Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Định nghĩa tình yêu



Trong triết học, văn học, thi ca , âm nhạc…. đã có quá nhiều định nghĩa về tình yêu. Xin đơn cử trong lãnh vực âm nhạc, một vài bài tình ca thường nghe:.

“Tình yêu như trái phá, con tim mù lòa” (Trịnh Công Sơn)

“Yêu người như lá đổ chiều đông như mây hồng chưa tím, như con giun ngước lên trời…” (Phạm Duy)

“Tình yêu như nắng, nắng đưa em về bên dòng suối mơ” (Ngô Thụy Miên)

Tục ngữ Việt Nam thì có câu: “Thương người như thể thương thân” mà mới đây, có người tinh nghịch thêm vào: “Thấy ai giàu có, có phần thương hơn”, hoặc “Thấy ai nghèo khó có phần thương hơn” và cả hằng loạt những từ thay thế như “xinh đẹp”, “khóc lóc”, “quyền thế”, “đói khổ”….

Định nghĩa nào cũng chưa hoàn hảo, nếu không nói là cũng có những định nghĩa sai lệch, hoặc những quan niệm không đúng đắn về tình yêu. Đáng sợ nhất trong tư duy duy vật, tình yêu bị đồng hóa với những lạc thú đến mức có những bạn trẻ lầm lẫn rằng không chiếm đoạt được không lạc thú được thì chưa phải là yêu.



Thánh Gioan định nghĩa: “Thiên Chúa là tình yêu : ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1Ga 4,16).

Chúa Giêsu mạc khải cho biết về tình yêu của Thiên Chúa: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Con Một của Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu đã đến để thi thố tình thương của Thiên Chúa. Ngài đã định nghĩa tình yêu Thiên Chúa bằng chính cuộc sống loan Tin Mừng, bằng cái chết và sự sống lại.

“Không có tình yêu nào quý hơn tình yêu của người hiến mạng vì người mình yêu” (Ga 15,13)
Tin Mừng hôm nay, có thể nói, Chúa Giêsu đưa ra một bài toát yếu về Đạo Công Giáo. Có thể tóm gọn trong một câu: Đạo Công Giáo là đạo “Kính mến Chúa và yêu thương tha nhân” và có thể gọn hơn nữa trong một từ: Đạo Công Giáo là đạo “Yêu”. Chúa Giêsu đã định nghĩa tình yêu ấy. Chính Chúa Giêsu là định nghĩa tình yêu ấy. Lời Chúa hôm nay, không còn là Lời nói, là âm vọng, nhưng Lời đã hóa thành nhục thể sống giữa chúng ta để minh chứng điều đã nói là điều đã thực hiện:

“Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất” (Mt 22, 37-38).

Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. “Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó″. (Mt 22, 39-40)

+ Chúa Giêsu đã yêu mến Thiên Chúa Cha hết lòng, hết sức, hết linh hồn hết trí khôn bằng sự vâng phục Cha tuyệt đối, hoàn toàn sống và làm theo ý của Cha, làm cho mọi người nhận biết lòng thương xót của Cha, ngợi khen Cha, tạ ơn Cha, và tôn thờ Cha là Thiên Chúa duy nhất.

Tình yêu của Chúa Giêsu đối với Cha là mẫu gương sống động nhất cho mỗi người có đạo chúng ta để chỉ biết tôn thờ một mình Thiên Chúa, không có Chúa nào khác, để phụng sự một Thiên Chúa, không phụng sự Chúa nào khác. Tôn thờ, phụng sự Chúa là yêu mến trọn vẹn, tin tưởng tuyệt đối và ký thác hoàn toàn trong tay Thiên Chúa.

Thật đáng tiếc, khi nhìn lại đời sống, có thể thấy chúng ta chưa yêu Thiên Chúa tha thiết bằng chúng ta đã yêu những thực tại trần gian: của cải, danh vọng, sắc dục… Chúng ta chưa tôn thờ Thiên Chúa, chưa ca tụng Thiên Chúa hết lòng, mà ngược lại, ca tụng, tôn thờ cái tôi của mình đến mức quá sức. Thực sự chúng ta đã có lỗi nặng, khi gạt Thiên Chúa ra khỏi những dự tính, những nỗ lực, những thành công của mỗi người. Và càng có lỗi nặng khi kêu ca trách móc Chúa khi gặp những thất bại.

Hãy hỏi lại lòng mình, đã yêu mến, tin tưởng và trông cậy Chúa được bao nhiêu hay còn gửi lòng yêu mến, tin tưởng cậy trông nơi các tà thần núp bóng dưới những danh nghĩa nghe thật hay thật tốt của những kẻ kiêu ngạo lộng ngôn. Thánh Phaolô đang nhắc nhở chúng ta: “Anh em đã bỏ tà thần trở về với Thiên Chúa để phụng sự Người và để trông đợi Con của Người”. (1 Tx 1, 9-10)

+ Chúa Giêsu đã trở nên mẫu gương tình yêu đối với tha nhân, với người thân cận, với cả kẻ thù, cả người làm ơn, cả người sát hại… Tình yêu Ngài luôn là một tình yêu cho đi, và cho đi cho đến giọt máu cuối cùng.

- Ngài cho chúng ta một con người mới, con người của ân sủng thay cho con người cũ đầy tội lỗi.

- Ngài cho chúng ta một niềm hy vọng vững chắc về sự phục sinh và một đời sống mới trong Thiên Chúa

-Ngài hoàn lại cho chúng ta ơn làm nghĩa tử cao quý được thông phần vào vinh quang trong Nước Thiên Chúa

- Ngài cho chúng ta một trái tim biết chạnh lòng thương, và quảng đại dâng hiến thay cho trái tim vô cảm hóa thạch hẹp hòi ích kỷ bất nhân.

Bởi thế, khi Ngài dạy chúng ta yêu tha nhân, đồng nghĩa với việc hãy bắt chước cách yêu của Ngài, để người thân cận của chúng ta được đổi mới nhờ ân sủng, được hy vọng phục sinh, được ơn phục hồi quyền làm nghĩa tử, và nhất là, được mặc lấy trái tim của Thiên Chúa sống trong họ giữa dòng đời.

Thiết tưởng, việc bác ái yêu người sẽ chưa thực sự có giá trị nếu không dẫn người mình yêu đến Thiên Chúa, không dẫn đưa người thân cận đến gặp gỡ và yêu mến Thiên Chúa.

Chúng ta đang thực sự làm một định nghĩa tình yêu trong đời mình bằng chính cuộc sống kết hiệp với Chúa Giêsu, nguồn mạch sự kính mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con thực hành Lời Chúa dạy, thờ phượng Chúa trên hết mọi sự và yêu anh em như chính mình và như Chúa đã yêu. Amen.

(PM. Cao Huy Hoàng)

Ca vang Tình Yêu Chúa







 

"Không có tình yêu nào cao quý bằng tình yêu của người thí mạng sống vì người mình yêu" (Ga 15,13). Chúa Giêsu đã tuyên bố như thế và Ngài đã đi đến cùng cam kết của Ngài. Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá không những là sự thể hiện của sự độc ác dã man của con người, nó còn là dấu chỉ của mối tình của một người đã yêu và yêu cho đến cùng...

Cái chết hy sinh vì người khác, Chúa Giêsu muốn luôn được tiếp tục qua cuộc sống của người Kitô. Ðã có rất nhiều người đã lập lại cái chết đó qua suốt lịch sử của Giáo Hội và hiện nay, còn biết bao nhiêu người vẫn còn tái diễn cái chết đó qua những hy sinh hằng ngày của mình...

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

Yêu thương nhau

[caption id="attachment_4302" align="aligncenter" width="500"] “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12)[/caption]

(CN 6 PS B)


(Cv 10,25-26.31-35.44-48; 1 Ga 4,7-10; Ga 15,9-17)

Thiên Chúa là Tình Yêu. Chúa Giêsu truyền dạy: Các con hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến các con. Chúa Giêsu đã tóm kết các giới răn của đạo cũ và mới vào hai điều: yêu Chúa và yêu người. Chúng ta không xa lạ gì với giới răn cao trọng này. Tình yêu là một mầu nhiệm. Chúng ta thuộc lòng các giới răn: Yêu Chúa, yêu tha nhân như chính mình và yêu thương cả kẻ thù. Thánh Gioan nói: “Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa” (1 Ga 4,7). Ai trong chúng ta cũng biết yêu, vì chúng ta được sinh ra trong tình yêu. Nhưng chẳng ai định nghĩa được tình yêu. Chỉ những người đang yêu mới hiểu và cảm nhận được ý nghĩa của tình yêu.

Trong văn học, người ta dùng ca dao, tục ngữ, châm ngôn, thi phú, ca nhạc và văn thơ để ca ngợi và đánh bóng từ ngữ ‘tình yêu’. Tình yêu có nhiều mức độ như chúng ta có cảm tình, ưa, chịu, hợp, khoái, thích, thương, chuộng, mến… rồi yêu. Tình yêu cũng có nhiều cấp bậc. Tình yêu gia đình và con cái, tình yêu trai gái, yêu quê hương xứ sở, yêu quốc gia dân tộc, yêu giáo hội và yêu thương nhân loại. Chúng ta chẳng có thể kể ra hết các loại yêu vì chúng ta đang đan xen chằng chịt trong tình yêu. Thật rất khó để hình dung một tình yêu tinh tuyền không đối tượng. Chúng ta chỉ có thể cảm nhận một tình yêu qua những hành vi cử chỉ được biểu lộ. Tình yêu gắn kết giữa trái tim, ý chí, trí khôn và đối tượng yêu.


Quan sát thế giới chung quanh, có bao nhiêu điều và bao nhiêu người mà chúng ta thật sự yêu thích? Những người hàng xóm láng giềng, chúng ta gặp gỡ và chào hỏi nhau hằng ngày. Chúng ta cũng chẳng yêu và chẳng ghét họ. Có nhiều người cùng dân tộc, màu da, tiếng nói, nói chung, chúng ta cũng chỉ có chút cảm tình, chúng ta có thể biết nhau và hiểu nhau, nhưng nói là yêu nhau thì chắc là không. Những người bạn cùng sinh hoạt trong một nhóm hội, một cộng đoàn, một giáo xứ, chúng ta cũng chẳng quan tâm nhiều lắm. Nếu nói yêu thích thì không hẳn, nhưng chúng ta có chút tình cảm thân thương, liên đới và sự gắn bó gần gũi.

Chúng ta thử giới hạn lại trong đời sống đại gia đình, trong đó có cha mẹ, vợ chồng, con cái và anh chị em là những người sống gần gũi nhất, chúng ta thật sự yêu thương họ bao nhiêu. Trong gia đình, đôi khi anh chị em chúng ta còn tranh dành, cãi cọ, phiền trách và giận hờn nhau. Tình yêu dành cho những người thân thường được biểu lộ qua sự quan tâm, lo lắng, cảm thông, tha thứ, hy sinh và chăm sóc cho nhau. Hãy tự vấn xem chúng ta có đối xử tốt, tôn trọng, quý mến và yêu thương nhau thật tình không? Gia đình chính là tổ ấm của tình yêu.

Tất cả mọi thứ tình yêu trên đời đều tương đối và vô thường. Tình yêu cha mẹ con cái được kể là sâu đậm nhất. Tình yêu vợ chồng rất cao quý thật đáng khâm phục và tôn trọng. Trong cuộc đời, đã có những cặp vợ chồng sống trung tín tới tuổi già và tóc bạc răng long. Chính họ đã biết lo lắng, thông cảm, tha thứ và hoàn thiện lẫn nhau. Họ đã dám hy sinh cho nhau và cho con cái, cao quí nhất vẫn là tình phụ và mẫu tử. Qua mọi thời, đã và đang có nhiều gia đình sống trong an vui và hạnh phúc yêu thương.

Đời thường người ta đề cao tình yêu trai gái và tình yêu lứa đôi là cao đẹp và gắn bó nhất. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta thấy có rất nhiều anh chị lúc đầu yêu nhau tha thiết quyết định đi đến hôn nhân, nhưng rồi sau một thời gian chung sống, nhiều cặp vợ chồng cũng có những đổ bể, ly thân, ly dị và thù ghét nhau. Theo dõi tin tức xa gần, chúng ta nghe biết đã có những người dám tự tử vì yêu. Trong những trường hợp này, có lẽ họ đã đặt nền tảng tình yêu trên nền cát và sự chọn lựa không cân xứng. Vì không chiếm hữu được hoặc bị mất người yêu, nên đã tự tử. Đây có thể là một thứ tình yêu bồng bột, tình yêu Solonpas, tiếng sét ái tình và tuyệt vọng vì yêu.

Chúng ta suy về ý nghĩa đích thực của chữ YÊU. Tình yêu quanh quyện trong lòng mọi lúc và ở mọi nơi. Yêu nhau ở xa thì nhớ, ở gần thì thương. Thương nhau là muốn ôm ấp, muốn ngắm nhìn, muốn chia sẻ, muốn lo lắng chăm sóc và muốn ở bên cạnh. Xem ra tình yêu rất bao la, nhưng cũng rất giới hạn. Chúng ta nói rằng chúng ta yêu thương mọi người, nhưng thực sự chúng ta chẳng yêu thương ai tròn đầy. Chỉ nói tiếng yêu cho đẹp thôi. Làm sao gọi là tình yêu, khi làm việc gì cũng so sánh, chành cạnh, phân biệt hơn thua và còn lạm dụng lẫn nhau để tiến thân. Tuy nhiên xét cho cùng, về mặt tích cực của tình yêu gia đình, vì có yêu thương nên mới có ghen và vì có yêu nhau nên có những sự góp ý, chỉnh sửa, cấm cản, cằn nhằn và tranh cãi cũng là để giúp nhau nên hoàn thiện. Mỗi người hãy tự hỏi ai là người chúng ta yêu thương nhất và chúng ta đã đối xử với người đó thế nào?

Chúng ta có thể tìm mẫu tình yêu chân chính và cao quí nơi Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cho chúng ta một giải đáp của tình yêu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Chúa Giêsu đã hy sinh hiến mình trên thập giá để cứu độ chúng ta. Chúng ta biết rằng hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Chúa Giêsu đã chết cho kẻ tội lỗi là chúng ta. Tình yêu của Chúa vượt trên mọi thù hành, ganh ghét, bách hại, tù đầy và giết chóc. Tình yêu thí mạng của Chúa cao vượt mọi thứ tình yêu. Chúa mời gọi chúng ta hãy yêu như Chúa yêu.

Có lẽ phần đông trong chúng ta sống giới luật yêu thương cách ơ hờ như khách bàng quan. Đôi khi chúng ta cũng cảm thông và động lòng trắc ẩn chia sẻ chút ít cơm áo, tiền bạc giúp đỡ những người đau khổ và cùng khốn trong một vài trường hợp. Việc bác ái của chúng ta còn bị cân đo đong đếm và rất giới hạn. Làm phước nhưng muốn được phước báo ngay, cần phải có lời cám ơn, đăng tên hoặc muốn được nêu danh khen ngợi. Tình yêu của chúng ta bị giới hạn trong sự ích kỷ riêng tư và thiếu vị tha. Chúng ta thường muốn sống trong tình yêu trao đổi cân xứng. Thật ra yêu nhiều thì cho nhiều và cho nhiều là yêu nhiều. Tình yêu vị tha được nhận biết và trân quí khi chúng ta có từ bi tâm và hiến mình vì người khác.

Trong Giáo Hội, không thiếu những vị đã học bài học yêu nơi Chúa. Các ngài đã dám xả thân vì bạn hữu như các vị: Cha Thánh Đamien Molokai, tông đồ người hủi tại Hawaii; Thánh Francis Xavier hiến dâng cuộc đời đem tin mừng cho các dân tộc Á Châu; Đức cha Jean Cassaigne đã hiến thân mình nơi trại cùi Di Linh, Việt Nam. Chân phước Têrêxa thành Calcutta hy sinh một đời phục vụ những kẻ cùng khốn tại Ấn Độ và qua mọi thời đại, đã có rất nhiều mẫu gương của các đấng bậc và anh chị em đáng yêu kính đã dõi theo bước chân của Thầy Chí Thánh để xả thân vì yêu. Các ngài đã học yêu thương như Chúa đã yêu các ngài.

Lạy Chúa, chúng con muốn yêu Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết tâm hồn và hết sức cùng yêu thương anh chị em như chính mình. Chúng con ước muốn yêu và được yêu, nhưng lòng chúng con vẫn thờ ơ và chìm đắm trong tham sân si mà thiếu lòng bao dung. Chúa còn mời gọi chúng con hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho họ. Cầu nguyện cho kẻ thù thì chúng con có thể làm, nhưng tha thứ và yêu họ thì chúng con cứ khất lần. Lạy Chúa Thánh Thần, xin mở lòng, mở trí và ban thêm sức mạnh để chúng con biết yêu và yêu như Chúa đã yêu chúng con.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012

Sự chết - cuộc thanh tẩy mầu nhiệm

[caption id="attachment_4317" align="aligncenter" width="500"] Người nằm xuống...[/caption]

 

Đau khổ tự nó có một giá trị. Còn ý nghĩa thì không ai hiểu hết được, ta gọi là mầu nhiệm đau khổ. Người Kitô hữu mình nhìn ra sự đau khổ đời này là dịp để rèn luyện nhân đức, để lập công đời sau. Khi kết hợp với những đau khổ của Đức Giêsu Kitô, sự đau khổ còn có một giá trị cứu rỗi nữa.

 Tôi nghĩ rằng những đau khổ ở đời này không thể sánh với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Sự cao cả của vinh quang Thiên Chúa dành cho ta cần phải có một sự thanh luyện, thanh tẩy trước đó để xứng đáng trước mặt Người. Thánh Phaolô đã có kinh nghiệm sâu xa về sự thanh tẩy mà ngài đã từng trải trước khi là môn đệ cho Đức Kitô Phục Sinh. Sự thanh tẩy của ngài qua biến cố trên đường Đa mát làm thay đổi cuộc đời Ngài (x. Cv 9) và ảnh hưởng ghê gớm trên toàn Hội Thánh.
 
Thời gian cần thiết phải có cho một cuộc thanh tẩy là điều tất yếu hàm chứa một ý định cao cả của Thiên Chúa về tình thương yêu của Ngài: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 135). Kế họach yêu thương mầu nhiệm của Thiên Chúa như vậy kiến người ta ngạc nhiên, đôi khi trách móc về một Thiên Chúa tàn nhẫn, độc ác nữa. Tất cả mọi nỗi đau khổ, bệnh tật, tai hoạ đang xảy ra chung quanh chúng ta dưới con mắt đức tin vẫn được hiểu là do Thiên Chúa gởi đến. Biết bao nhiêu người đã chẳng được sống và chết cho đúng phẩm giá làm người. Biết bao nhiêu người đang muốn chết vì tình trạng khốn quẫn của họ đến mức hết chịu nổi nhưng bị tiếng nói ngăn cấm của Giáo Hội về vấn đề sự sống thuộc quyền Thiên Chúa... Thật khó hiểu.
 
“Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững mạnh, chứ không phải chiều theo sở thích của mình. Mỗi người hãy chiều theo sở thích của kẻ khác, vì lợi ích của họ, và để xây dựng” (Rm 15,1-2). Sự hiện diện của người Kitô hữu trong trần thế bên cạnh sự đau khổ, sự chết là một minh chứng về niềm tin của họ và là bài học cho dân ngoại. Sự thanh tẩy đã được diễn ra trong cuộc đời của họ từ khi lãnh Bí tích Rửa Tội và nó vẫn được tái diễn trong cuộc sống này khi họ đón nhận thánh ý Thiên Chúa qua tất cả những gì là trái ý họ. Chính niềm tin vào sự thanh luyện giúp cho họ đứng vững và vượt qua được tất cả. Điều đó chuẩn bị để đưa họ tới cuộc thanh tẩy lớn lao hơn trong sự chết.
 
Đức Giêsu đã đón đợi cuộc thanh tẩy này suốt cuộc đời, mà Ngài gọi là một “phép rửa”. “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hòan tất!” (Lc 12,50). Phép rửa chính là cuộc phán xét chính Người sắp phải chịu. “Phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu”, sẽ được diễn ra ở đỉnh cao của cuộc thương khó và hoàn tất trong cuộc Phục sinh. Cuộc thanh tẩy này không phải là một điều gì ập đến bất ngờ nhưng được chuẩn bị chu đáo trong chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa Cha. Đấng vô tội đã tự thanh tẩy mình để thánh hoá kẻ có tội khi Ngài chấp nhận bị dìm trong đau khổ và tai hoạ do con người gây ra.
 
Sự chết nơi người Kitô hữu là một hành trình đi vào ơn cứu độ với Đức Giêsu Kitô trong dáng dấp của kẻ đau khổ qua việc thử thách nơi cuộc thanh tẩy mầu nhiệm. Như vậy, sự chết ấy được khoác một lớp áo tình thương (xem “Sự chết - Một ân ban”) và đóng góp rất nhiều cho cuộc thanh tẩy của Đức Giêsu, điều mà Thánh Phaolô bảo là bổ túc cho cuộc thương khó của Chúa. Người Kitô hữu cảm thấy hoàn toàn tự do trong việc đón nhận cái chết theo ý Chúa để nói lên một thực tại hữu ích mà họ sẽ được hưởng. Qua đó họ lại được thanh tẩy kỹ càng hơn nữa cho xứng đáng với sự thánh thiện tuyệt đối của Thiên Chúa. Thời gian thanh tẩy này lại tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân, tuỳ thuộc vào lòng nhân từ của Thiên Chúa. Điều mà không ai trong chúng ta có quyền xác định được.
 
Việc thanh tẩy trong cái chết là một lời nhắc nhở cho ta về sự cao quý của linh hồn nên được Thiên Chúa giũ cho sạch mọi thứ bụi bặm nơi thân xác tội lỗi này. Việc thanh tẩy này cũng là một cuộc phán xét nơi chính mình như đã xảy ra cho Đức Giêsu để rồi được vinh quang sáng láng. Do đó, chúng ta cũng khắc khoải trước phép rửa này như Đức Giêsu và luôn chuẩn bị sẵn sàng tư thế như người đầy tớ đợi chủ về.

Lm. Pet. Bùi Trọng Khẩn


Mẹ ơi! Cảm ơn mẹ!

[caption id="attachment_4313" align="aligncenter" width="425"] Mẹ ơi! con yêu mẹ...[/caption]

Cảm ơn mẹ đã cho con sự cân bằng trong cuộc sống.


Cảm ơn mẹ đã dạy con tình thương mẫu tử là bất diệt.


Cảm ơn mẹ đã dạy con giá trị của sự cần cù.


Cảm ơn mẹ đã dạy con chiêm ngưỡng vẻ đẹp của muôn vật.


Cảm ơn mẹ đã dạy con biết tôn trọng mọi loài.


Cảm ơn mẹ đã cho con biết nuôi dưỡng những cảm xúc.


Cảm ơn mẹ đã dạy con cuộc sống luôn biến chuyển đổi thay.


Cảm ơn mẹ cho con phương thế để trưởng thành.


Cảm ơn mẹ đã dạy con biết nhìn mặt sáng của sự việc.


Cảm ơn mẹ đã dạy con sống mạnh mẽ dịu dàng.


Cảm ơn mẹ đã dạy con biết trắc ẩn cảm thông.


Cảm ơn mẹ đã dạy con giá trị hợp tác trong công việc.


Cảm ơn mẹ đã dạy con biết quý trọng trời nắng và cả cơn mưa.


Cảm ơn mẹ đã dạy con biết ẩn nhẫn mà không chịu khuất phục.


Cảm ơn mẹ đã cho phép con sáng tạo.


Cảm ơn mẹ đã dạy cho con sống trung thực.


Cảm ơn mẹ đã mở mắt cho con trước vũ trụ bao la.


Cảm ơn mẹ đã dạy con biết trân quý những điều đơn giản.


Cảm ơn mẹ đã dạy con tin vào chính mình.


Mong sao những người con biết nói lời cảm ơn với song thân phụ mẫu khi còn có cơ hội.


“Cái chết của mẹ là nỗi đau buồn lớn nhất khi người ta khóc mà không có mẹ bên cạnh dỗ dành”. (Petit Sein)

Nguồn: Sưu tầm

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2012

Rước Lễ trên lưỡi hay trên tay?


Lời ngỏ: Đề tài này đã được bàn thảo rất nhiều rồi nhưng cho đến nay vẫn không có lời giải đáp. Nhưng nay là thời điểm thuận tiện, vì có sự lên tiếng của ĐTGM Albert Malcolm Ranjith, Tổng Trưởng Bộ Phụng Tự về sự việc này. Để kỷ niệm 5 năm ngày ban hành Thông điệp Ecclesia De Eucharistia vào Thứ Năm Tuần Thánh 2003-2008, tôi xin gởi đến quý vị bài viết này trong tư cách là một người tín hữu sống và xác tín niềm tin yêu của mình. Tôi chỉ mong ước rung lên tiếng chuông thật mạnh và dõng dạc của một chú giúp lễ để giúp mọi người có thể chú ý hơn trong lúc cầu nguyện và sống bằng con tim những mầu nhiệm cao cả và thánh thiêng nhất là Bí tích Thánh Thể. Chúng ta luôn tuân phục Hội Thánh và hằng cầu xin Chúa Thánh Thần luôn ở với Giáo Hội để Ngài canh tân bộ mặt trái đất, qua sự cầu bầu mạnh thế của Mẹ Maria đầy tràn Thánh Thần, Hiền Thê rất tinh tuyền và rất yêu dấu của Người, đang hiển hiện hàng ngày tại linh địa Medjugorje.



1. Dưới triều ĐTCha Bênêdictô XVI [1], Tổng Trưởng Bộ Phụng Tự: “Phải xét lại việc trao Mình Thánh Chúa vào lòng bàn tay”.

ROME, 1/2/2008 - Đức TGM Albert Malcolm Ranjith, Tổng Trưởng Bộ Phụng Tự Thánh và Kỷ Luật Bí Tích tuyên bố rằng nên xem xét lại việc trao Mình Thánh Chúa vào lòng bàn tay. Khi đề tựa cho quyển sách của vị Giám Mục Athanasius Schneider, người Kazakhstan, Đức Tổng Giám Mục Ranjith viết rằng việc nhận Mình Thánh Chúa bằng lòng bàn tay “làm người ta ngày càng suy giảm thái độ tôn kính đối với Bí Tích Thánh Thiêng Nhất”.

Cuốn sách của vị Giám Mục người Kazakhstanđược nhà xuất bản của Tòa Thánh ấn hành và có tựa đề “Dominus Est: Meditations of a Bishop from Central Asia on the Sacred Eucharist". Đức TGM Ranjith viết trong lời tựa rằng Mình Thánh Chúa phải được đón nhận bằng một thái độ hết sức cung kính và thờ lậy. Ngài cũng nói việc thực hành nhận Mình Thánh Chúa bằng lòng bàn tay đã được “áp dụng tại một số nơi với kiểu cách lạm dụng và vội vã”.

Đức TGM cũng nhấn mạnh rằng Công Đồng Vatican II chưa bao giờ khuyến khích hay hợp thức hóa việc trao Mình Thánh Chúa vào lòng bàn tay.

Và Ngài kết luận “Tôi tin rằng đã đến lúc phải xét lại và nếu cần phải hủy bỏ hoàn toàn tập tục này đi”. (Nguyễn Long Thao, VietCatholic News 3/2/2008)

2. ĐTCha Gioan Phaolô II: “Chỉ có việc quỳ gối và rước Lễ trên lưỡi là được phép”.

Trích bài giảng của ĐTC GP II trong Nhà thờ Đức Bà Cả tại Rôma ngày 1/3/1989, đoạn về rước Lễ: “Điều nặng nề là những phạm thượng chống lại Lời tình thương của Thiên Chúa mà Ngài tiếp tục gởi cho chúng ta trên trái đất đáng thương này, qua Mẹ Ngài và Con của Ngài. Để được như thế, nhiều hình thức khác của lòng tôn kính là rất cần thiết, bởi vì ta không được quên mình là ai, đang ở trước Đấng nào. Cả trong tình huống con người với nhau mà chúng ta còn biết một số phép lịch sự, song đối với Thiên Chúa mà ta lại muốn bãi bỏ các hình thức ấy sao? Để được như thế, một lần nữa tôi báo cho anh chị em nào chống lại mọi hình thức thờ phượng Thiên Chúa nhằm chống lại Thiên Chúa…, chẳng hạn như việc rước Lễ bằng tay ở đây, trong Giáo phận của tôi đã bị cấm, cũng như việc cứ đứng trong nhiều “hành-vi-thánh”, bởi vì không còn ai biết các bạn đang cử hành điều gì với nhau ở đây tại chỗ này! Đây không phải là điều gì khác cái chết của Chúa Cứu Chuộc chúng ta, Đấng mà chúng ta phải biết ơn về mọi sự. Ta lo ngại dư luận người đời, sợ ai đó cười chê chúng ta, và e ngại có nhiều điều bất tiện có thể có từ nơi người khác (sợ bị quê, hổ ngươi, sợ tay miệng người khác dơ, sợ lây nhiễm v.v…CT), nhưng ta không kính sợ Thiên Chúa sao?

Tôi không trừ bớt điều mà các Vị Tiền Nhiệm của tôi đã nói liên quan đến việc rước Lễ; điều ấy chuyển qua trách nhiệm của Chư Huynh, các Giám Mục thân mến ở ngoài Giáo phận Rôma, và tôi cầu nguyện cho Chư Huynh vào đúng thời điểm biết mình đang đi lạc đường[2].

[caption id="attachment_4157" align="aligncenter" width="540"] “Chỉ có việc quỳ gối và rước Lễ trên lưỡi là được phép” (ĐTC Gioan Phaolô II)[/caption]

Nhưng ở đây, hỡi anh em Linh Mục, các tu sĩ nam nữ, chỉ có việc quỳ gối và rước Lễ trên lưỡi là được phép (seulement, la Communion sur la langue et à genoux est permise); tất cả những gì du nhập và truyền bá bởi người ngoài đều bị cấm. Tôi nói điều này cho anh chị em trong tư cách là Giám Mục của anh chị em”.


3. ĐTCha Phaolô VI: *Tông huấn ‘Memoriale Domini” ban hành ngày 29/5/1969 có nói: “Không có lý do gì để thay đổi cách rước Lễ!”

Nguyên văn: “Le Souverain Pontife n’a pas pensé devoir changer la facon traditionelle de distribuer la Sainte Communion aux fidèles” et que “La Sainte Siège” exhorte vivement les Evêques, les Prêtres et les fidèles à respecter attentivement la loi toujours en vigueur et qui se trouve confirmer de nouveau…” (ĐTC không nghĩ đến việc thay đổi cách cho giáo dân rước Lễ như truyền thống từ trước đến nay và Tòa Thánh mạnh mẽ khuyến khích các Giám Mục, Linh Mục và giáo dân phải tôn trọng quy luật cho đến nay vẫn luôn được tuân giữ và được tái khẳng định) * Trong Huấn Thị “Inestabile Donum” Hồng Ân Vô Giá, ĐTC Phaolô VI cấm giáo dân cầm Mình Thánh Chúa trong tay!

4. ĐTCha Gioan 23: “Con không thể dùng tay đón lấy Chúa Giêsu Thánh Thể”.

 “Hỡi con, khi Thầy cả trân trọng đặt Mình Thánh Chúa vào lưỡi con và công bố: “Mình Thánh Chúa Kitô” và con thưa “Amen”. Có gì lạ không con? - Có, thật quan trọng, hỡi con! Khi công bố LỜI đó Thầy cả đã trao cho con: Lời Hóa Thành Nhục Thể và là Chất Con Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc nhân loại. Đồng thời trao con một sứ mệnh rao truyền Tin Mừng ấy bằng đời sống con và NÓI cho mọi người biết: Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa Làm Người, đã chết và phục sinh để cứu chuộc loài người và ban chính Mình Người làm lương thực để ăn và tin vào Người thì được cứu và trở nên con Thiên Chúa. Con nên nhớ: Thầy cả đặt Mình Thánh vào lưỡi con và bảo con rao truyền chân lý cứu độ ấy, chứ không bảo con làm ra Thánh Thể như các Ngài. Vì thế, con không thể dùng tay đón lấy Chúa Thánh Thể vì con không là Linh Mục để cử hành Thánh Lễ, làm ra Thánh Thể từ tấm bánh nhỏ nhoi vô vị kia!”. (Một dụng cụ thuộc Đạo Binh Hồn Nhỏ Việt Nam nghe được tiếng nói của ĐTC bằng trí năng, ngày 28/3/1996)

Vậy, do đâu có việc cho phép rước Lễ hai cách: hoặc trên lưỡi hoặc trên tay ?

1. Đọc qua 4 lý chứng trên đây, cả 4 Vị Giáo Hoàng hoặc trực tiếp khai mạc, điều hành, hoặc bế mạc và thi hành những giáo huấn của Thánh Công Đồng Vatican II, không có Vị nào cho phép thay đổi cách rước Lễ! Trong bài giảng tại Nhà thờ Đức Bà Cả nêu trên, ĐTCha GP II nói: “…tất cả những gì du nhập và truyền bá bởi người ngoài đều bị cấm…”. Vậy, người ngoài là ai?

Người Tin lành và các giáo phái Kitô khác đều lấy tay cầm bánh mì mà ăn vì lễ bẻ bánh của họ không như Thánh Lễ Cực Linh của người Công Giáo. Do đó, để đả phá Thánh Lễ của Đạo Công giáo, Hội kín Tam Điểm là một hội phản nghịch Đạo Thánh Chúa Giêsu thiết lập, trong “Kế đồ 33 điểm [3] nhằm triệt phá Thánh Lễ gởi các thành viên Tam Điểm”, đã ra lệnh cho họ (tức là những giáo sĩ cao cấp Công Giáo đã bí mật theo Tam Điểm và đang giữ chức cao trong GH Công Giáo [4]) là hãy bắt chước anh em Tin lành. Xin nêu lên một vài điểm trong 33 điểm ấy:

Điểm 6. Các bạn hãy khuyến khích giáo dân đừng quỳ gối khi rước Lễ. Hãy dạy các nữ tu đừng cho trẻ em chắp tay trước và sau khi rước Lễ... Trong nhà thờ, hãy dạy họ bỏ thói quen quỳ gối và bái gối. Hãy dẹp bỏ các bàn quỳ và ghế quỳ. Hãy giải thích cho họ hiểu rằng suốt Thánh Lễ phải đứng mà tuyên xưng đức tin [5].

Điểm 29. Hãy giao cho phụ nữ và các giáo dân tầm thường nhiệm vụ cho rước Lễ. Hãy cho rước Lễ trên tay như người Tin Lành, thay vì trên lưỡi. Hãy giải thích rằng Đức Kitô cũng đã làm như vậy [6] . Các bạn hãy lấy một vài Bánh Thánh để chúng ta dâng lễ đen ( la messe noire) trong các đền thờ của chúng ta [7].

2. Các ĐTCha không cho phép rước Lễ trên tay, vậy ai cho phép? 

[caption id="attachment_4292" align="aligncenter" width="315"] Đức Cha A. Bugnini[/caption]

a- Quả thật có một số Hội Đồng Giám Mục [8] địa phương, như Hà Lan, Pháp, Canađa…, xin Tòa Thánh được rước Lễ 2 cách, hoặc trên lưỡi hoặc trên tay, được nhượng bộ và được cho phép bởi Đức Cha A. Bugnini, Bộ Phụng Tự, chịu trách nhiệm về cải cách phụng vụ sau Công Đồng. Đức Cha Bugnini sau đó bị bắt quả tang, năm 1979, là hội viên Tam điểm, thành viên lô “Grand Orient” (Đại Đông phương), bị cách chức và đổi sang Iran. Từ đó rước Lễ trên tay tràn lan cho đến ngày nay mà cứ ngỡ là do cải cách Phụng vụ sau Công đồng, và cũng từ đó nảy sinh những đổi mới khác không được phép trong Phụng vụ.

b- Một phát minh của Hỏa Ngục:

* Quỷ Akabor là thiên thần bị truất khỏi ngai, ngày 14/8/1975, nói qua trung gian một người bị nó ám: “Tụi tao suy đi tính lại bể đầu nát óc là làm sao cho người ta rước Lễ trên tay nhỉ? Giờ đây tụi tao thành công rồi! Đúng ra mọi giáo dân phải rước Lễ trên lưỡi và tao phải nói rằng sẽ chẳng bao giờ có chuyện rước Lễ trên tay! Thế mà…-ĐTCha cho phép rước Lễ trên tay ư? –Không đâu! do chính các Hồng Y của Ngài!”.

* Quỷ Plutô, chúa tể vực thẳm bóng tối bị buộc nói rằng: “Chính Người Đàn Bà đầy quyền năng (Đức Maria) đã bắt buộc tao phải tiết lộ tất cả… Đứng và rước Lễ trên tay trong các nhà thờ (quỷ cười ranh mãnh) làm đẹp lòng tụi tao lắm, bởi vì đó là công việc của tụi tao mà! Đối với tụi tao, nhận biết điều đó quả là xấu hổ, việc đứng rước Lễ cũng trầm trọng gần như vậy. Trong khi những người không phải là Linh Mục mà cho rước Lễ, tụi tao đứng bên cạnh họ tụi tao thích thú lắm (tiếng kêu the thé)”.

c- Theo lệnh điều tra của ĐHY Carberry ở Saint-Louis (Mỹ) thì những người cổ vũ việc cho phép rước Lễ trên tay chính là các nữ tu, sư huynh, chủng sinh, Linh Mục, chứ không phải là giáo dân, trong khi HĐGM Hoa kỳ không cho phép rước Lễ trên tay!

d- Giáo dân mất đức tin, đưa tay cầm và ăn Mình Thánh Chúa (MTC) mà không suy nghĩ gì, không biết phân biệt đó là Thân Thể Chúa (1Cr 11:29), do 3 nguyên nhân:

1) sự sai lầm được truyền bá khắp nơi, trên tòa giảng và trong các chủng viện;


2) không tuân phục Huấn quyền của Giáo hội, cụ thể là ĐTCha;


3) gương mù gương xấu của một số chủ chăn.




3. Người tín hữu có đức tin thật và lòng yêu mến thật hãy quỳ và rước Lễ trên lưỡi, vì đó là chuẩn mực và là truyền thống thờ phượng Thiên Chúa cao trọng nhất của Hội Thánh. ĐTCha Bênêdictô XVI cho phép cử hành rộng rãi Thánh Lễ latinh với mục đích duy trì tính chuẩn mực của Phụng tự và kỷ luật Bí Tích. Nếu bạn rước Lễ trên tay, bàn tay bạn đã dính chạm đến Mình Thánh Chúa, một số vụn Bánh Thánh rơi xuống đất, sau đó tay bạn cầm các vật khác khi vào nhà vệ sinh chẳng hạn, và rửa tay trong bồn nước chảy xuống cống rãnh. Như vậy, bạn có cảm thấy Mình Thánh Chúa đi từ bàn tay bạn đến cống rãnh không? Chưa nói đến những sự phạm thánh nghiêm trọng khác. Tại sao và để làm gì mà Chúa bảo 12 Tông đồ thu lượm được 12 giỏ bánh vụn sau phép lạ hoá bánh ra nhiều? (Lc 9:17). Tại sao theo truyền thống, chú giúp lễ hứng Bánh thánh vụn và Vị Chủ tế phải tráng chén cẩn thận làm chi vậy? Nếu rước Lễ trên tay, đức tin và lòng mến của bạn đối với Chúa Giêsu Vua Tình Yêu có gia tăng hay sa sút? Hãy chọn sự thánh thiện vì Thiên Chúa là Đấng Chí Thiện, ngàn trùng Chí Thánh, cả Triều Thần Thánh đều phải kính sợ!

Như 5 cô khôn ngoan, ước gì các con chiên bé nhỏ tận hiến cho Mẹ Maria Vô Nhiễm, vẫn còn giữ vững đức tin và lòng mến trong ngày đón Chúa Giêsu quang lâm giữa dòng thời gian. Chúng ta hãy yêu thương, không xét đoán, cầu nguyện và hy sinh nhiều cho các Linh Mục, vì chính các ngài là những người con ưu tuyển của Đức Mẹ dẫn đoàn chiên bé nhỏ vào dự Tiệc Nước Trời.

 

 Tham khảo:

1. Tóm tắt tài liệu do Phong Trào Maria: -Rước Lễ trên tay là bất phục tùng ĐTCha. -Tờ trình đề ngày 22/10/2000 của Lm Bernard Ng-v-Đệ, Gp MỹTho, gởi ĐHY P. Phạm Đình Tụng về việc cúi mình hoặc bái gối trước Thánh Thể và xin chấm dứt việc thử nghiệm cho rước Lễ trên tay.

2. Thông Điệp Ecclesia De Eucharistia: “Đừng tầm thường hóa sự “thân tình” trong khi dự bữa tiệc Thánh Thể (điều 48). “Mầu nhiệm Thánh Thể quá cao trọng đến nỗi không ai được cảm thấy tự do hành động cách tùy tiện và xem nhẹ tính thánh thiêng và chiều kích phổ quát của nó” (điều 52)

3. Thông điệp La Salette: “Tội lỗi của những người tận hiến cho Chúa vọng đến tận trời cao và đòi báo oán” (lời tiên báo số 2) và các số 8,13,14.

4. Chúa nói: “Đàn bà không được lên bàn thánh vì họ có kinh nguyệt!”. Xem “Giấc mơ lạ thường” tại www.memaria.org, mục Cảm Nghiệm Vinh Danh Chúa số 1728 CN 178 tháng 8/2006.

5. Bất cứ người Công Giáo nào, dù là Linh Mục hay Phó tế hoặc giáo dân thuộc thành phần tín hữu của Chúa Kitô, đều có quyền trình báo nhận định của mình về việc lạm dụng phụng vụ cho vị Giám Mục giáo phận hay cho Vị Bản Quyền xứng hợp tương đương với ngài theo luật, hoặc cho Tòa Thánh thi hành quyền hạn của Đức Giáo Hoàng Rôma (290) (Điều 184) (Trích Bản Hướng Dẫn Thi Hành Phụng vụ Redemptionis Sacramentum, chương VIII, do cựu Tổng Trưởng Bộ Phụng Tự là ĐHY F. Arinzé ban hành ngày 23/4/2004, trong đó vẫn còn nhượng bộ cho các Giám Mục có quyền cho rước Lễ 2 cách tại điểm 92 của Bản Hướng Dẫn. Điểm 92 này ngẩu nhiên trùng hợp với điểm 29 của Tam Điểm nêu trên!). Nhưng hiện nay, tân Tổng Trưởng là ĐTGM Albert Malcolm Ranjith lại tuyên bố cần phải xét lại và hủy bỏ hẳn tập tục này đi, như ở trên.

Kỷ niệm 5 năm Thông Điệp Ecclesia De Eucharistia ĐTC GP II ban hành ngày Thứ Năm Tuần Thánh 17/4/2003-2008

---

[1] Nếu để ý quan sát ai cũng nhận thấy trong các Thánh Lễ trực tiếp truyền hình do ĐTCha Bênêđictô XVI chủ tế, mọi người lên rước Lễ do chính ĐTC trao đều rước Lễ trên lưỡi, trong khi đó Linh Mục trao thì có số ít giáo dân rước Lễ trên tay. Trước cửa Đền Thờ Thánh Phêrô ở Rôma có gắn bảng cấm rước Lễ trên tay.

[2] Phải chăng lời tuyên bố nêu trên của ĐTGM Bộ Trưởng Bộ Phụng Tự Ranjith là tiếng chuông cảnh báo đúng thời điểm lúc này?

[3] Huấn thị 33 điểm của Tổng Thủ Lãnh Tam Điểm gởi các Giám mục Công Giáo là thành viên của Tam Điểm, (được Công Đồng Vatican II đưa ra ánh sáng). * Ấn bản của De La Croix B.P. 18, 35430, Chateauneuf (Pháp)* Một đề mục của Tập san “TÉOLOGIA” bằng tiếng Ý được đăng lại trong tập san Tân Phúc Âm hóa, số 14, tháng 3&4/1998.

[4] Ông M. BAROIN, Tổng Thủ lãnh Tam Điểm có tuyên bố vào thời điểm năm 1978: “Giữa chúng ta ở Đại Đông phương có 64 vị Giám Mục người Pháp là Tam Điểm”. Còn bây giờ, có bao nhiêu GM trên toàn thế giới đã là thành viên kín của Tam Điểm, hoặc nhiễm tinh thần Tam Điểm?

[5] “Ta lấy chính Danh Ta mà thề, tự miệng Ta xuất ra lời chân thật này là: Trước mặt Ta mọi gối phải quỳ lạy, mọi miệng lưỡi sẽ tuyên thệ…” (Is 45:23)

 “Khi vừa nghe Danh Thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải quỳ xuống bái lạy!” (Philiphê 2:10). Chỉ nghe Danh Chúa Giêsu thôi, chưa nói đến Mình Thánh Chúa! Có những nhà thờ, chẳng hạn nhà thờ Chính toà Đức Bà Sàigòn, nhà thờ Vườn Soài, Nt Lái thiêu… bỏ tất cả các ghế quỳ. Ai không quỳ gối nghe đọc thánh-chỉ của vua là phạm tội phản nghịch khi quân. Không quỳ gối thờ lạy Thánh Thể có mắc tội phản nghịch chối đạo không? (xem thư thứ 2 Thêxalonica 2:3-4 nói về những gì xảy ra trước ngày Chúa quang lâm)

[6] Các Môn đệ nhận lấy Bánh từ tay Chúa Giêsu trao cho. Vị Chủ tế Thánh Lễ, dù là Giáo Hoàng, cũng phải hiểu là mình đón nhận Bánh Thánh từ Chúa trao ban. Chính Chúa Giêsu mới là Chủ Tế đích thật.

[7] Giao cho phụ nữ và giáo dân tầm thường nhiệm vụ cho rước Lễ với mục đích tầm thường hóa Thánh Thể, cho nên đa số giáo dân nam thường có tâm lý ngại ngùng khi rước Lễ trên lưỡi từ tay người nữ giáo dân và ngược lại. Chính bản thân các thừa tác viên Thánh Thể ngoại lệ cho rước Lễ lại ăn mặc thường phục (bộ complet cà vạt cũng là áo thường dân chứ chưa phải là lễ phục phục vụ bàn thánh như các chú giúp lễ), từ hàng ghế giáo dân tiến lên cung thánh mở cửa Nhà Tạm, kiệu Thánh Thể từ Nhà Tạm đến bàn thờ, và chính họ rước Lễ đứng và trên tay, ngay trên cung thánh, nêu gương trước mặt cộng đoàn, một cách nào đó đã vô tình đi đúng kế đồ của Tam Điểm! Họ không rửa tay và lau bằng khăn thánh trước khi rời khỏi cung thánh.

Bàn thờ của Tam Điểm là một cô gái lõa thể.

* Đức Cha Gianfranco Girotti, Đại diện Tòa Ân Giải Tối Cao, trình bày quan điểm của Giáo Hội về Tam Điểm: “Tín hữu nào gia nhập các hội kín Tam Điểm thì rơi vào trong tình trạng mắc lỗi nghiêm trọng và không thể lãnh nhận Mình Thánh Chúa….”. (VietcatholicNews 04/3/2007)

* ĐTC Benedictô XVI báo động về hậu quả tai hại của trào lưu tục hóa. (VietCatholic News 8/3/2008)

[8] “HĐGM sẽ không bao giờ tồn tại nếu không hợp nhất với Giáo Hoàng là Đầu. Cũng không thể thực hiện điều gì mà không có ý kiến thuận của ĐTCha” (Lumen Gentium).

-Phong Trần-


Trao ban


Một thương gia đã chia sẻ kinh nghiệm như sau: Lúc nhỏ, trí khôn tôi kém cỏi đến độ năm thứ ba tiểu học tôi đã đội sổ, thứ hạng này đeo đuổi tôi mãi cho đến khi bước vào trung học.

Nhưng một ngày nọ, một biến cố đã thay đổi cuộc sống của tôi: năm đó tôi vừa bước vào trung học, nhân một lớp học nhảy, cô giáo của tôi đã mời người chị của bà đến tham dự. Vừa bước vào lớp nhảy, cô giáo đã hướng dẫn người chị đi thẳng đến phía tôi, cô đặt tay trên vai tôi và giới thiệu:

- Đây là cậu học sinh có nụ cười dễ thương nhất.

Cô đã không nói: "Đây là cậu học sinh học dở nhất lớp, nó dốt lắm” .v.v…mà lại nó: "Đây là cậu học sinh có nụ cười dễ thương nhất”.

Hôm đó, ra khỏi lớp tôi thấy mình như cao hơn một chút, tôi vừa đi vừa nhảy vừa ca hát và tự tin. Từ đó, tôi đã bắt đầu đạt được những thành tích khả quan hơn. Tôi đã tốt nghiệp cao học, làm giáo sư và nay đang hăng say trong lãnh vực kinh doanh. Tất cả đều bắt đầu với cô giáo dạy nhảy ấy. Cô đã cho tôi thấy rằng tôi cũng là người có giá trị. Tôi cũng có một cái gì đó để trao ban cho người khác.

(Sưu tầm)