biến nhưng vẫn bị ăn cắp. Quan tăng 20 roi. Lại vẫn không hết nạn ăn cắp trong làng. Quan mới tăng 30 roi. Bất ngờ người ta khám phá ra mẹ của quan chính là thủ phạm. Thương mẹ lắm, nhưng vì luật phải thi hành, nên quan cho lính bắt trói mẹ lại và cho đánh 30 roi. Tuy nhiên, khi bắt đầu đánh, quan cởi đồ áo ra và nằm trên người mẹ để chịu đòn thay cho mẹ.

Tác giả câu chuyện kết luận: đó là giây phút đẹp nhất, giây phút vĩnh cữu, giây phút giữa tình yêu và công lý gặp nhau!

Câu chuyện trên đây giúp chúng ta hiểu phần nào ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Thập giá là chữ T nói tới 3 ý nghĩa qua ba chữ T khác: Tội, Tình và Tha Thứ.

1. Chúa chết là vì tội ta

Cũng như vị quan đã chịu đòn thay cho mẹ mình, Chúa Giêsu chịu khổ nạn và chết trên thập giá vì tội của ta.

Nhìn lên Thập giá Chúa, chúng ta ý thức về tội của ta và tội của cả nhân loại. Như dân Do Thái nhìn lên con rắn đồng treo trong sa mạc, họ nhớ lại tội đã xúc phạm đến Thiên Chúa (x. Ds 21,4b-9).

Đức Giêsu chịu treo trên thập giá là vì tội lỗi nhân loại. Thánh Phêrô viết những lời thật ý nghĩa: “Tất cả tội lỗi của chúng ta, Đức Giêsu đã mang vào thân thể mà đưa lên cây Thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính” (2 Pr 2,24a). Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi của con người. Người chịu chết để con người được sống. “Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành” (2 Pr 2,24b). Nhìn ngắm Đức Giêsu trên thập giá, chúng ta ý thức về thân phận yếu đuối mỏng giòn và tội lỗi của mình. Như lời sách ngắm dạy: “Ơ tội Adong cùng tội tôi độc dữ hơn mọi giống thuốc độc, vì làm cho Chúa chẳng hay chịu sự gì khó, mà rày chịu trăm nghìn sự khốn khó, Chúa chẳng hay chết, bởi gánh tội tôi cho nên chịu chết làm vậy”.

Cái chết của Chúa là cái chết thay, chết vì tội lỗi của chúng ta. Chính vì thế, hy tế trên thập giá được tái diễn trong Thánh lễ khi linh mục đọc lời truyền phép: “Này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con... Này là Máu Thầy sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội”.

2. Chúa chết vì tình thương ta

Con người phạm tội đáng phải chết. Nhưng Thiên Chúa yêu thương và không bỏ rơi con người. Ngài tìm mọi cách cứu sống. Thập giá là lời chứng hùng hồn về tình yêu lớn lao đó: Thánh Gioan quả quyết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,17). Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại chính Con Một dấu yêu của Ngài. Đức Giêsu đã tự nguyện chết cho con người được sống: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống cho bạn hữu” (Ga 15,13). Đây là tình yêu ở dạng thức cao cả nhất, tuyệt vời nhất - agape: một tình yêu dám hy sinh mạng sống vì người khác. Giờ Chúa chết là giờ đẹp nhất, giờ của công lý và tình yêu gặp gỡ nhau! Nhìn lên Đấng chịu đóng đinh trên thập giá, chúng ta cảm nhận tình thương của Chúa thật bao la.

3. Chúa chết để tha thứ cho ta

Thập giá không có Đức Kitô trở thành khổ giá, nhưng thập giá có Đức Kitô trở thành Thánh giá, là nguồn ơn cứu độ, là công cụ hoà giải giữa Thiên Chúa với loài người và giữa loài người với nhau. Qua Thánh giá, Đức Kitô chứng tỏ rằng tình yêu chiến thắng tất cả - amor vincit omnes. Lòng tha thứ lớn lao hơn sự hận thù và khoả lấp mọi tội lỗi. Nhờ Thánh giá mà chúng ta được tha thứ, được cứu độ và được làm con cái của Thiên Chúa. Per crucem et passionem tuam, libera nos, Domine: nhờ Thánh giá và cuộc khổ nạn của Ngài, xin giải thoát chúng con, lạy Chúa!

Trong đêm tối lao tù của Đức quốc xã, Thánh Edit Stein suy ngắm Thập giá Chúa và thốt lên rằng: “Tôi thấy bình minh của thế giới đang bắt đầu ló dạng qua Thập giá Đức Kitô”. Bình minh đó là bình minh cứu độ, bình minh hoà giải và tha thứ mà Thập giá Đức Kitô mang lại cho loài người.

Kết luận

Như thế, thập giá là chữ T nói với chúng ta 3 chữ T khác: Tội, Tình Yêu và Tha Thứ.

Nếu tội lỗi dẫn ta tới cái chết và huỷ diệt, thì tình yêu làm cho ta sống và hy vọng.

Nếu ai đó thấy mình quá tội lỗi, quá bất xứng, thì hãy tin rằng: Tình yêu Thiên Chúa bao giờ cũng lớn hơn tội lỗi con người.

Nếu ai đó đã hơn một lần thất vọng và quỵ ngã vì những lầm lỡ cuộc đời, thì hãy ngước nhìn lên Thập giá Chúa vì Thập giá là chìa khoá thiên đàng cho các tội nhân.

Per crucem et passionem tuam, libera nos, Domine! Nhờ Thánh giá và cuộc khổ nạn của Ngài, lạy Chúa, xin giải thoát chúng con!

Lm. Nguyễn Văn Hương

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Tử Nạn

[caption id="attachment_3778" align="aligncenter" width="450" caption="“Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả, cho đi tất cả” (1 Cr 13,7)."][/caption]

Câu chuyện bắt đầu từ một câu hỏi của cô bé tuổi mười lăm: Cha ơi, sao Chúa không chọn cách khác để cứu độ nhân loại, có nhiều cách mà phải không cha?

Đúng là có nhiều cách Chúa cứu độ nhân loại, tại sao Chúa lại chọn cách nhập thể làm người rồi đón nhận cái chết trên thập giá. Chúng ta có thể hỏi nhiều câu hỏi tại sao, tại sao như thế, nhưng chúng ta có thể tự hỏi lại mình, tại sao Chúa lại chọn cách thức như thế cho chính chúng ta? Một tình yêu điên rồ và cũng là một tình yêu tinh tuyền.

Điên rồ vì tình yêu

Nếu như một người cha mẹ biết được rằng con mình bị bọn tống tiền bắt cóc, điều cha mẹ của bé ấy sẽ làm gì? Trả bất cứ giá nào cho bọn tống tiền để chuộc con? Dĩ nhiên, nhưng bọn tống tiền đòi giá đắt hơn, đòi chính mạng sống của người cha mẹ phải chết để đứa con tự do, người cha mẹ nếu yêu con hơn mạng sống mình sẽ làm gì? Dĩ nhiên, vì mạng sống con mình cũng chấp nhận, chấp nhận tất cả để chuộc lại tự do cho con cái.

Tình yêu có phải sự điên rồ? Phải, có khi tình yêu thôi thúc đến không còn lý trí, nhưng Tình Yêu Thiên chúa không là mất trí mà là “hết linh hồn hết trí khôn, hết sức”. Một tình yêu tuyệt đối là một tình yêu cho đi tất cả. Chính vì trao đi tất cả nên: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Một tình yêu điên rồ có thể thấy ở đâu đó trong cuộc đời này, một phần nào diễn tả: khi người mẹ chỉ mong chết thay cho con, một người cha hy sinh mạng sống mình để cứu con, khi người anh, chị em sẵn sàng trao tặng cho nhau một phần thân thể.

Cái điên rồ vì tình yêu Thiên Chúa thật khó diễn tả hơn, làm sao có thể yêu thương, đến nỗi chấp nhận mọi sỉ nhục, roi đòn, trong khi chính Người có đủ sức mạnh hay quyền phép để cứu Con ra khỏi. Như người cha, mẹ bán cả gia tài để chữa trị cho con, dùng mọi sự quen biết để cứu con, tại sao không? Chúa Cha thinh lặng nhìn Con chịu roi đòn, sỉ nhục, chịu chết dưới tay người đời? Vậy mới thấy tình yêu đích thực là một tình yêu: “Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả, cho đi tất cả” (1 Cr 13,7).

Một tình yêu tinh tuyền


Tình yêu tinh tuyền diễn tả bằng sự nhẫn nại. Trong văn hoá “fast food”, cái gì người ta cũng muốn giải quyết nhanh chóng, nhanh chóng giải quyết vấn đề xung đột bằng chiến tranh, bạo lực, bắt bớ...; những căn bệnh lâu dài người ta chỉ mong giải quyết nhanh bằng cách “an tử”; những đau khổ tâm hồn đến cùng cực người ta giải quyết bằng “tự tử”; không chấp nhận hôn nhân bế tắc và chọn giải quyết nhanh, ly dị... Văn hoá “fast food” cũng đi vào hành vi thường nhật, nó cho thấy cái trẻ con trong con người trưởng thành, khi người ta hờn giận, ghen ghét... Một tình yêu tinh tuyền bao giờ cũng đòi nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ.

Tình yêu tinh tuyền diễn tả bằng hành động tích cực. Chúa Giêsu, trên thập giá đón nhận bao sự khinh miệt, roi đòn, xúc phạm, và kể cả chịu đóng đinh, vẫn một lời: “Xin tha cho chúng”. Tình yêu tinh tuyền là tình yêu chiến thắng các xúc cảm: giận, oán, ghét, thù hận... Kiên vững trong yêu thương, nghĩ tích cực về kẻ đang làm hại mình, Chúa Giêsu đã cho rằng những người đang giết chết Người họ hành động vì họ đã không biết. Chính trong suy nghĩ tích cực này mà lòng khoan dung được bồi thêm và tình yêu tha thứ được tỏ bày.

Tình yêu tinh tuyền là tình yêu cả kẻ thù. Trong 8 câu kệ luyện tâm của Langri Thangpa, người Tây Tạng vào thế kỷ 11 viết:

Mỗi khi tôi hợp tác với ai, ước gì tôi nghĩ về mình như kẻ thấp kém nhất và coi người khác tôn quý tự đáy lòng tôi.

Khi tôi thấy người ta ác tâm, bị dồn ép bởi tội lỗi, bạo lực và hoạn nạn. Ước gì tôi được ôm lấy những con người đáng quý ấy như gặp được một kho báu.

Khi người khác do ghen tỵ, ngược đãi tôi bằng nhục hình, phỉ báng và những điều tương tự. Ước gì tôi chấp nhận thua thiệt để dâng chiến thắng cho những họ.

Khi có người mà tôi giúp đỡ lại làm tôi tổn thương đau đớn. Ước gì tôi xem người ấy như vị thầy của mình”.

Những lời ước nguyện trong câu kệ này cũng cho thấy hoạ lại đều răn mới của Chúa: “Yêu thương nhau như chính Thầy yêu thương anh em” (Ga 15,12). Một tình yêu tinh tuyền là ôm lấy hết tội nhân, gánh hết tội đời, để chuộc tội và để tha thứ: “Để cứu chúng ta thoát khỏi cõi đời xấu xa hiện tại, Đức Giêsu Kitô đã tự hiến vì tội lỗi chúng ta” (Gl 1,4).

Tình yêu điên rồ là kết quả của một tình yêu tinh tuyền không tỳ vết. Thiên Chúa yêu thế nhân đến tận cùng vì một điều đơn giản: “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8) và tình yêu đó được bày tỏ: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,16-17).

Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

Phía Sau Cây Thập Giá

[caption id="attachment_3771" align="aligncenter" width="400" caption="Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình đi, vác lấy thập giá của mình hằng ngày mà đi đằng sau Thầy”"][/caption]

Bạn có biết tại sao khi nghe hai chữ “thập giá” chúng ta không thấy sởn gai ốc, và có khi còn dửng dưng nữa, trong khi các môn đệ nghe nói đến thập giá thì nổi da gà, sởn gai gốc, và ông Phêrô run rẩy can ngăn Chúa đừng đi tới đó? Có lẽ vì chúng ta chỉ thấy những cây thánh giá bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng gỗ quý nhẵn bóng hay bằng xi măng tô đá rửa, đá mài, nên hình ảnh mà hai chữ thập giá gợi lên trong ta không có gì đáng sợ. Còn các môn đệ thì trái lại chưa bao giờ thấy những cây thập giá bằng vàng, bằng bạc... và hai chữ này không chỉ gợi lên một cây khổ giá trần trụi, mà gợi lên hình ảnh một con người quằn quại, tuyệt vọng trong đau đớn và nhục nhã ê chề, lơ lửng giữa trời và đất, giữa sống và chết, trước những cái nhìn thù ghét và khinh bỉ, trước những con mắt tò mò và dửng dưng.

Chính vì thế mà các tông đồ rùng mình sợ hãi khi Chúa Giêsu nói đến thập giá.

Nhưng Chúa Giêsu không phải là ông thầy dễ dãi hay nhu nhược. Chúa vẫn nói thẳng và Chúa đòi ai muốn theo Chúa phải nhìn thẳng vào thập giá và chấp nhận nó: “Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình đi, vác lấy thập giá của mình hằng ngày mà đi đằng sau Thầy”.

Ông Phêrô vừa thay mặt anh em tuyên xưng Ngài là Ðức Kitô Con Thiên Chúa thì Ngài lại bắt đầu nói đến thập giá. Thập giá xuất hiện ở đây như “mặt sau của tấm huân chương”. Nhưng sau đó Chúa lại đưa ba môn đệ thân tín lên núi, và cho các ông thấy vinh quang chói loà của Ngài và sự có mặt làm chứng của Môsê và Êlia: một vị đã được Chúa dùng để công bố giao ước Sinai, vị kia thì được Chúa trao nhiệm vụ tái lập giao ước Sinai.

Theo Thánh Luca thì Chúa Giêsu đàm đạo với hai vị này về cuộc xuất hành Ngài phải hoàn thành tại Giêrusalem. Như vậy thì ta có thể đảo lại: sau khi chỉ cho các môn đệ thấy cây thập giá làm các ông run sợ, Chúa Giêsu lật cho các ông thấy đằng sau cây thập giá có gì. Sau này trên đường Emmaus, Chúa sẽ quở trách hai người môn đệ thất vọng bỏ đi, vì các ông chỉ thấy mặt trước mà không thấy mặt sau của cây thập giá: “Chẳng phải là Ðức Kitô phải chịu đau khổ để vào trong vinh quang của Ngài sao?

Nếu ôm lấy cây thập giá và thoả mãn với nó thì đúng là một kẻ điên khùng hoặc bệnh hoạn. Không, Chúa Giêsu không kêu gọi chúng ta trở nên điên khùng, bệnh hoạn. Chúa đã nhận lấy thập giá như đường tới vinh quang. Ðàng sau thập giá là vinh quang mà chỉ có đức tin mới cho ta thấy được. Chúa không gọi chúng ta vác thập giá đi một mình, nhưng là đi theo sau Chúa, vì chỉ có đi theo Chúa ta mới tới được vinh quang ở sau cây thập giá.

Trong cuộc sống, có những lúc êm đềm thanh thản, có những ngày tưng bừng hoa lá, nhưng cũng lắm khi bạn cảm thấy tất cả nỗi ê chề của cây thập giá sù sì và những lời độc địa chua chát của khách qua đường; bạn cảm thấy nỗi cô đơn của kẻ bị treo lơ lửng giữa trời và đất; bạn khát khô cổ muốn có một lời an ủi, một chút cảm thông, nhưng quanh bạn chỉ có thờ ơ và thinh lặng, hoặc tệ hơn nữa chỉ có phỉ báng và xua đuổi. Những lúc ấy bạn mới cảm thấy tất cả sự rùng rợn của cây thập giá. Có khi bạn cảm thấy chán nản muốn buông xuôi tất cả. Bạn cảm thấy như Chúa Giêsu đã cảm thấy và phải kêu lên: “Lạy Chúa, tại sao Chúa bỏ con...”.

Những lúc ấy bạn phải vận dụng hết sức mạnh của lòng tin, hết ánh sáng đức tin, để thấy được đàng sau cây thập giá. Bạn hãy nhìn thẳng vào Ðấng đang vác thập giá đi đàng trước bạn, chớ rời mắt xa Ngài.

Nhưng bạn đừng chờ tới lúc đó mới nhìn vào Ngài. Bạn phải giữ tầm nhìn luôn hướng về Ngài trong mọi nơi mọi lúc, mọi việc. Bạn hãy làm tất cả với Ngài, vì Ngài, và trong Ngài.

Nếu bạn biết sống với Ngài trong niềm vui,
bạn cũng biết sống với Ngài trong nỗi buồn.


Nếu bạn biết sống trong Ngài khi hạnh phúc,
bạn cũng biết sống trong Ngài lúc khổ đau.

Nếu bạn biết sống với Ngài trong ngày hội,
bạn cũng biết sống với Ngài giữa cô đơn.

Ðiều tôi muốn nhắc bạn ngàn lần là bạn đừng mang thập giá một mình. Bạn sẽ không bước nổi đâu, và nếu bạn có đem tất cả sự kiêu hãnh của con cái Ađam mà lê lết đi được thì cũng chẳng được ích lợi gì, cây thập giá của bạn chỉ là cây gỗ chết thôi. Bởi vì cây thập giá chỉ trở nên xanh tươi và đầy hoa trái khi nó mang Con Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống mà thôi: “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài...” (2 Tm 2,11).

Nhưng tôi cũng nhắc bạn rằng thường khi thập giá đè nặng lên vai thì chúng ta cũng tối tăm mắt mũi, hầu như chẳng còn nhớ ra điều gì, chẳng nhớ đến ai nữa. Cái khó nhất là ở đó. Chính lúc ta cần nhớ đến Chúa nhất thì hầu như ta không nhớ nổi. Chính lúc ta cần cảm nhận sự hiện diện của Chúa nhất, thì lại là lúc Chúa như ở xa xăm ngàn trùng và lẩn trốn trong bóng đêm dày đặc. Ðó là khi mà cuộc đời bạn trở nên phong phú nhất, như hạt giống khi được vùi xuống đất. Lúc ấy bạn hãy giữ lòng mình hướng về ánh sáng của thảo mộc, và khi mầm lách được vỏ hạt giống thì nó xé qua màn đêm của lòng đất để vươn lên ánh sáng, hứng lấy màu xanh và sức sống. (Còn hạt giống nào nằm khơi khơi trên mặt đất thì có nẩy mầm cũng héo khô)

Lm. Nguyễn Công Ðoan

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Tình Yêu Thập Giá

[caption id="attachment_3760" align="aligncenter" width="500" caption="“Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” (Mt 10, 38-39)"][/caption]

Thập giá của Đức Kitô là một sự điên rồ khó hiểu nhất trong các sự điên rồ: “Phải,trong khi người Do thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Dothái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ.” (1Cor 1, 22).

Khi chết trên Thập giá, Đức Giêsu cho thấy hai sự kiện tâm lý: một đàng kinh nghiệm bản thân về cái độc ác và sự yếu đuối của con người; đàng khác chấp nhận không chút phản loạn gánh nặng sự dữ, bởi vì Ngài biết mình đang thi hành một sứ mạng. Ngài muốn tùy thuộc vào những điều kiện sinh sống của con người, và như thế Ngài tùng phục thánh ý Chúa Cha trong mọi sự, để hoàn thành kế hoạch cứu rỗi trong đau khổ. Không phải đau khổ cứu rỗi, nhưng tình yêu cứu rỗi. Đau khổ tự nó không là gì hết, chỉ có tình yêu mới có thể phát sinh sự sống từ đau khổ.

Thập giá gắn liền với Đức Ki-tô, vì ngay cả khi Ngài sống lại vinh quang thì các dấu vết thương tích từ cuộc khổ nạn vẫn còn đó, không bị xóa mờ, đó là dấu chứng vĩnh cửu của một tình yêu Thiên Chúa không phai nhòa qua muôn thế hệ. Vì thế, “…Thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta…thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa.” (1Cr 1, 18).

1. Linh đạo Thập giá

“Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.”(Lc 14, 27). Việc đào luyện tu đức nào cũng phải cắm rễ sâu vào Thập giá. Chỉ có một con đường theo Đức Ki-tô là con đường Thập giá mà thôi (x. Mt 16, 24). Vì thế, mọi tránh né cũng như tìm cách che chắn cho bản thân mình khỏi việc đón nhận Thập giá đều là muốn phủ nhận Đức Kitô trong cuộc đời mình. Tất cả những gì gọi là con đường tắt, cuối cùng chỉ là ngụy biện, trống rỗng và tự lừa dối mình. Bởi vì đích điểm của cuộc đời theo Chúa là đỉnh núi Can-vê, nơi Chúa Cha đang chờ đợi ta như đã chờ đợi chính Con yêu dấu của Ngài.

Thập giá đồng nghĩa với bỏ mình và trần trụi. Bởi vậy không lạ gì, người đón nhận thập giá cảm thấy bơ vơ trơ trọi, như bị tước đoạt tất cả những gì mình từng có, từng cậy dựa vào để làm nên cuộc đời mình. Thập giá được đón nhận làm rơi xuống cái ảo tưởng và cho thấy sự thật về chính mình; cho thấy mình là ai giữa những tạm bợ của cuộc đời này và đồng thời nhận ra lẽ sống chân thật.

Thập giá gắn liền với hy sinh và giũ bỏ ý riêng để ý Chúa được hình thành và tác tạo nên cuộc sống mới cho mình, không còn quay quắt với nỗi đau thương và toan tính phàm tục của một cuộc sống dày đặc vô minh và lầm lạc.

Thập giá đòi phải sẵn sàng uống cạn chén đắng đến giọt cuối cùng, nghĩa là vâng phục đến chết, một sự vâng phục đưa đến tự do chân thật để hoàn thành cách cao đẹp nhất cuộc đời mình trong Đức Ki-tô.

2. Cám dỗ khỏi Thập giá

Văn minh hưởng thụ và chủ nghĩa thực dụng của xã hội hôm nay khiến con người đặt nặng tính chất hiệu năng. Điều này tạo mối nguy cơ cho đời sống tâm linh là ham thích “dễ dãi”, “thoải mái”, chẳng phải hy sinh gì mà kết quả thì rộng lớn trong mọi hoạt động và trong chính lối sống cá nhân mình. Đó là thứ “tinh thần hảo ngọt”, dẫn đến kết quả là con người tìm kiếm chính mình nơi Thiên Chúa, chứ không phải tìm kiếm Thiên Chúa nơi chính mình.

Đó chính là mục tiêu chủ yếu của ma quỉ trong việc cám dỗ Đức Giêsu (x. Mc 1:12-13; Lc 4:1-13). Nó không ngăn chặn công cuộc cứu độ nhân loại của Ngài, nhưng nó cho Ngài thấy không cần phải chịu đau khổ, không cần phải vác Thập giá và chết cách ô nhục nặng nề. Thế rồi, bằng một loạt những toan tính sâu độc, nó hướng Ngài đến những phương cách cứu độ “dễ dãi”, “thoải mái” bằng việc thể hiện quyền năng và sức mạnh mà Ngài sẵn có, với thái độ thỏa hiệp để đôi bên cùng có lợi.

Xem ra phương sách cứu độ kiểu này có tác dụng hữu hiệu và thực tiễn, nhưng rất tiếc đó lại là đường lối của ma quỉ, chứ không phải đường lối của Thiên Chúa (x. Mt 16, 21-23). Đừng quên rằng, việc cứu độ không nhằm vào sự toan tính cách thế hay hiệu năng nhất thời, nhưng nhắm đến việc mạc khải tình yêu sâu thẳm của Thiên Chúa, trước tình trạng vong thân cực độ của con người do tội lỗi gây ra, và nhắm đến tính cách toàn diện qua muôn thế hệ, như một chân lý sống duy nhất cho nhân loại.

Cơn cám dỗ thường xuyên của con người thời nay, là tìm kiếm một Đức Giêsu không Thập giá, là muốn một Ki-tô giáo dễ dãi và hợp thời hơn, là khát khao một Tin Mừng không nhuốm nước mắt. Cũng giống như Phêrô ngày xưa, người ta muốn kéo Chúa Giêsu ra ngoài để can ngăn Ngài đừng tuyên bố quá rõ ràng về Thập giá. Nhưng như chúng ta đã biết, Tin Mừng của Chúa Giêsu là một “Tin Mừng khổ lụy”, nghĩa là không chỉ có rao giảng, mà chủ yếu là thực thi, làm chứng (tử đạo) cho điều mình rao giảng, nghĩa là chết đi chính mình để Chân lý và Tình yêu được tỏ hiện. Nếu không sống như thế, thì Tin Mừng trở nên mơ hồ, Thập giá trở thành đồ trang sức, và đạo lý cứu độ biến thành mớ lý thuyết suông, cốt để che chắn và làm bình phong cho một số hạng người nào đó được yên thân an vị.

Nếu cố tìm một Đức Giêsu không Thập giá, ta sẽ gặp Thập giá mà không có Đức Giêsu. Sự khôn ngoan và sức mạnh của Thập giá chỉ được hiểu khi người ta đảm nhận và trực tiếp kinh nghiệm nó một cách sâu xa, để từ đó không còn nhìn Thập giá như một chướng ngại, nhưng là một cơ hội và cách thức thể hiện chính mình một cách cao độ nhất trong Đức Kitô, tạo nên sự say mê và niềm thâm tín như thánh Phaolô:

.“Tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá.”(1Cor 2,2).

. “Tôi mang trong thân mình tôi cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, ngõ hầu sự sống của Chúa Giêsu cũng được tỏ hiện nơi thân xác chết dở của tôi.” (2Cor 4, 10).

. “Tôi thông phần vào các sự thống khổ của Chúa Giêsu, để được đồng hình đồng dạng với sự chết của Ngài, để làm sao đạt tới ơn Phục sinh từ cõi chết.” (Pl 3, 10-11).

3. Sống Hy lễ Thập giá

Thập giá không phải là kết điểm của một con đường, mà là cổng dẫn vào sự sống siêu vượt: thất bại chuyển hóa thành chiến thắng. Chính chỗ mà sự sống bị tước đoạt lại trở thành nơi mà sự sống được phục hồi. Đời sống Kitô hữu chỉ được sắc nét khi tựa vào Thập giá. Đời sống tu sĩ, linh mục càng trổ hoa sinh trái khi càng cắm rễ sâu vào Thập giá, bởi cuộc đời họ là của lễ hy tế, phát xuất từ Đức Kitô, Đấng “đã tự thể hiện mình là tư tế, là bàn thờ, và là con chiên bị sát tế”.

Bằng cách nhận trở nên của lễ hy tế mà Đức Kitô đã chiến thắng khải hoàn. Chiến thắng này được trao ban cho tất cả những ai đồng chịu cùng một số phận như Ngài. Bởi vậy mọi ân sủng lãnh nhận trong Giáo hội đều ẩn chứa một năng lực “Kitô hóa”. Thánh Phaolô đã giải thích điểm này qua việc dùng các động từ cùng-đau-khổ, cùng-vinh-hiển (Rm 8, 17), cùng-sống, cùng-chết, cùng-chịu-đóng-đinh (Gl 2, 19), cùng-được-mai-táng (Rm 6, 4), cùng ngự trị (Ep 2, 6), cùng-hiển-trị (2Tm 2, 11-12). Công đồng Vat. II cũng đã xác định:

Mọi chi thể phải nên giống Chúa Kitô cho đến khi Ngài hình thành trong họ (x. Gl 4, 19). Vì thế, chúng ta được kết nạp vào mầu nhiệm sự sống của Ngài, trở nên giống Ngài, cùng chết và cùng sống lại với Ngài, cho đến khi cùng cai trị với Ngài. Đang khi còn là lữ hành trên mặt đất, bước theo vết chân Ngài trong đau thương và bách hại, chúng ta cùng thông hiệp với những đau khổ của Ngài như thân thể kết hiệp với đầu, hiệp với sự thương khó của Ngài để được cùng vinh hiển với Ngài” (LG 7c).

Như thế có nghĩa là bao giờ Giáo hội cũng sẽ phải sống và hoạt động trong những điều kiện khó khăn, phải đương đầu với nhiều thử thách và đòi hỏi sự thanh luyện, bởi vì công cuộc cứu độ bao giờ cũng tiến hành dưới dấu chỉ của khó nghèo và bách hại. Đó là con đường mà Giáo hội phải dấn thân để dõi bước theo Đức Giêsu, vị Thầy chí thánh. (x. LG 8c).

Đó là giáo thuyết soi sáng và là nền tảng cho sự khổ hạnh Kitô giáo (x. Mt 16, 24). Mang trên mình cuộc khổ nạn của Đức Kitô (x. 2Cor 4, 10) không phải là chuyện đi tìm khoái lạc trong đau khổ, nhưng là kết quả của sự khôn ngoan (mà thế gian coi là điên dại) của Thiên Chúa: phải chết cho chính mình thì mới có thể sống lại với Đức Kitô: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” (Mt 10, 38-39).

         Con đường tám mối phúc thật không gì khác hơn là con đường Thập giá. Đức Kitô không ngừng hấp hối ở trong Giáo hội, mãi cho tới ngày cánh chung. Chính vì vậy mà Giáo hội không ngừng cộng tác vào việc cứu độ thế gian bằng cách “hoàn tất những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu...” (Cl 1, 24).

Quả thật, chúng ta có một khoa học tuyệt diệu, hơn mọi thứ khoa học, đó là khoa học Thánh giá. Thánh giá là tiêu chuẩn để chọn lựa và quyết định trong mọi trường hợp. Chính sự xác tín này khiến tâm hồn ta luôn được bình an và thanh thoát, cả trong những nỗi ngặt nghèo. Nhưng trong thực tế, cuộc sống cũng lắm nhiêu khê, làm ta bị giằng co và nhức nhối không nguôi, do những nổi loạn từ chính tâm hồn mình, giữa cái muốn mà không muốn, giữa cái làm mà không làm, giữa cái cho đi và khước từ, giữa cái dấn thân và đòi hỏi, giữa cái sống và cái chết... Bởi vậy, Thomas Kempis trong sách “Gương Chúa Giêsu” có viết như sau :

-         Có rất nhiều kẻ muốn lên thiên đàng với Chúa Giêsu, nhưng rất ít kẻ muốn vác Thánh giá với Người.

-         Nhiều kẻ ước ao được ơn an ủi của Người, nhưng ít kẻ muốn chịu thử thách với Người.

-         Nhiều kẻ muốn dự tiệc với Người, nhưng ít kẻ muốn chịu thiếu thốn với Người.

-         Nhiều kẻ muốn vui hưởng với Người, nhưng ít kẻ sẵn sàng chịu sự gì khó với Người.

-         Nhiều kẻ muốn theo Chúa Giêsu đến bàn tiệc bẻ bánh, nhưng ít kẻ dám cạn chén đắng với Người.

-         Nhiều kẻ tôn sùng các phép lạ của Người, nhưng ít kẻ muốn chịu xỉ nhục với Người.

Chẳng ai vô tội trước cái chết của Con Thiên Chúa. Hãy đi với Chúa Giêsu qua từng chặng đường Thập giá của cuộc đời mình. Đừng theo Chúa với thái độ bàng quan, bởi lẽ Ngài gánh chịu mọi sự khổ đau vì ta và cho ta. Sau khi đã thấm nhuần cuộc Khổ Nạn, ta sẽ thấy mình yêu thánh giá của Chúa hơn, mến thánh giá của mình hơn, và kính trọng thánh giá của người khác hơn.

Lạy Chúa, phải được ơn sâu nhiệm biết bao để có thể hiểu thấu, cảm mến và đón nhận trọn vẹn Thập giá Chúa trong cuộc đời con, để con có thể tự hào như một ân ban mà không xót xa cắn đắng như một số phận.

            Nhìn ngắm Thập giá Chúa, con hiểu được một cách thâm thúy những nỗi khổ nhục và đau đớn trong cuộc đời con:

-         Thập giá cần thiết biết bao để thanh tẩy tâm hồn con khỏi mọi vết nhơ.

-         Thập giá cao cả biết mấy để kéo con lên khỏi những thấp hèn.

-         Thập giá yêu thương và khiêm hạ dường nào để giải thoát con khỏi những oán ghét và kiêu căng ích kỷ.

-         Thập giá tín trung và nhân hiền vô lượng để con biết  xa rời những đam mê và ảo tưởng.

-         Thập giá rạng ngời và nhân ái vô song để con vượt thoát những tối tăm cạm bẫy và gian trá chia lìa.

-         Thập giá Phục sinh và vinh hiển vô biên để con hy vọng, tin tưởng và được yêu mến Chúa đến vô cùng.

      Xin cho con và mọi người được hưởng ơn cứu độ nhờ Thập giá của Chúa, đã chuyển hóa thành Thập giá của cuộc đời mình. Amen.

 Lm. Thái Nguyên